TIN TỨC

Bàn tay của Chúa Trời…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-12-23 18:28:16
mail facebook google pos stwis
1965 lượt xem

Truyện ký của LÊ THANH HUỆ

Bàn tay của Chúa Trời (Đấng tạo hóa, Thượng đế, ông Trời...), là bức ảnh của tác giả Lê Đông chụp được vào ngày sinh nhật thứ 73, sau 53 năm cầm máy và 3 lần bấm máy cuối cùng của cuộn phim...

Chiều thứ sáu ngày 08/8/2014; trời thu Sài Gòn thăm thẳm xanh. Sau một ngày lang thang chụp các bức ảnh, tác giả Lê Đông chỉ còn lại mấy tấm phim cuối cùng trong cuốn phim nhựa màu Kodak (Color 35mm Negative Film); lúc đó, bước chân vô định đưa ông về Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn.

Một đám mây nhỏ bay đến, dừng lại, nhanh chóng tản ra, càng lúc càng giống hình bàn tay giữa bầu trời xanh thẳm. Nghệ sỹ Lê Đông quỳ xuống, lết trên nền đất đầy phân chim bồ câu. Xung quanh ông là du khách nước ngoài và người Việt. Một cụ bà nhắc nhở: “Dơ lắm! Ông ơi...”. Ông kêu lớn:

- Các bạn đừng bỏ qua, đấy là bàn tay Chúa Trời! - Ông nhắc lại bằng tiếng Trung Hoa, và bằng tiếng Pháp - La main du Dieu!

Khi đám mây đã nằm gọn trong phần trên của ống kính, tưởng như chạm vào 2 đỉnh tháp, ông bấm máy liên tục đến lần thứ 3. Hết phim; đám mây tản ra biến vào hoàng hôn.

Ông lên xe Honda chạy trong mơ đến Minilab Bình Minh, bảo Hà:

- Mầy để tao đi đón con, hoặc mầy đưa chìa khóa cho tao rửa ảnh...


Tác giả Lê Đông giới thiệu hoàn cảnh ra đời tác phẩm “Bàn tay của Chúa Trời” – Ảnh Lê Thanh Huệ.

Hà vào ngay phòng Lab tráng ảnh. Đến 7 giờ tối, những bức ảnh rửa xong và tấm ảnh “Bàn tay của Chúa Trời” cho thấy thời khắc chụp nằm trên đồng hồ nhà thờ: đúng 5 giờ 15 phút.

Ông cầm bức ảnh (20x30)cm vừa đi vừa ngắm. Chủ tiệm gọi ông quay lại lấy xe máy để ở tiệm. Tay trái khư khư giữ tấm hình, ông chạy xe máy về nhà trong mơ.

Ông cho biết, tiệm ảnh phóng lớn bức hình, đặt khung ảnh bằng gỗ Cẩm lai gửi tặng Tòa thánh Vatican...

Bàn tay của Chúa Trời - Tác giả Lê Đông chụp lúc 5:15PM ngày 08/8/2014.

*

Cậu bé Lê Đông sinh ngày 08/8/1941 tại quê: xã Tân Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre; con của Thiếu tá Lê Văn Bài, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307. Trong nghĩa trang Liệt sỹ tỉnh bến Tre có chục ngôi mộ quây quần bên nhau có chung tên gọi “Bộ đội Ba Bài”.

Ông Nội Lê Văn Vê bắt được bé Đông bỏ học, theo bạn bè đá banh. Lê Đông nằm trên nền nhà bằng đất sét nện, tụt quần lòi mông; nhịp nhịp cây roi ông quát:

- Tao nghèo, chịu khổ để cho tụi bây đi học là học cho tụi bây, học cả cho tao – bé Đông sợ đau khóc rống lên, ông vẫn cương quyết – Tao đánh là để tụi bây biết, làm người ai cũng như nhau: có công được khen, có tội phải trừng...

