- Lý luận - Phê bình
- Trương Nam Hương – Thi sĩ tuổi Mèo với những câu thơ đẹp như nỗi buồn
Trương Nam Hương – Thi sĩ tuổi Mèo với những câu thơ đẹp như nỗi buồn
Từ Hải Phòng, Hà Nội đến Sài Gòn, từ miền quê cha xứ Huế đến miền quê mẹ Kinh Bắc, Trương Nam Hương mang theo vào thơ những nỗi nhớ không bao giờ cũ. Thơ anh tài hoa mà đằm thắm, đau đáu với mẹ cha, quê nhà và những ân tình không thể nguôi quên. Nhân sinh nhật lần thứ 63 của nhà thơ sinh năm 63 (23/10/1963 – 23/10/2026), Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của nhà văn Lê Huy Hòa như một món quà thân tình gửi đến anh – người thi sĩ vẫn bền bỉ gìn giữ những miền xanh trong trẻo của tâm hồn.

Nhà thơ Trương Nam Hương
LÊ HUY HÒA
Tôi muốn mượn lời giới thiệu của cố nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trong bài viết về Trương Nam Hương, đăng trên báo Văn nghệ đầu những năm 90 của thế kỉ trước, khi tập thơ Khúc hát người xa xứ (NXB Trẻ 1990) của anh nhận Giải thưởng danh giá của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991, cùng với các nhà văn, nhà thơ: Bảo Ninh, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Lê Thị Mây. Năm ấy Trương Nam Hương mới vừa 28 tuổi và sau đó trở thành hội viên trẻ nhất Hội Nhà văn Việt Nam lúc bấy giờ. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã viết về anh:
“Trương Nam Hương với những câu thơ tài hoa, anh đã mượn nó để hát rong về nỗi buồn trong trẻo của mình: Ruổi rong khắp bốn phương trời / Câu thơ hành khất theo người hành hương / Ta gom nhặt giữa đời thường / Nỗi đau của mẹ, nỗi buồn của cha. (Câu thơ ngày về - 1988)”
Có những nhà thơ, đọc thơ họ, ta gặp một thế giới quan. Có những nhà thơ, ta gặp một kỹ thuật điêu luyện. Nhưng với Trương Nam Hương, ta gặp một ân tình. Ân tình ấy là thương nhớ mênh mang, da diết, trải dài qua nhiều miền đất nước. Ông là người lưu giữ hồn cốt của những miền ký ức, là nhà thơ của những “miền xanh” trong trẻo và thẳm sâu trong tâm thức Việt.
1.
Sinh năm 1963 tại Hải Phòng, tuổi thơ gắn bó với Hà Nội, rồi theo gia đình vào TP. Hồ Chí Minh từ năm 12 tuổi, hành trình cuộc đời Trương Nam Hương tựa như một cuộc di dân trong chính lòng đất nước. Ông mang trong mình dòng máu của nhiều vùng văn hóa: quê cha Huế mộng mơ, quê mẹ Bắc Ninh với những làn điệu quan họ, lớn lên ở Hà Nội cổ kính và định cư tại Sài Gòn năng động. Sự pha trộn ấy không hề làm ông mất đi hồn cốt cội nguồn, ngược lại, nó tạo nên một bản sắc rất riêng: một tâm hồn đa cảm, đa mang, luôn khắc khoải về cuộc đời, về đất nước.
Trong tôi có chút sâu đằm
Của Kinh Bắc với thâm trầm Cố đô
Sông Hồng hắt đỏ lên thơ
Tôi buông lục bát xanh bờ Hương Giang (Câu thơ ngày về).
Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, con đường văn chương của Trương Nam Hương bắt đầu sớm và rực rỡ. Ngay từ tập thơ đầu tay “Khúc hát người xa xứ” (1990), giọng thơ ông đã gây ấn tượng mạnh với sự chân thành, sâu lắng và day dứt. Năm 1991, ông được vinh danh với Giải thưởng Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam – một sự ghi nhận hiếm có cho một cây bút trẻ. Năm 1992 ông được bạn đọc báo Người Lao Động bình chọn là “Nhà thơ được yêu thích nhất”. Kể từ đó, sự nghiệp của ông là một hành trình sáng tạo bền bỉ với 12 tập thơ và văn xuôi, để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc .
Nhưng có lẽ, điều làm nên cốt cách thơ Trương Nam Hương không phải là những giải thưởng, mà là những trải nghiệm đời sống đã thấm sâu vào từng câu chữ. Tuổi thơ chứng kiến đạn bom rồi hòa bình, những năm tháng “mũ rơm, lọ mực, nếp xôi đến trường” ở Hà Nội, rồi cuộc sống mưu sinh nơi đất khách. Tất cả đã hun đúc nên một tâm hồn thơ “nặng nghĩa, nặng tình”, luôn hướng về nguồn cội với một tình yêu thiết tha và một nỗi niềm tiếc nuối , bâng khuâng .
2.
Đọc thơ Trương Nam Hương, người ta dễ dàng nhận ra một thế giới nghệ thuật được kiến tạo từ hai trụ cột chính: hoài niệm và tình thân. Ông không mải mê tìm kiếm cái mới lạ về hình thức, không “làm xiếc chữ” hay cầu kỳ về thi pháp. Sức mạnh của thơ ông nằm ở sự dung dị, chân thành và giàu cảm xúc. Nhà thơ - Nhà phê bình Bùi Văn Kha gọi ông là “nhà thơ trữ tình cấu trúc của thơ Việt Nam thời kỳ đổi mới”. Cấu trúc ấy không phải là sự sắp xếp ngôn từ kỳ lạ, mà là cách ông xây dựng cảm xúc, dựng lên những câu chuyện đầy ám ảnh trong lòng người đọc.
Nếu phải tìm một điểm tựa lớn nhất trong thơ Trương Nam Hương, đó chắc chắn là hình ảnh người mẹ. Danh từ “mẹ” xuất hiện trong rất nhiều bài thơ của ông, trở thành một “tôn giáo” thiêng liêng. Mẹ trong thơ ông không phải là hình ảnh ước lệ, mà hiện lên thật gần gũi,bao dung, nghĩ về mẹ, ông luôn thấy mình có lỗi:
Giờ biết lấy cớ gì con dối mẹ
Quan họ quên , rơi dọc tháng ngày
Sợi tóc rụng như lá vườn lặng lẽ
Mẹ không còn và mắt con cay.
(Nhớ mẹ và làng Quan họ)
Mẹ là người cho ông “của hồi môn là câu hát” để mang theo làm hành trang vào đời (Nhớ mẹ và làng quan họ). Mẹ là người “thầm lặng sống bao dung”, “dắt lúa lội qua mùa Đông thoi thóp” (Với sông Hồng). Và trong nỗi đau mất mẹ, thơ ông cất lên nhói buốt:
Mẹ giờ hoá nén hương thơm đỏ
Thương lặng nhìn con chẳng rụng tàn
Gió thắt se lòng, lo mẹ nặng
Cõi về cong vít cả thân nhang!
Bên cạnh mẹ, hình ảnh người cha cũng in đậm trong thơ Trương Nam Hương. Ông viết về cha với một sự kính trọng, thương yêu và nỗi tiếc thương sâu nặng khi “ngọn núi” che chở của đời mình không còn nữa:
Tết này nhà lại vắng cha
Thuốc không thơm nữa,ấm trà bớt ngon
Cha đi về phía vuông tròn
Trần gian lấm láp mãi còn nắng mưa .