*

Năm 1954, Lê Đông theo cha tập kết. Ba Bài sức yếu, không được phân công trở về Nam chiến đấu; ông làm phó ty thủy sản tỉnh Quảng Ninh.

Một sáng mùa hè, nhóm cán bộ tình báo đến nhà. Họ khéo léo bảo Lê Đông tìm nơi khác chơi để người lớn làm việc. Ông Ba Bài xua tay: “Kệ nhỏ, các đồng chí cứ làm việc bình thường đi”. Họ hỏi ông thời học trò thân với ai nhất. Ông thật thà:

- Có 2 người bạn học thủa bé, một người giờ là đại tá, tỉnh trưởng Bến Tre và người kia là Trung tá dưới quyền. Tụi tôi thường trốn học rủ nhau xuống bờ sông Cửu Long hái quả bần chấm muối ớt ăn với nhau. Tôi theo cách mạng. Do hoàn cảnh xui khiến, tụi nó đi vô hàng ngũ địch, làm sỹ quan – Ông dừng lại một lúc, giọng trầm xuống – Tụi nó vẫn thương tôi nên rất tốt với bố đẻ tôi – Ông nghiêm giọng khi thấy các sỹ quan tình báo liếc mắt nhìn nhau, nói tiếp - Ở thời nào, theo phe nào, những người giỏi luôn trung thực, nghĩa tình, thủy chung...

Họ chụp ảnh ông Ba Bài, đưa ông đọc lá thư đánh máy, nhờ ông chép lại, ký tên. Ông chăm chú đọc xong, thẳng thắn:

- Tụi bây biểu tao chép lại, ký tên, đúng nét chữ, đúng chữ ký nhưng tụi nó đọc, biết ngay không phải do tao viết. Trong thư nhiều đoạn chia phe phái, không hợp với tình cảm của chúng tao. Đại để tao tính viết vài câu, tao đọc, tụi bây nghe, thấy được không – Ông đi đi lại lại và đọc to:

“Tao ở tỉnh Quảng Ninh, sức xuống, gác súng, nhưng biết tụi bây dù thăng tiến, vẫn luôn ghé thăm ông già tao, giúp đỡ ổng... Tao viết mấy chữ để hai đứa biết tao nhớ tụi bây.

 Bây giờ, do thời cuộc, tụi mình, ba đứa, hai phương; lúc nào tao cũng nhớ tụi bây, tình bạn tụi mình khi đói, khi no, tao mang theo đến chết. Nhưng mà quê hương ruột thịt của mình bao giờ cũng là trên hết.

Tao sẵn lòng chết cho quê hương tụi mình. Tao muốn tụi mình để lại chút tiếng thơm đặng sau khi chết, quê hương còn nhớ đến tụi mình...”.

Những lời đó khắc vào lòng của cậu bé Đông, phải trung thực, nghĩa tình, thủy chung, rồi mới hết lòng vì quê hương đất nước, cũng là phần đầu bài học chân, thiện...

*

Năm 1961, Lê Đông được Nhà nước cử đi học ngôn ngữ học tại trường đại học Sophia. Trong công viên cạnh trường, anh loay hoay bấm máy ảnh chụp trộm cô bé tầm tuổi trăng tròn, xinh đẹp, hồn nhiên. Người bố cô bé vẫy anh lại, bảo ngồi giữa 2 bố con, hỏi:

- Anh là người Trung Quốc, người Triều Tiên?

- Người Việt Nam! – Lê Đông trả lời.

Ông giang tay ôm Lê Đông vào lòng: “Ồ! Đây là con em của một dân tộc anh hùng”. Ông bảo anh hãy xin phép con ông để được chụp ảnh. Chờ cho Lê Đông xin phép con gái mình và chụp mấy kiểu ảnh, ông hỏi họ tên, xin số điện thoại khoa của Lê Đông, chủ động mời anh đến nhà dùng cơm; dặn anh mang theo khoảng 20 tấm ảnh ưng ý và 10 tấm ảnh không ưng ý.

Sau bữa cơm thân mật do vợ và con gái sửa soạn, Levinsky xem 20 tấm ảnh và vứt vào sọt rác, trong 10 tấm không thích ông chọn ra tấm ảnh chụp bé trai đang kéo quần đi tiểu. Dòng nước cầu vồng bao lấy chiếc xe tăng phát xít Đức nỗi rõ chữ thập ngoặc và nòng súng gãy, tựa như không chịu được sức nặng dòng nước, cong xuống. Phía sau là sườn đồi xanh mướt cây cối trải đến hết tầm...

- Đây mới là khoảng khắc tạo ra tác phẩm lớn. Cả đời ta chưa gặp được những khoảng khắc này. Muốn lặp lại, cháu hãy cần mẫn bấm máy cho đến lúc cháu gặp may mắn của định mệnh và tuyệt đối tuân theo quy tắc – Ông chuyển sang nói tiếng Pháp – Le vrai, le bien et le beau (Chân, thiện, mỹ).

Từ hôm đó, Lê Đông thực sự yêu thích nhiếp ảnh.

*

Về nước, Lê Đông trở thành lính lái xe vận chuyển hàng hóa vào chiến trường, thuộc binh đoàn 559.

Một lần qua Dốc Kẻm đá dừng; bộ đội mệt mỏi ngồi, đa số nằm duỗi người nhìn vách đá thẳng đứng cao tận đến mây xanh. Lê Đông ôm viên đá nặng chục cân ném xuống vực, một màu đen tuyệt đối và không có tiếng vọng dội về. Nơi sâu thẳm và cao vút thế này, không có cách nào ghi hình lại được.

Phim rất quý, chỉ khi gặp các phóng viên chiến trường mới xin được 1 cuộn phim Liên Xô sản xuất. Chụp xong, gặp các đoàn đi ngược ra bắc, gửi phim về cho chị ruột Lê Thị Duyên tráng, in ảnh. Đường hành quân dài theo năm tháng, anh chẳng thấy ảnh mình chụp ở chiến trường.

Con đường xe qua ngày càng gần đến quê hương. Năm 1973, từ cao nguyên đoàn xe ô tô băng về miền trung du đến nơi phải qua một đoạn đường hẹp, hai bên vực sâu thăm thẳm một mầu đen tuyệt đối. Mưa hôm trước đọng lại trên mặt đường trơn. Trung đoàn trưởng Bảy Sự (quê ở Long An) cần một chiến sỹ lái xe đi đầu để đoàn xe sẽ nối đuôi nhau vượt cung đường ngay trong đêm. Lê Đông xung phong. Sáu Tiểu quê ở Quảng Nam giành đi đầu vì cho rằng tay lái mình vững hơn Lê Đông.

- Anh Sáu Tiểu không có quyền giành sự hy sinh về mình vì anh có 6 đứa con. Tôi hy sinh chỉ có 3 đứa mồ côi cha; phía trước là quê hương Bến Tre của tôi, tôi phải được quyền đi trước.

Trung đoàn trưởng quyết định cho Lê Đông dẫn đoàn. Ông bảo đoàn quân:

Có nhiêu rượu tụi bây mang hết ra đây uống với Lê Đông...

Hoàng hôn Trường Sơn nhuộm màu máu lên những ánh mắt long lanh ngấn nước trong tiếng gió đại ngàn như bão tố. Khoảng khắc đó, Lê Đông không có phim, anh không có lòng dạ nào để ghi hình.

*

Năm 1975, Lê Đông giải ngũ về làm phó phòng hành chính Ty giao thông Tiền Giang. Anh vẫn miệt mài nhiếp ảnh.

Năm 1992, anh mua được tờ báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam và tìm thấy trong tờ báo những tác phẩm, bài viết xoay quanh trục: chân - thiện - mỹ. Từ đó đến nay, 30 năm ông mua và đọc không sót số nào. Khi tôi giao báo tận nhà ông (281/68 Lê Văn Sỹ, phường 1, quận Tân Bình); ông tâm sự:

- Các bài báo được tuyển chọn từ những tác phẩm tốt nhất theo tiêu chuẩn chân thiện mỹ; xoay quanh nhân tình thế thái từ cổ chí kim. Do không có các bài kém chất lượng nên Báo Văn nghệ không lạc hậu sau thời gian dài được in ra. Nó là nguồn động viên để bản thân mình kiên trì kim chỉ nam: chân, thiện, mỹ.

Đêm thu 30/9/2000 mưa bay lất phất. Thảo cầm viên một chú hạc đang lần mò kiếm mồi. Lê Đông thoáng thấy và nhờ 4 anh bảo vệ cầm đèn pin chiếu vào.  Bà Từ Khánh Thu - vợ của ông dùng áo mưa che ống kín. Sau 3 lần bấm, hết phim. Khi thay phim, chú hạc bỏ đi. “Đêm tàn Thu” là bức ảnh đẹp mang tính hoang sơ được chụp do nhiều người giúp đỡ khiến ông ưng ý nhất đến thời điểm đó...


Các kỷ vật Trường Sơn của tác giả Lê Đông - Ảnh Lê Thanh Huệ

*

Về hưu, ông có thời gian dành cho nhiếp ảnh nhiều hơn.

Phút giây định mệnh chỉ đến với ông vào ngày sinh nhật thứ 73, sau 53 năm cầm máy và 3 lần bấm máy cuối cùng của cuộn phim...

Như nhiều người xem bức ảnh đều có chung nhận xét: tác giả Lê Đông sinh ra để chụp bức ảnh “Bàn tay của Chúa Trời”.

Trong phòng ở của mình bày biện nhiều máy ảnh và vật dụng mang từ chiến trường, nhiều cuốn anbum dày đựng các ảnh chất lượng cao do ông chụp và không có bức nào can thiệp bằng chỉnh sửa.... Những bức ảnh ông trưng bày trong nhà của mình: 5 bức, trong đó người nhà chiếm mất 3 bức ảnh; bức hình “Bàn tay của Chúa Trời” ông treo ở nơi trang trọng nhất ....


Đêm tàn Thu – chụp lại ảnh của tác giả Lê Đông

Chúng ta biết: xác xuất để có lại khoảng khắc chụp bức ảnh “Bàn tay của Chúa Trời” là bằng không. Tác phẩm đích thực của một thiên tài thường không quá số 1, cao lắm cũng không quá số ngón của một bàn tay. Những người không có những tác phẩm để đời thường có khối lượng tác phẩm đồ sộ và đi rất nhanh vào quên lãng... Để có kiệt tác nghệ thuật, ngoài sự chăm chỉ phải có may mắn gặp được những thân phận, những mảnh đời, những khoảnh khắc kết tinh của hơi thở cuộc sống. Phần còn lại là tài hoa của tác giả như kiểu chọn góc máy, ánh sáng, tiêu cự... và số lần bấm máy ứng với số tấm phim còn lại trong máy ảnh đủ để ghi lại khoảng khắc đó mà thôi. Do đó, cũng không có gì phải hãnh diện hoặc xấu hổ nếu chúng ta đi theo con đường nghệ thuật nhưng không có tác phẩm để đời.

Điều đáng ngạc nhiên, ông không vào hội nào, không gửi ảnh đăng báo, không mở triển lãm ảnh nghệ thuật. Tôi chỉ tìm thấy một trang tin điện tử* đưa tin về bức ảnh “Bàn tay của Chúa Trời” của ông được trưng bày trong phòng khánh tiết Tòa thánh Vatican; ông xác nhận thông tin này và cho biết thêm: ông không theo tôn giáo nào.

Suốt đời ông tôn thờ điều gì? Ông nói ngay: chân, thiện, mỹ và nhắc lại: ông là bộ đội Trường Sơn, chiến sỹ Đoàn 559...