… Rưng rưng tàn thuốc quặn vòng
Thương cha khói cũng nặng lòng không bay (Dâng cha )
Bài thơ “Lời thưa” cũng là một khúc tưởng niệm cha đầy xúc động, nơi hình ảnh người cha hòa quyện với dòng sông Hương:
Trong cha có một câu hò
Trong câu hò có con đò sông Hương
Trong sông Hương có nỗi buồn
Trong thăm thẳm có vô thường thi ca…
Dòng sông ở đây không chỉ là sông Hương, mà còn là sông Hồng, sông Cầu… – những dòng sông của ký ức, của quê hương, gắn liền với đời mẹ, đời cha. Sông trở thành biểu tượng cho nguồn cội, cho sự chở che. Những dòng sông ấy luôn réo gọi thi sĩ trở về:
Đêm ấy sông Cầu thao thiết gió
Anh về hôn rét một câu thơ
(Về thăm quan họ)
Trong bài “Lỗi hẹn sông Cầu”, ta bắt gặp những câu thơ thổn thức, tài hoa :
Em tiễn cái nhìn đau cả gió
Chiều chớp đầy anh mắt lá răm.
Ký ức tuổi thơ và Hà Nội – “bệ phóng” thi ca
Dù xa Hà Nội gần 50 năm, Hà Nộivẫn là một “bệ phóng” cho thi ca Trương Nam Hương bay lên. Ông có hàng trăm bài thơ viết về Hà Nội, và như ông tâm sự: “Hà Nội lưu giữ những kỷ niệm đẹp, buồn và trong trẻo suốt tuổi thơ tôi” :
... Một thời Hà Nội lo toan
Gạo ngô thì thiếu, hoa xoan lại thừa .
Một thời, ôi một thời xưa
Áo phong phanh gió bốn mùa. Và tôi
Tạ ơn Hà Nội trọn đời
Nuôi tôi thương khó. Tôi thời trong veo…
(Hà Nội một thời)
Đó là Hà Nội của hoa sữa thơm nồng, của “phố cũ rêu phong”, của những buổi chiều “sương cong mái phố, khói nghiêng mặt hồ”. Hà Nội đã trở thành một phần máu thịt trong tâm hồn ông, đến nỗi dù có những bài thơ không trực tiếp viết về Hà Nội, thì bóng dáng Hà Nội vẫn “ẩn hiện” trong thơ ông. Mỗi lần trở lại Hà Nội, lòng ông dào dạt nỗi bâng khuâng:
Anh ra Đền Ngọc Sơn ngồi
Lá si lựa chỗ không người để gieo
(Viết ở Hồ Gươm)
3.
Trương Nam Hương không ồn ào cách tân, không theo đuổi những trường phái hay chủ nghĩa mới mẻ. Sự cách tân của ông nằm ở chính sự dung dị và chiều sâu cảm xúc. Ông làm mới thơ bằng cách đào sâu vào những đề tài tưởng chừng đã cũ: tình mẹ, tình cha, quê hương, đất nước… Nhưng dưới ngòi bút của ông, chúng trở nên mới mẻ, lạ lẫm và day dứt khôn nguôi. Và đây là bài thơ ông nhắc nhở con trước khi cầm bút:
Khi con viết về giang sơn gấm vóc
Nhớ đừng quên có hạt lúa nhọc nhằn
Khi con viết về lớn lao Tổ quốc
Nhớ có phần vĩ đại của Nhân dân! (Nói với con)
Ông được mệnh danh là “thi sĩ cầm tinh con mèo” (sinh năm Quý Mão 1963). Và có lẽ, cái tính cách của “con mèo” ấy đã thấm vào thơ ông: tinh tế, nhạy cảm, giàu trắc ẩn nhưng luôn giữ một vẻ đẹp sang trọng, lịch lãm:
Anh ba sáu tuổi mèo tam thể
Thả bóng ban trưa, bắt bóng chiều.
Câu thơ đêm thức ngày thiu ngủ
Thích vùi trấu bếp của tình yêu!
(Viết tặng mình năm 36 tuổi)
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều từng ví von: “Tôi cầm tinh con gà suốt ngày lam lũ bới đất kiếm sống, Trương Nam Hương cầm tinh con Mèo – chú mèo thơ đài các trong ngôi nhà đẹp”.