Sài Gòn, tháng 11 năm 2022

Nguồn: Báo Văn Nghệ -  trang 50 số: 2+3+4 (2023) Tết Quý Mão.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhớ quê trong gió bấc mưa phùn - Tạp bút Nguyễn Gia Long
Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Bắc nước ta, nơi có những tháng mùa đông đi qua đầy khắc nghiệt, với mưa phùn, gió bấc và cái lạnh tái tê như muốn cắt da thịt, nên tuổi thơ tôi có biết bao nhiêu những kỷ niệm với mùa đông và miền quê thân thương ấy. Đó là những buổi ra đồng nhổ mạ, cấy lúa cùng mẹ vào dịp cuối năm, mặc dù thời tiết lạnh căm căm. Đó là những buổi chiều lùa trâu ra đồng chăn thả, kệ cho những cơn gió hun hút tràn về. Hay như những hôm trời u ám với gió bấc, mưa phùn giăng đầy trời vậy mà mẹ vẫn bắt mấy anh chị em chúng tôi ra đồng để kiếm rau mang về nấu cám cho lợn ăn. Rồi nữa, có không ít những chiều đông rét mướt, tôi vẫn cùng những đứa trẻ cùng trang lứa trong xóm ra đồng be bờ tát mương, bắt cua, cá, tôm, ốc…, mang về cải thiện cho bữa cơm sinh hoạt gia đình thêm phần tươm tất.
Xem thêm
Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn
Bài đăng Tạp chí Sông Lam Online
Xem thêm
Ao làng tháng Chạp trong ký ức tuổi thơ tôi - Tản văn Nguyễn Thúy Uyên
Nơi tôi sinh ra là một làng quê ven thành phố và dẫu nơi đây đã, đang trong đà đô thị hoá mạnh mẽ nhưng vẫn còn sót lại một số ao, hồ. Với người dân quê tôi nói riêng cũng như hết thảy những làng quê Việt Nam nói chung, thì có lẽ hình ảnh cái ao làng luôn gần gũi, rất thân thương, bởi lẽ những cái ao là nơi cung cấp nước tưới cho cây cối trong vườn nhà; ao là nơi thoát nước trong những ngày mưa triền miên; và ao cũng là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cá, tôm, cua, ốc… cho con người, cũng như làm nơi thả bèo dùng cho việc chăn nuôi gia cầm gia súc.... Đối với trẻ thơ chúng tôi ngày thơ bé, thì ao làng còn là nơi tắm mát “giải nhiệt”, vui chơi đùa nghịch trong những buổi trưa hè oi ả, nóng bức…
Xem thêm
Chân mây - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Trước khi nghỉ hưu dăm bảy năm. Mình chuyển về phòng làm việc có cửa sổ rộng quay ra mặt hồ. Đó là một hồ nước lớn. Cây cổ thụ xanh mướt vây quanh. Bên hồ là công viên cây xanh nổi tiếng của thành phố. Mùa thu những vòm cây bừng nở những sắc hoa. Khi đó hương hoa ngào ngạt tràn ngập không gian. Hương hoa tràn ngập căn phòng của mình.
Xem thêm
Nén hương lòng nơi biên giới thân yêu - Tản văn Vũ Mạnh Định
Những ngày cuối năm, khi đất trời bắt đầu chuyển mình sang một nhịp chậm hơn, tôi có dịp dừng chân trước nghĩa trang liệt sĩ Hội Phú - vùng đất nơi tôi mới nhận công tác. Khói hương bảng lảng trong gió lạnh, những hàng bia trắng lặng im giữa không gian tĩnh mịch khiến lòng tôi chợt chùng xuống. Giữa khoảnh khắc tưởng niệm ấy, ký ức bất chợt đưa tôi trở về Đức Cơ - vùng biên giới đầy nắng gió, nơi những cánh rừng cao su mỗi độ cuối năm lại đồng loạt thay lá, nhuộm vàng cả một khoảng trời.
Xem thêm
Về làng Thụy Khê thăm nhà thờ Phan Huy Chú
Dòng họ Phan Huy ở Thuỵ Khuê (còn gọi là làng Thầy) xã Quốc Oai thành phố Hà Nội (trước đây thuộc xã Sài Sơn huyện Quốc Oai) vốn rất danh giá và nổi tiếng từ lâu đời. Rồi đến năm 2015, khi ông Ban Ki Moon - Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đến thăm và ghi vào sổ lưu niệm của dòng họ tại ngôi nhà thờ Phan Huy Chú ở dưới chân núi Thầy thì danh thơm của chi tộc Phan Huy lại càng lừng lẫy và được rất nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Ngôi nhà thờ ấy, trong tôi từ lâu vẫn biết, đó không chỉ là nơi thờ tự các bậc tổ tiên tiền bối từng là những triều thần, những danh nhân văn hoá lỗi lạc của dòng họ Phan Huy, của nước nhà qua các triều đại phong kiến, trải từ thời Hậu Lê đến đời nhà Nguyễn mà còn là nơi ra đời của của rất nhiều tác phẩm văn chương, những công trình khảo cứu lịch sử đồ sộ, quý giá của nước nhà. Biết vậy, trong thâm tâm tôi đã nhiều lần muốn đến thăm không gian thờ tự này, đồng thời cũng có thể coi đó là một “chứng nhân” chứng kiến sự ra đời của không ít các tác phẩm, những công trình văn hoá đặc biệt ấy; nhưng rồi việc nọ việc kia mà mãi vẫn chưa thực hiện được. Cứ thế, lòng hẹn lòng mãi, cuối cùng, nhân kỳ nghỉ Tết, tôi cũng đã thu xếp công việc để hành hương về chiêm bái. Và rồi, từ chuyến hành hương ấy, tôi được mở mang, hiểu biết thêm nhiều về dòng họ Phan Huy và những danh sĩ rất mực tài hoa, uyên bác của dòng họ này trên đất phủ Quốc, xứ Đoài mây trắng.
Xem thêm
Có một tinh thần sáng tạo độc lập như thế tại Việt Nam
Tiệm phở của Anh Hai (Brother Hai’s Pho Restaurant) là tựa game nổi tiếng thời gian gần đây của một lập trình viên bí ẩn với biệt danh marisa0704, vốn là sinh viên Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông (SoICT), Đại học Bách khoa Hà Nội được truyền cảm hứng từ Flappy Bird của nhà lập trình độc lập từ hơn 10 năm trước. Như một sự ngẫu nhiên, nếu nhìn lại những kết quả của các nghệ sĩ trẻ trong các lĩnh vực mỹ thuật, điện ảnh, sân khấu - kịch, xuất bản và đặc biệt là âm nhạc thì trong hơn một thập kỷ qua, họ đã thực sự sống với tinh thần sáng tạo, thử nghiệm độc lập.
Xem thêm
Lâm Xuân Thi – Người chọn đứng phía sau những điều tử tế
Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TPHCM số ra ngày 01/01/2026
Xem thêm
Vị của mùa Đông - Tản văn Đinh Thu Huế
Mùa đông lẻn vào lòng thành phố bằng những bước chân không tiếng động, chỉ để lại dấu vết qua cái rùng mình của cơn gió bấc và sắc màu trầm mặc trên vòm không. Với tôi, mùa đông không chỉ là một khái niệm thời tiết, nó là một “vị” riêng biệt - vị của ký ức, của sự tĩnh lặng và của những triết lý nhân sinh được gói ghém trong cái lạnh căm căm.
Xem thêm
“Ăn mày laptop”- Thắp sáng niềm tin cuộc đời
Trong thời đại số, khi mạng xã hội thường bị nhìn như nơi ồn ào và nhiễu loạn, dự án “Ăn mày laptop” của Trần Trọng An lại cho thấy một khả năng khác: kết nối lòng tử tế bằng sự minh bạch, kiên trì và nhân ái.
Xem thêm
Nén hương cho một người cô độc - Tùy bút Nguyễn Hồng Lam
Đi hết những năm chiến tranh, vác ba lô về nhà ngỡ bắt đầu đời sống của riêng mình, người lính ấy mới nhận ra không còn gì thuộc về riêng ông nữa. Không gia đình, không quê hương, không có gì chào đón hay níu giữ. Khói lửa chiến tranh cũng đã tàn, chẳng còn chiến trường khốc liệt nào cho ông quay trở lại, dù chỉ để đi hết cuộc đời trong một thói quen. Ông là người lính lơ lạc giữa thời bình. Ngày trở về cũng cũng là ngày cuộc chiến trong tâm thức của riêng ông mới bắt đầu, giữa hòa bình vĩnh viễn, kéo dài thêm suốt hơn 30 năm sau đó.
Xem thêm
Văn chương gìn giữ văn hóa đọc
​Sách và văn hóa đọc đã góp phần gìn giữ, bảo tồn văn hóa quốc gia, dân tộc, phát triển năng lực cá nhân thông qua ngôn ngữ được sử dụng làm công cụ kết nối, truyền bá và lưu giữ những giá trị bất biến ngàn đời. Trong đó, văn chương cũng là một kênh đọc rất hữu hiệu, giàu tính nhân văn, nhân bản được nhân loại tụng ca.
Xem thêm
Hà Vi Tùng, vị tướng mưu lược…
Kỷ niệm 81 năm thành lập QĐND Việt Nam, 36 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân
Xem thêm
Pha Long nơi biên cương Tổ Quốc
“Pha Long nơi biên cương Tổ quốc” không chỉ là câu chuyện tìm mộ liệt sĩ, mà là một hành trình nhân văn về ký ức chiến tranh, tình ruột thịt và sự hóa thân thầm lặng của người lính vào từng tấc đất biên cương. Văn chương TP. HCM trân trọng giới thiệu bài ký của nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh
Xem thêm
Phú Yên nghĩa tình và khát vọng hồi sinh - Ký của Nguyên Hùng
Bài đăng báo Văn nghệ số 50, ra ngày 13/12/2025
Xem thêm
Lời thì thầm của biển – Tản văn của Như Nguyệt
Còn bạn thì sao? Bạn nghe điều gì từ lòng biển? Tôi tin dù bạn nghe được điều gì, hãy giữ lấy niềm tin ấy thật chặt, bởi vì mọi “lời thì thầm” đều có sức mạnh của riêng nó.
Xem thêm
Diễn viên Thương Tín đã về cõi lặng
Thông tin từ chị Bùi Kim Chi (vợ Thương Tín) cho biết, Thương Tín đã qua đời vào khuya nay tại nhà riêng Phủ Hoà, Phan Rang.
Xem thêm
Ký ức về bố – Bút ký Vũ Mạnh Định
Pleiku những ngày này mưa dầm dề do ảnh hưởng bão. Mưa trắng xóa cả bầu trời, gió hun hút qua hàng cây phủ kín cả phố núi. Tiếng mưa khiến lòng tôi chùng xuống, ký ức bất chợt ùa về. Mưa như tấm màn xám phủ trùm đất trời, có khi kéo dài cả tháng không dứt. Ngày ấy tôi còn quá nhỏ để hiểu nỗi buồn của những cơn mưa, chỉ nhớ nó dai dẳng đến mức sáng hay chiều cũng nhập nhòe một màu xám đục. Nhưng chính sự dầm dề ấy lại trở thành lát cắt đặc biệt của tuổi thơ, để sau này, mỗi lần nghe mưa nơi khác, tôi ngỡ như vừa chạm vào những ngày Pleiku xưa cũ, ngày mưa dài đến mức thời gian như ngưng đọng.
Xem thêm
Một Việt Nam nhân hậu giữa bão lũ và nước mắt
Giữa màn đêm bị xé toang bởi gió, nước và tiếng kêu cứu, người ta lại nhìn thấy những điều kỳ diệu khác: tình người, sự hy sinh, lòng nhân hậu – những phẩm chất làm nên cốt cách vĩ đại của dân Việt.
Xem thêm