Thơ ông “đa tầng, đa âm, đa sắc”. Có khi là những bài lục bát truyền thống mượt mà, sâu lắng. Đặc biệt ông có rất nhiều những bài thơ ba câu, tứ chặt, cô đọng như: Cổ tích của bà, Hoa bất tử, Lỗi hẹn sông Cầu,Thoáng nghĩ về cỏ:
Cao hơn mọi khổ đau, cao hơn nhiều hạnh phúc
Cỏ biếc như niềm vui, cỏ xanh như nước mắt
Vẫn nhận mình thấp bé - thản nhiên xanh
Và cũng bằng thể thơ này ông chiêm nghiệm:
Đi qua năm tháng gập ghềnh dại khôn
Niềm vui bong bóng hào quang chập chờn
Mảnh chai chìm khuất nhói vào cô đơn
(Ghi vội trên đường)
Ông còn làm mới đồng dao, biến chúng thành những bài thơ hiện đại nhưng vẫn man mác hồn xưa:
Dây bí thương nhau không cần dạm ngõ
Tơ hồng trốn mẹ qua cầu ca dao.
Trương Nam Hương có những sáng tạo độc đáo, nhiều luận văn Thạc sĩ đã viết về tu từ trong thơ ông. Khi nhìn lại các nhân vật văn học cổ từ một góc độ mới. Bài “Tâm sự nàng Thúy Vân” là một ví dụ xuất sắc. Ông không viết về Thúy Kiều, mà viết về Thúy Vân – người ở lại, người “thế thân” – với một sự đồng cảm sâu sắc về thân phận:
Lấy người yêu chị làm chồng
Đời em thể thắt một vòng oan khiên…
Còn đây là những lời tâm tình của Thuý Vân với chị - Thuý Kiều :
Chị nhiều hờn, giận, yêu, thương.
Vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò.
Em chưa được thế bao giờ
Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim!
Bài thơ không chỉ là sự “đổi vai chính phụ” mà còn là một cách nhìn nhân văn, hiện đại về số phận người phụ nữ.
4.
Nói về Trương Nam Hương, không thể không nói đến một nhân cách văn học đáng trọng. Trong ký ức của nhà văn Đoàn Tuấn, ông là người bạn vong niên, nhiệt tình và hết lòng vì đồng nghiệp: “Dù thức đêm làm việc đến gần 4 giờ sáng, Trương Nam Hương vẫn rủ bạn ra quán ăn khuya, giọng nói vẫn trong trẻo và sôi nổi kể chuyện văn chương”.
Ông có những tình bạn đẹp, lâu bền với các nhà thơ Lê Minh Quốc, Phạm Khải, Vũ Xuân Hương… Giai thoại về kỳ thi tiếng Nga cùng Lê Minh Quốc – khi cả hai thay vì trả lời câu hỏi thì đọc bản dịch thơ Puskin bằng lục bát – đã trở thành một kỷ niệm đẹp về một thời sinh viên lãng mạn tài hoa. Ông viết tặng bạn những vần thơ chân tình:
Rót rượu tràn ly mừng bạn đến
Ngày xưa Nguyễn Bính cỡ đô mình
Nâng ly, bạn dốc trời xanh cạn
Quơ đũa khà say... gắp tiếng chim
(Thơ với bạn thơ)
Là một người con hiếu thảo, dù xa quê, ông vẫn luôn nhớ về bà ngoại, về người dì ở phố Chùa Bộc (Hà Nội). Hình ảnh người bà trong thơ ông hiện lên thật đẹp, thật thiêng liêng trong bài “Thời nắng xanh”:
Bà tựa lưng vào nguồn cội lặng thinh
Gầy như khói trên trang thờ Tiên tổ…
Tôi như thể chú mèo dim dím mắt
Trong lòng bà tro trấu thật bình yên
Trong đời sống, ông giữ một tâm thế nhẹ nhàng, “không màng danh lợi phù du”. Ông viết trong bài “Dặn lòng”:
Đứng ngoài các cuộc bon chen
Lắng trong nước mắt muộn phiền nhân gian
Chẳng quen khoanh dạ mặt bàn
Về thưa ghế đẩu cơ hàn mẹ cho!
Thơ với ông là lẽ sống, thái độ sống . Mỗi sáng, ông dậy thật sớm, tưới giàn hoa lan và vườn cây kiểng, rồi thư thả với ly trà ngon, quyển sổ và cây bút để ghi lại những cảm xúc thơ “tươi ròng” vừa chợt đến. Ông tâm sự: “Một bài thơ viết xong, có lúc cũng câu đó nhưng mình đưa ra nhiều ‘phương án’ khác nhau, để cuối cùng chọn lấy câu, chữ nào đắc ý nhất”. Đó chính là sự lao động nghệ thuật nghiêm cẩn của một người thơ chân chính.
5
Ở tuổi “lục thập hoa giáp”, Trương Nam Hương vẫn không ngừng sáng tạo. Tập thơ mới nhất của ông, “Thời nắng xanh và những bài thơ khác” (2022), là minh chứng cho một sức viết dồi dào và một tâm hồn thơ luôn tươi trẻ. Ở đó, ta vẫn gặp một Trương Nam Hương của hoài niệm, của tình thân, nhưng cũng gặp một Trương Nam Hương trăn trở với thời cuộc, với thân phận con người.
Thơ ông đã vượt ra khỏi ranh giới của cảm xúc cá nhân, chạm đến những vấn đề nhân sinh, đạo lý. Ông viết về danh nhân văn hóa như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đồ Chiểu… với sự kính trọng và những chiêm nghiệm sâu sắc. Với thi hào Nguyễn Du, ông viết:
Từ hội Đạp thanh đến Tiền đường nước mắt
Hai trăm năm sóng cỏ réo xanh về
Không vớt nổi Thuý Kiều qua mực bút
Nguyễn Du buồn sợi tóc nhớm hoa lê.
Và bài “Đồ Chiểu” chỉ vỏn vẹn 4 câu mà nói được cốt cách một đời người:
Mắt dẫu đui lòa, tâm dẫn bước
Con thuyền đạo nghĩa chở thơ theo
Thương dân trĩu khẳm thuyền yêu nước
Cụ hóa Vân Tiên đứng mũi chèo!
Di sản lớn nhất mà Trương Nam Hương để lại cho đời, có lẽ là hình ảnh một nhà thơ suốt đời gìn giữ những giá trị tinh thần của dân tộc. Ông là cây cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa truyền thống và hiện đại, giữa các vùng miền văn hóa. Thơ ông, như lời nhận xét của một nhà phê bình, giống như “mâm cỗ dâng thần linh thời hiện đại, tiếp bước ngàn xưa bằng hiện thực hôm nay”.
Khúc vĩ thanh
Trương Nam Hương – người thi sĩ ấy, sống và viết tại Sài Gòn, vẫn giữ giọng Bắc, vẫn thích ăn cơm Bắc, và vẫn uống cà phê theo phong cách Hà Nội. Mỗi độ xuân về, lòng ông lại nhớ mẹ, nhớ quê:
Càng nhớ mẹ những ngày giáp Tết
Khói mùa xưa đọng mắt cay xè
Con ra phố một mình đón rét
Kiếm một niềm an ủi xa quê
(Nhớ mẹ chiều cuối năm)
Nhà ông chưa Tết nào thiếu cành đào Nhật Tân bên cạnh chậu mai vàng Gò Vấp. Sự hòa quyện ấy cũng chính là bản chất con người và thơ ông: một tâm hồn đa diện nhưng thống nhất trong một tình yêu tha thiết với quê hương, con người và tiếng Việt :
Như suối nguồn trong vắt
Tiếng chim trời đa âm
Tiếng Việt ơi tiếng Việt
Bốn ngàn năm bổng trầm
(Tiếng Việt ơi)
Ông đã và đang sống một đời thơ trọn vẹn, như lời ông từng tâm niệm: “Chính sự dung dị, giàu cảm xúc, rưng rức nỗi người, mới làm tròn sứ mệnh của thi ca”. Và với những gì đã cống hiến, Trương Nam Hương xứng đáng là một trong những nhà thơ tiêu biểu, “trong trẻo những miền xanh”, mãi in dấu trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ.