TIN TỨC

Bích Thu - Người đồng hành cùng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-10-28 22:42:52
mail facebook google pos stwis
67 lượt xem

PGS-TS HỒ THẾ HÀ

Bích Thu là một trong rất ít những nhà phê bình văn học nữ hiện còn miệt mài với những trang viết về văn chương Việt cho đến ngày nay. Thơ và văn xuôi là hai thể loại mà chị theo dõi và luôn đồng hành cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XXI để nhận diện thi pháp tác phẩm và tác giả tiêu biểu, sau đó là tổng kết, chỉ ra diện mạo, đặc điểm chung cho cả phong trào qua các giai đoạn, nhất là giai đoạn từ Đổi mới đến nay.  

Quá trình nghiên cứu ấy đã đem lại cho chị những thành tựu học thuật quý giá qua các công trình: Theo dòng văn học (tiểu luận - phê bình,1988), Văn học Việt Nam hiện đại - Sáng tạo &tiếp nhận (tiểu luận - phê bình, 2015). Và nhiều công trình biên soạn, giới thiệu viết riêng và chung có giá trị khác như: Nam Cao về tác gia và tác phẩm (Giới thiệu và biên soạn, 1998), Văn học Việt Nam 1975 - 1985 tác phẩm và dư luận (1997), Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX (2000), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đến 1945 ( 2006), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam từ 1945 đến 1975 (2006), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam từ 1975 đến 2000 (2011)…

Trong bài viết ngắn này, tôi muốn tiếp nhận và đồng cảm với nhà phê bình Bích Thu qua công trình Văn học Việt Nam hiện đại - Sáng tạo và tiếp nhận do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2014 ở những tiểu luận nghiên cứu chuyên sâu về tiểu thuyết - thể loại đóng vai chủ (main role), cỗ máy cái của nền văn học nước ta trên hành trình hiện đại và đương đại.

  Theo dòng văn học một cách cẩn trọng và sâu sắc từ những tác giả, tác phẩm tiêu biểu, Bích Thu đã giaỉ mã, tổng kết về tiểu thuyết Việt Nam hiện đại với những nhận định có hàm lượng khoa học cao; minh định chính xác, công bằng về các hiện tượng văn chương có tính đại diện của nền văn xuôi như mục tiêu tác giả đặt ra: “Cuốn sách ghi nhận một phần những chuyển biến, ngữ cảnh sáng tạo và góp một cách nhìn về sự vận động và phát triển của quá trình văn học, có thể cần thiết cho những độc giả quan tâm tới văn học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập” (tr. 6) [Từ đây trở đi, những trích dẫn lấy từ công trình cuẩ Bích Thu, chúng tôi chỉ xin ghi số trang].

Nhìn nhận vể đặc trưng và sự vận động, phát triển của thể loại tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tác giả tuần tự nghiên cứu các bước chuyển động và thành tựu của từng giai đoạn để người đọc dễ dàng nhận diện cơ sở xã hội và nhu cầu đổi mới thể loại trong từng bước ngoặt chuyển mình của lịch sử và của chính bản thân văn học/ tiểu thuyết là có tính đặc thù và tính qui luật của nó thông qua ý thức cách tân của từng chủ thể sáng tạo.

Với tiểu luận Tiểu thuyết Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa văn học nửa đầu thế kỷ XX, Bích Thu chỉ ra 2 giai đoạn (từ đầu thế kỷ XX đến 1932 và từ 1932 đến 1945) và xem đây là “hai cấp độ khác nhau của cùng một xu hướng vận động và phát triển. Ở chặng đầu là những nhà văn đóng vai trò chuẩn bị và ở chặng sau là những người có sứ mệnh hoàn thành. Ranh giới giữa hai chặng thời gian đó tưởng như ngẫu nhiên nhưng lại là ranh giới nghiệt ngã không phải ai cũng có thể vượt qua. Ba mươi năm đầu thế kỷ là giai đoạn phôi thai của nền văn học mới và hơn một thập kỷ sau là giai đoạn trưởng thành của nó. Văn xuôi nghệ thuật với sự góp mặt của tiểu thuyết cũng không đi chệnh ra khỏi quy luật chung của tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc” (tr.9). Tác giả tiếp tục nhận định một cách có cơ sở lý luận và thực tiễn, xem tiểu thuyết “Là thể loại ra đời muộn hơn so với những thể loại khác nhưng tiểu thuyết đã chứng tỏ được sức trẻ và sức sống của một thể loại đang trong quá trình sinh thành và biến động. Trong quá trình ấy, tiểu thuyết một mặt kế thừa, tiếp nối những yếu tố truyền thống, mặt khác đã tạo nên những đứt đoạn quan trọng góp phần vào công cuộc hiện đại hóa nền văn xuôi Quốc ngữ” (tr.9-10). Để có được kết quả đó, Bích Thu đã viện dẫn những điều kiện cần và đủ để hiện đại hóa văn học hợp qui luật, bao gồm: bối cảnh lịch sử - xã hội, sự tiếp thu văn hóa và văn học phương Tây với những quan niệm mới mẻ, in ấn và phát hành ngày càng thuận lợi, sự xuất hiện những thể loại văn học hư cấu và phi hư cấu mới, nhất là tiểu thuyết và truyện ngắn theo phạm trù hiện đại và cuối cùng là sự xuất hiện một tầng lớp công chúng tiếp nhận mới, đặc biệt là vai trò quan trọng của chữ quốc ngữ. Nhờ hàng loạt những nhân tố tương tác ấy mà các thể loại văn học hình thành và phát triển. Nhưng không phải không có những thử thách, khó khăn nhất định như tác giả nhận định một cách khách quan: “Tuy nhiên để có những thành tựu vào những năm ba mươi của thế kỷ, văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng phải trải qua một quá trình vật lộn dằng dai, phức tạp với khách quan và chính nó ngõ hầu dẫn đến một sự thay đổi quyết liệt, sâu sắc về chất và diện mạo thể loại. Trong quá trình giao tranh giữa cái cũ và cái mới, bảo thủ và cách tân; trong quá trình kế thừa và tiếp thu những yếu tố nội sinh và ngoại sinh, chỉ từ khi Tây học thắng thế, văn xuôi tự sự trung đại mới kết thúc nhiệm vụ lịch sử của mình. Những kinh nghiệm nghệ thuật và những bước thử sức ban đầu trong buổi giao thời là những tiền đề của văn xuôi nghệ thuật hiện đại Việt Nam nói chung và tiểu thuyết nói riêng. Không phải ngẫu nhiên mới khai sinh chưa tròn thế kỷ, tiểu thuyết Việt Nam đã bộc lộ những mặt khả thủ của thể loại, nhanh chóng tiến kịp và hòa nhập vào quỹ đạo văn xuôi hiện đại thế giới” (tr.12).

Sau khi minh chứng bằng những tác gia, tác phẩm tiểu thuyết tiêu biểu giai đoạn giao thời, tác giả đã khẳng định bước tiến đáng kể của thể loại này về chủ đề, đề tài và phương thức biểu hiện với đặc trưng thi pháp hiện đại, mới mẻ: “Khi một loạt tiểu thuyết có giá trị ra đời, đó là dấu hiệu của một thời kỳ văn học trên đà phát triển và trưởng thành. Kế thừa tinh hoa của tiểu thuyết hiện đại trên chặng đường phôi thai ba thập niên đầu thế kỷ sang giai đoạn 1932-1945, văn học Việt Nam bước vào một thời kỳ mới, với một sức bật mới của một thế hệ cầm bút đầy tự tin vào tài năng và tâm huyết của mình đã góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc” (tr.17). Đó chính là quá trình vận động hợp qui luật nên đã tạo ra bước phát triển nhanh chóng của các khuynh hướng/ trào lưu văn học, nhất là tiểu thuyết lãng mạn Tự lực văn đòan và tiểu thuyết hiện thực phê phán: “Xét trên nhiều bình diện, thực tế đời sống văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ là một bước trung chuyển bộn bề, phức tạp nhưng tất yếu để ngày càng hòa nhập vào quỹ đạo hiện đại hóa, phù hợp với xu thế và sự phát triển của nền văn học mới. Trong sự chuyển biến chung của đời sống văn học, tiểu thuyết đã bộc lộ những dấu hiệu đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức, có ý nghĩa cơ bản đối với văn học dân tộc” (tr.20). Các yếu tố căn bản thuộc bình diện nội dung và hình thức tham gia kiến trúc tác phẩm để hoàn thiện thể loại theo thi pháp hiện đại phương Tây như: đề tài, chủ đề, nhân vật, ngôn ngữ, kết cấu, xung đột, chi tiết… đều được Bích Thu phân tích, luận chứng, luận giải tường minh thông qua các tác phẩm đỉnh cao của các nhà văn hiện thực phê phán và nhà văn Tự lực văn đoàn để người đọc thấy được bước tiến quan trọng của văn xuôi giai đoạn này đã thực sự bỏ xa văn xuôi thời trung đại và giai đoạn giao thời để từng bước tiến vào phạm trù hiện đại của văn xuôi phương Tây, chủ yếu là Pháp. Như vậy, cuộc hiện đạị hóa các thể loại văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX đã thực sự diễn ra ngoạn mục và hợp qui luật, xét ở cả ba xâu chuỗi của quá trình văn học: nhà văn - tác phẩm -  người đọc. Nhờ vậy mà quá trình hiện đại hóa diễn ra đồng bộ với hấp lực và tốc độ nhanh, làm nên một thời đại mới trong văn chương với những tác giả, tác phẩm tiêu biểu, mở ra hành trình hiện đại chủ nghĩa trong văn học Việt Nam cho đến ngày nay như tác giả đã khẳng định: “Công cuộc hiện đại hóa văn học dân tộc là cả một quá trình vận động và đổi mới không ngừng với các thể loại. Trong đó không thể không ghi nhận những bước thử sức đầu tiên đến những đóng góp đáng kể của tiểu thuyết, một thể loại xuất hiện muộn nhưng đầy triển vọng, thể hiện sức vóc và sự trưởng thành của một nền văn học. Cùng với sự thắng thế của chữ Quốc ngữ và ảnh hưởng sâu sắc của văn học phương Tây, tiểu thuyết Việt Nam nửa đầu thế kỷ đã thực sự đi vào quá trình hiện đại hóa, tạo nên một giai đoạn phát triển rực rỡ của văn xuôi hiện đại trên hành trình văn học của thế kỷ XX” (tr.42). Xác quyết như vậy là rất ngắn gọn nhưng rất khái quát, đầy đủ và logic.

Nhằm chứng minh sự vận động nối tiếp của một dòng chảy văn học thống nhất từ đầu thế kỷ XX đến các giai đoạn kế tiếp, Bích Thu đã đi sâu nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn Đổi mới bằng góc tiếp cận chuyên biệt qua tiểu luận: Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới. Quan tâm đến tiểu thuyết - “thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và còn chưa định hình” (Bakhtin), Bích Thu đã chú tâm đến quá trình hướng đến hệ quả “làm mới, làm hấp dẫn” tiểu thuyết. Những minh chứng qua từng tác giả và tác phẩm là thuyết phục và đúng điểm rơi, chứng tỏ chị làm chủ và bao quát thành tựu tiểu thuyết thời đổi mới một cách sâu sắc: “Với xu hướng nhìn thẳng vào sự thật, các nhà tiểu thuyết đã dấn thân vào hiện thực ở thời hiện tại, đang hình thành chưa ổn định; ở chính ‘iêu điểm’ của đời sống. Trong tác phẩm của họ, ý thức ‘lột trần mặt nhau, lột trần mặt mình, lột trần mặt đời’ và cao hơn là ‘bóc trần thế giới’, đồng thời với ý thức hướng tới ‘chất lượng cuộc sống’, sống sao cho đúng với cuộc sống của con người đã thẩm thấu các tầng ngữ nghĩa, mang đậm tính nhân văn” (tr.45). Những tác phẩm mà Bích Thu dẫn chứng cho nhận định trên “đã từng được đương thời và hôm nay nhận định là những tác phẩm mang tính ‘dự báo của lương tri’ trước một xã hội hiện đại còn nhiều bất an và khiếm khuyết” (tr.46). Đấy là những nhận định có trọng lượng với những kết luận khoa học đáng tin cậy, giúp người đọc thấy được sự vận động và hội nhập của tiểu thuyết Việt Nam thời đổi mới là không thể khác, xuất phát từ khát vọng và ý thức cách tân mãnh liệt cuả từng chủ thể sáng tạo.

Không dừng lại ở việc khẳng định đơn thuần về chính tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới, Bích Thu đã ngược dòng văn học sử để đối sánh với tiểu thuyết giai đoạn 1930-1945, 1945-1975, 1975-1985 ở các yếu tố nổi trội thuộc hình thức và nội dung tác phẩm nhằm chỉ ra sự vận động, đổi mới về thi pháp thể loại của tiểu thuyết thời Đổi mới. Nhờ du hành sâu vào tiểu thuyết thời kỳ này mà những kết luận của Bích Thu về cấu trúc nghệ thuật đều có hàm lượng thông tin khoa học mới mẻ, chính xác: “Tiểu thuyết từ sau đổi mới đa dạng hơn trong nội dung phản ánh, phong phú hơn trong hình thức diễn đạt, tự do hơn ở cách thức dựng truyện. Bên cạnh những cốt truyện giàu kịch tính là những cốt truyện giàu tâm trạng. Có những kết cấu cốt truyện rõ ràng, mạch lạc, có mở đầu, có kết thúc, cũng có những tiểu thuyết cấu trúc lỏng lẻo, lắp ghép, kết thúc mở. Bên cạnh những tiểu thuyết tuân thủ cốt truyện truyền thống là những cốt truyện dựa trên thi pháp hiện đại. Cốt truyện đã vận động thay đổi trong sự phát triển của thể loại. Về đoạn kết của tiểu thuyết, có mô hình kết thúc có hậu, các vấn đề được giải quyết một cách hoàn tất, trọn vẹn. Có đoạn kết với kiểu kết thúc bỏ ngỏ, không hoàn kết. Tất cả các dạng thức trên đều nhằm phân tích, lý giải những vấn đề phức tạp và bí ẩn của con người, cuộc sống đương đại. Cốt truyện tiểu thuyết từ những năm đổi mới đến nay, một mặt vẫn kế thừa và phát triển những đặc trưng của cốt truyện truyền thống, mặt khác đã tiếp cận với tiểu thuyết hiện đại thế giới ở những nét tinh tuý. Nghệ thuật đồng hiện, kỹ thuật độc thoại nội tâm, dòng ý thức, lắp ghép, sử dụng huyền thoại, nghệ thuật gián cách, đa giọng điệu là những vấn đề còn mới mẻ trong văn xuôi Việt Nam đã được tiểu thuyết vận dụng, biến hóa một cách linh hoạt và uyển chuyển trên tinh thần dân tộc hiện đại” (tr.51-52). Nhờ những nhận xét tổng hợp này giúp người đọc hiểu về lý luận để phóng chiếu vào những tiểu thuyết cụ thể nhằm giải mã tác phẩm tốt nhất. Bích Thu đã thực sự làm người tiền trạm, đọc giúp độc giả để họ yên tâm tiếp cận và hiểu đúng đặc trưng thể loại tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới mà không cần phải phân vân việc hiểu đúng hoặc hiểu sai tác phẩm, nhất là những độc giả phổ thông khi tiếp nhận những tác phẩm có cấu trúc đa thanh, phức tạp.

Các bình diện chính của chỉnh thể tác phẩm nhìn từ đặc trưng thể loại cũng được Bích Thu nghiên cứu sâu thông qua các hiện tượng văn chương nổi bật; từ đó nhìn rộng và khái quát cho cả các giai đoạn. Bắt đầu từ cốt truyện tiểu thuyết, chị nêu, phân tích và lý giải sự đổi mới, sự đa dạng hóa cốt truyện của tiểu thuyết những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI xuất phát từ ý thức của mỗi nhà văn hoàn toàn chính xác: “Ý thức cách tân nghệ thuật, đổi mới tư duy tiểu thuyết là nỗ lực sáng tạo đáng kể của các cây bút văn xuôi nhằm biểu đạt tâm hồn con người thời đại (...) Xu hướng lắp ghép liên văn bản là một trong những yếu tố không thể không kể đến của thi pháp cốt truyện tiểu thuyết hiện đại. Tiểu thuyết được viết một cách tự nhiên, không bị ràng buộc bởi thi pháp truyền thống. Tiểu thuyết hình thành bằng cách lắp ghép, tạo dựng các mảnh cốt truyện, các mảnh tâm trạng không theo trình tự thời gian mà ngổn ngang, đảo ngược theo ý đồ của tác giả, tạo ra ‘truyện trong truyện’. Những tình huống, cảnh ngộ, biến cố như không quan hệ, liên đới được xích lại gần nhau. Cùng với sự lắp ghép đó là sự di chuyển các điểm nhìn, là tư duy nghệ thuật trong sự qui ước vừa chặt chẽ, vừa co giãn của cấu trúc thể loại (...) Sự thâm nhập các thể loại khác vào tiểu thuyết cũng là một nhân tố làm co giãn cốt truyện. Tiểu thuyết có thể chứa trong chính nó: nhật ký, chuyện kể, thơ, thư từ, tham luận khoa học, huyền thoại, điển tích, cổ tích. Những hình thức văn bản trong văn bản góp phần tạo thành những tiếng nói khác nhau trong tiểu thuyết, nới rộng cấu trúc thể loại, mở rộng trường nhìn... Như vậy cốt truyện tiểu thuyết Việt Nam hiện đại không biến mất mà co giãn theo cấu trúc của từng tác phẩm cụ thể, mỗi chủ thể nhà văn có thể sáng tạo ra nó bằng nhiều cách thức, kiểu dạng mà mục đích cuối cùng là thể hiện ý đồ nghệ thuật một cách có hiệu quả” (tr.53-55). Sự đổi mới cốt truyện tiểu thuyết thời Đổi mới thực sự đã đem lại sự hấp dẫn và hứng thú cho người đọc theo tầm đón đợi mới được họ minh định đồng sáng tạo khá bài bản và tương thích.

Vấn đề nhân vật tiểu thuyết giai đoạn này cũng được Bích Thu khảo sát và kết luận thấu đáo để chỉ ra sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người là nỗ lực của mỗi nhà văn, phù hợp với bước ngoặt chuyển mình của đời sống. Con người cá nhân/ cá thể với số phận, tính cách phức tạp của họ trong từng hoàn cảnh được tiểu thuyết quan tâm thể hiện một cách đa dạng, phong phú, khác với con người công dân, chính trị, sử thi trong chiến tranh: “Trong giai đoạn đổi mới vấn đề con người cá thể được đặt ra một cách bức xúc, mạnh mẽ trong cảm hứng sáng tạo của nhà văn. Song con người cá thể trong văn học hiện nay không phải là con người của chủ nghĩa cá nhân, của cái tôi cực đoan, phủ nhận mọi nền tảng đạo đức đã được thiết lập, không chịu sự tác động của xã hội. Mà ở đây số phận cá nhân được giải quyết thỏa đáng trong mối liên hệ mật thiết với cộng đồng, xã hội. Đằng sau mỗi cá thể là những vấn đề mang ý nghĩa nhân sinh của thời đại, có sự giao nhịp phức điệu giữa con người cá thể và nhân loại” (tr.57). Sở dĩ như vậy, bởi vì con người hiện thực ngoài đời luôn tồn tại trong muôn ngàn mối quan hệ bản chất và quan hệ tương tác khác nhau với sự hống nhất và đối lập khác nhau: “Tiểu thuyết Việt Nam từ sau Đổi mới không chỉ đi sâu vào thân phận con người mà còn đề cập tới khát vọng sống, về hạnh phúc cá nhân, về tình yêu đôi lứa. Các tác giả đã khai thác con người tự nhiên trước nhu cầu của hạnh phúc đời thường, của cuộc sống riêng tư. Khi con người trở về với cuộc sống đời thường, trong hàng loạt tác phẩm của Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Chu Lai, Nguyễn Khắc Trường, Dạ Ngân, Nguyễn Bắc Sơn, Dương Hướng..... đã thể hiện được sự gắn bó giữa sự nghiệp chung với hạnh phúc riêng, giữa con người cá nhân và con người xã hội” (tr.58). Vì vậy, nhà văn phải đổi mới tư duy về con người, về những quan hệ nhân sinh của họ: “Các cây bút tiểu thuyết từ sau Đổi mới đã có ý thức đi sâu vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhằm nhận diện hình ảnh con người đích thực. Sự xuất hiện con người tâm linh biểu hiện sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người của văn học. Tiểu thuyết bắt đầu tiếp cận với thế giới đằng sau thế giới hiện thực, đó là thế giới tâm linh, vô thức, tiềm thức, giấc mơ. Các nhà văn đã cố gắng thoát ra khỏi kiểu ‘phản ánh hiện thực’ được hiểu một cách thông tục của tiểu thuyết trước đây. Với quan niệm nghệ thuật mới, họ đã có ý thức thay đổi hình thức biểu đạt. Ngòi bút nhà văn khơi sâu vào cõi tâm linh, vô thức của con người, khai thác ‘con người ở bên trong con người’” (tr.59). Nhà văn đã phá vỡ cái nhìn đơn phiến, tĩnh tại để miêu tả con người đa diện hơn, phức tạp hơn, tâm linh và dục vọng đời thường hơn mới phù hợp với hiện thực đời sống: “Con người xuất hiện trong hàng loạt các tiểu thuyết là con người trần thế với tất cả chất người tự nhiên của nó: ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp hèn, ý thức và vô thức. Thế giới bên trong đầy bí ẩn và phức tạp của con người chịu sự chi phối của hai lực lượng vừa đối lập vừa hòa đồng, vừa chối bỏ lại vừa chung sống với nhau, bởi: “Con người không bao giờ trùng khít với chính nó” (M. Bakhtin). Con người gục ngã hay đứng dậy cũng chính từ trạng thái lưỡng hóa trong tính cách” (tr.60). Từ những nhận định trên, Bích Thu xác quyết rằng tiểu thuyết từ sau Đổi mới đã quan niệm con người cá nhân như một nhân cách kiểu mới: “Nhà văn đã nhận diện con người đích thực với nhiều kiểu dáng nhân vật, biểu hiện phong phú và đa dạng nhu cầu tự ý thức, sự hòa hợp giữa con người tự nhiên, con người tâm linh và con người xã hội (...) Trên lĩnh vực tiểu thuyết, nhà văn đã khắc họa chân dung những con người vừa đời thường, trần thế vừa đẹp đẽ, thánh thiện, luôn khao khát cái đẹp và hướng tới cái thiện. Đó là nét nổi bật mang đậm ý nghĩa nhân văn khi nhìn nhận con người, tạo nên tiếng nói đa thanh đầy ‘hòa âm’ và ‘nghịch âm’ trong tiểu thuyết” (tr.61). Đó là những biện giải rất chính xác và toàn diện. Và Bích Thu xem đây là thành tựu mới cuả tiểu thuyết thời đổi mới, góp phần tạo ra sự vận động và phát triển thể loại, phù hợp với tầm đón đợi của người đọc, mở ra những kênh giao tiếp và đối thoại mới giữa độc giả với độc giả, giữa độc giả với tác giả. Tính dân chủ tối đa và nhận thức tối đa cũng từ đó hình thành trong sáng tạo và tiếp nhận văn học.

Ngôn ngữ tiểu thuyết thời Đổi mới cũng được Bích Thu kháo sát và đưa ra những nhận xét mới mẻ. Nhờ nắm vững lý thuyết diễn ngôn và hiểu biết đặc trưng thi pháp tiểu thuyết hiện đại thế giới, chị đã đối sánh những mặt tương thích với tiểu thuyết Việt Nam thời này để đi đến những nhận xét có cơ sở lý luận và thực tiễn: “Miêu tả cuộc đời và con người như nó vốn có, ngôn ngữ tiểu thuyết không chỉ được soi sáng bởi ngôn ngữ tác giả mà còn được soi sáng bởi ngôn ngữ nhân vật. Tính đối thoại nội tại là một yếu tố cơ bản trong ngôn ngữ tiểu thuyết. Tác giả hoàn toàn không trung lập mà cùng tranh luận với ngôn ngữ nhân vật. Ngôn ngữ tiểu thuyết không bao giờ thỏa mãn với một ý thức, một tiếng nói, luôn mang tính đa thanh. Những đặc trưng của ngôn ngữ tiểu thuyết thường được xem xét và nghiên cứu trong một chỉnh thể nghệ thuật, một hệ thống ngôn từ, thể hiện tư tưởng của tác giả” (tr.62).

Bích Thu còn chỉ ra đặc điểm mới mẻ, đa kiểu dạng của ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm, cũng như việc thể hiện motif giấc mơ và kỹ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết thời Đổi mới, nối tiếp đến tiểu thuyết các giai đoạn sau và xem đây là một trong những nỗ lực của nhà văn để cách tân phương thức trần thuật. Từ đó, Bích Thu khẳng định thành quả của tác giả và tiểu thuyết thời Đổi mới: “Quan sát tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới không thể không ghi nhận những cách tân về nội dung và hình thức thể hiện của các tiểu thuyết gia đương đại. Ở đây vấn đề không đơn thuần chỉ là sự tìm tòi, lạ hóa mà còn là sự thay đổi quan niệm về thể loại nhằm vươn tới tầm vóc của tiểu thuyết và tầm đón đợi của người đọc trong tương lai. Sự đổi mới tiểu thuyết vì thế vừa hướng tới chủ thể sáng tạo, vừa hướng tới chủ thể tiếp nhận. Những nỗ lực cách tân của người viết đòi hỏi người đọc phải chủ động với cách đọc, cách cảm thụ tác phẩm, tránh tình trạng quen với lối đọc thời bao cấp (...) Mọi sự tìm tòi, đổi mới tư duy nghệ thuật tiểu thuyết chỉ thực sự có ý nghĩa khi nhà văn với tài năng và tâm huyết của mình có một cái nhìn mới về hiện thực cùng giao nhịp với dòng mạch văn học nhân loại, tạo nên một sinh thể mới cho tiểu thuyết và rộng ra cho văn học Việt Nam đương đại...” (tr.66-67) .

Nằm trong mục đích tổng kết bức tranh tiểu thuyết Việt Nam hiện đại và đương đại diễn ra trong cùng một dòng chảy thống nhất, Bích Thu đã bỏ nhiều công sức để tiếp cận, đọc kỹ tiểu thuyết những thập niên đầu thế kỷ XXI ở những bình diện căn bản thuộc hình thức và nội dung tác phẩm để xác định những khuynh hướng chính, cùng lằn ranh và sự giao nhau của chúng nhằm cuối cùng chỉ ra bước tiến của thể loại trên hành trình tiếp kiến, tiệm biến và hội nhập với văn xuôi hiện đại thế giới. Tiểu luận Bước đầu nhận diện tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI là cơ sở nền tảng để tác giả vững tin và định hướng đứng đắn cho việc nghiên cứu tiểu thuyết đương đại giai đoạn tiếp theo: “Thực tiễn văn học những năm đầu thế kỷ XXI đã cho thấy có hàng trăm cuốn tiểu thuyết ra đời, trong đó có sự góp mặt của khá nhiều tiểu thuyết của các tác giả hải ngoại. Như vậy tiểu thuyết không rơi vào tình trạng đáng phải lo ngại mà với sự hiện diện ngày càng nhiều của nó, tiểu thuyết vẫn ngự trị văn đàn, vẫn tỏ rõ vị thế cũng như ‘giá trị tiềm ẩn’ của thể loại trong tương lai” (tr.68). Sau khi bàn sâu về lý thuyết thể loại theo quan niệm hiện đại phương Tây, Bích Thu đã liên hệ vào thực tiễn tiểu thuyết Việt Nam để xác định các lằn ranh giữa truyền thống và hiện đại, giữa ổn định và cách tân, giữa hiện thực và hư cấu, giữa đơn nghĩa và đa nghiã, giữa liên tục và đứt đoạn, giữa vĩ mô và vi mô, giữa hiện đại và hậu hiện đại... nhằm đi đến những nhận định thuyết phục cho việc nhận diện tiểu thuyết những năm đầu thế kỷ XXI. Bích Thu cho rằng: “Sự mở rộng biên độ, đa dạng hóa trong cái nhìn thế giới và con người là một trong những đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết những năm đầu thế kỷ. Thực tế cuộc sống ở một thời kỳ mới đã dẫn đến sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về hiện thực. Một tư duy văn học mới được hình thành và nhu cầu về đổi mới văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng trở nên bức thiết. Xã hội hiện đại đề cao vai trò của cá nhân và thúc đẩy sự thức tỉnh của ý thức cá nhân. Cái tôi trỗi dậy đòi hỏi được quan tâm đúng mức. Tiểu thuyết trở về với con người, thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người, bảo tồn giá trị của con người trước sự lãng quên của xã hội. Con người cô đơn, con người thân phận trở thành mối quan tâm hàng đầu của các tiểu thuyết gia đương đại. Có thể nói, tiểu thuyết là ‘công cụ hữu hiệu’ của văn học để tái hiện lịch sử theo nhãn quan người viết và tiểu thuyết suy cho cùng vẫn là miêu tả số phận con người. Không phải ngẫu nhiên nhiều nhà tiểu thuyết đã khắc họa khá đầy đặn về lịch sử của một gia đình, một dòng tộc hay một đời người gắn với những biến động của lịch sử, với những thăng trầm của đời sống xã hội” (tr.72). Đây là nhận định khá đầy đủ và thuyết phục, tương thích với thực tiễn tiểu thuyết Việt Nam trong những năm bản lề và nối tiếp giữa hai thế kỷ, đặc biệt là thập niên đầu cuả thế kỷ XXI.

Sự đa dạng hóa các kiểu dạng tiểu thuyết cũng là trọng điểm cần nhận diện để  thấy sự vượt qua quán tính cũ của các tiểu thuyết gia, nhất là ở các tác giả trẻ. Họ tìm đến những cách tân về đề tài, chủ đề cũng như cách khắc họa hiện thực và con người. Bích Thu đã theo dõi hiện thực văn xuôi đầu thế kỷ XXI và nhận thấy xuất hiện một thể tài tiểu thuyết mới: “Hiện thực đời sống con người với những tâm tư, khát vọng, những bi kịch riêng tư chồng chất, những trào lộng, giễu nhại bi hài được các cây bút tiểu thuyết khám phá đến tận cùng, đẩy tác phẩm chạm đến một chiều sâu mới. Trong những năm gần đây nhiều tiểu thuyết mang tính tự truyện đã thu hút độc giả... Có thể nói, tiểu thuyết tự truyện không có gì mới lạ với văn học thế giới nhưng là một loại hình khá mới mẻ với văn học Việt Nam, và nó đã gây được sự chú ý với người đọc. Đây là xu hướng được nhận định là sẽ phát triển” (tr.77-78).

Bích Thu cũng đã nhận ra xu hướng hiện đại mới/ khác so với giai đoạn trước năm 2000: “Các tiểu thuyết theo hướng hiện đại đã tạo nên cảm giác về sự trôi dạt của thân phận con người. Các thủ pháp nghệ thuật như đồng hiện, kỹ thuật dòng ý thức, độc thoại nội tâm, môtíp giấc mơ, ký ức, hoài niệm đã tỏ ra có hiệu lực bộc lộ những miền sâu kín và những tầng ngầm bí ẩn của con người. Ở đây xu hướng tự do, phóng khoáng trong hành ngôn, sự co giãn, mềm dẻo của kết cấu, sự không liên tục của ý tưởng, chối bỏ sự trau chuốt mang tính tu từ đã góp phần tạo nên giọng điệu mới với các sắc thái thẩm mỹ đa dạng, nhiều màu sắc. Tất cả đã nói lên một cái gì đó về một tâm thức đã xuất hiện nhưng không dễ phát hiện trong đời sống hôm nay: tâm thức hậu hiện đại. Bằng những ‘âu lo’, ‘bất ổn’ trên bề mặt giọng điệu, nhà tiểu thuyết hướng độc giả đến những ‘bất ổn’, ‘lo âu’ ở đáy sâu đời sống hiện thực, khiến họ phải trăn trở nhiều hơn, nghĩ ngợi nhiều hơn trước những gì được viết ra. Ở đó hàm chứa một thái độ ‘nước đôi’, mâu thuẫn và phức hợp; cười cợt, giễu nhại cái cũ song cũng chưa tạo được một niềm tin bền chắc vào cái mới. Ở đó, bộc lộ thái độ tìm kiếm hơn là thái độ khẳng định. Từ đó, giọng điệu ngả sang phía cật vấn, hoài nghi như một hệ quả tất yếu: các nhân vật thường xuyên đặt câu hỏi với chính mình, với những nhân vật khác, với cả chính người viết và người đọc” (tr.79-80).

Bằng sự thấu hiểu lý luận thể loại, chị đã nhận diện được sự nhoè mờ ranh giới thể loại, sự xâm nhập của các thể loại khác vào cấu trúc nội tại của tiểu thuyết những năm đầu thế kỷ XXI  để thông tin đến người đọc cùng nhận diện sự vận động thể loại: “Cùng với sự nhòe mờ ranh giới thể loại, hiện tượng liên văn bản xuất hiện một cách thường xuyên ở nhiều cấp độ và dạng thức khác nhau tạo nên kiểu kết cấu truyện lồng truyện. Hình thức văn bản trong văn bản góp phần tạo nên những tiếng nói khác nhau, mở rộng trường nhìn, đa dạng hóa cấu trúc của tiểu thuyết. Với hình thức này, tác phẩm sẽ tạo nên sự liên thông giữa thế giới thực và thế giới ảo (...) và nhân vật trong tiểu thuyết sẽ ‘được sống lập thể’ ở nhiều thế giới khác nhau, nhập nhiều vai khác nhau, các giới hạn không gian, thời gian do vậy được mở ra đến vô hạn” (tr.82).

Diện mạo tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI đa dạng và linh động nhưng định hình ở những đặc điểm thành tựu và hạn chế riêng do đặc thù của văn hoá và văn học Việt qui định: “Trong thực tiễn sáng tạo của thể loại, có thể nói tiểu thuyết Việt Nam vẫn tiếp tục đổi mới và phát triển, chỉ trong những năm đầu của thiên niên kỷ mới đã bộc lộ khá rõ tiềm năng của thể loại với những cách tân về nội dung và nghệ thuật tiểu thuyết. Quá trình đổi mới này còn trải qua nhiều thử thách, có những thể nghiệm chưa tới và cũng có những thể nghiệm thành công. Do hoàn cảnh đặc thù của đời sống văn hóa, xã hội, tiểu thuyết Việt Nam còn tồn tại sự chồng chéo giữa truyền thống, hiện đại và hậu hiện đại. Đây là một nét đặc biệt vừa nói lên thực trạng của tiểu thuyết nước nhà so với những bước tiến vượt bậc tiểu thuyết ở các nền văn học khác bên ngoài lãnh thổ, vừa cho thấy sắc thái riêng biệt của tiểu thuyết hiện đại thế giới khi đi vào một hoàn cảnh cụ thể. Song điều không thể phủ nhận là những nỗ lực trong lao động nghệ thuật của các thế hệ nhà văn đã bộc lộ tâm huyết và nội lực sáng tạo của từng chủ thể cũng góp phần thúc đẩy tiểu thuyết phát triển. Trên cơ sở đó, người đọc có thể hy vọng ở sức sống của tiểu thuyết trong tương lai” (tr.84-85). Đấy chính là kết quả của sự hội nhập và giao lưu văn hoá và văn học với thế giới. Tầm đón đợi của nhà văn và sự vẫy gọi của các nền văn học chính là nhân tố và động lực để đổi mới nền văn học, trong đó, tiểu thuyết là năng động tiên phong, hiệu quả và sống động nhất.

Bên cạnh những nhận diện và xác quyết trên, Bích Thu còn củng cố thêm cái nhìn thông tỏ về tài năng, kinh nghiệm của mỗi chủ thể sáng tạo khi chỉ ra một cách thuyết phục sự phản tư, nhận thức lại cuả văn xuôi đương đại nước ta những năm sau công cuộc Đổi mới (1986) qua tiểu luận Khuynh hướng tái nhận thức trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Tính khách quan, biện chứng của sự nhận thức lại được xác định cụ thể: “Nhận thức lại ở đây không có nghĩa là phủ nhận, gạt bỏ những thành quả trí tuệ chúng ta đã đạt được mà là yêu cầu khám phá, lí giải sâu hơn phạm vi hiện thực trước đây (do yêu cầu lịch sử) chưa được chú ý đúng mức. Vào những năm tám mươi của thế kỷ XX và đặc biệt trong giai đoạn Đổi mới, khuynh hướng tái nhận thức phát triển mạnh mẽ, mang đậm cảm hứng phê phán và nhân văn. Nhà văn đánh giá lại các vấn đề của hiện thực trong quá khứ và hiện tại theo tinh thần hiện đại, trả lại giá trị vốn có và làm sáng tỏ những vấn đề, những khía cạnh một thời bị lãng quên, cấm kỵ hoặc chưa được nhìn nhận thỏa đáng” (tr.90). Từ đó, những vấn đề lớn và trọng đại của dân tộc được các nhà văn nhìn nhận lại trên tinh thần nhìn thẳng sự thật, nói đúng sự thật, nhất là vấn đề chiến tranh cách mạng và sự thật người lính ở chiến trường: “Vẫn hướng tới mục đích phản ánh cuộc kháng chiến vĩ đại, khẳng định chính nghĩa và phẩm giá dân tộc, ca ngợi những người lính quả cảm đã vì nước quên thân, vì dân phục vụ nhưng từ sau 1986, nhà văn đã chú ý hơn vào yêu cầu “nói đúng sự thật”, phản ánh chân thực sự thật. Không bằng lòng với hiện thực được lý tưởng hóa một chiều, họ quan niệm không chỉ nói tới thắng lợi, vinh quang mà còn nói đến tổn thất, hy sinh, không chỉ nói đến niềm vui, tinh thần lạc quan mà còn nói đến nỗi đau, đến bi kịch do chiến tranh gây ra (...) Các tiểu thuyết sau này đã nhìn nhận nhân vật ở phía ta lẫn phía kẻ thù với cái nhìn đa chiều kích. Nhân vật phía chính nghĩa bên cạnh bản chất kiên cường của người lính cũng là con người bình thường không tránh khỏi cảm giác đau thương trước tổn thất, mất mát, trước những khủng khiếp, kinh hoàng của chiến tranh. Nhân vật bên kia chiến tuyến không còn là người - thú đơn thuần như đã được miêu tả trong văn học trước 1975 mà cũng là con người với những tình cảm của con người đời thường trước vợ con, người thân. Các tiểu thuyết kể trên đã hướng tới thông điệp: chiến tranh là bi kịch chung của dân tộc, kể cả phía ta hay phía bên kia, và viết về chiến tranh với cái nhìn ‘chiến tranh như một thi pháp’” (tr.92-94). Có thể nói đây là cái nhìn vô cùng mới mẻ của tiểu thuyết chiến tranh sau chiến tảnh, toát lên cái nhìn nhân văn tối đa và nhận thức tối đa, đạo đức tối đa của nhà văn mà Bích Thu đã tinh tế nhận ra.

Đề tài nông thôn và hình tượng người nông dân trong các tác phẩm viết về đề tài cải cách ruộng đất và nạn địa chủ cường hào cũng được nhìn nhận lại theo tinh thần phản tỉnh/ phản tư và đối thoại mới một cách dân chủ. Vấn đề “văn hoá làng” và “đạo đức - văn hoá truyền thống” với những ứng xử sai lầm của một bộ phận lãnh đạo được các nhà văn tái hiện và phân tích kỹ lưỡng,  có lý có tình nhưng không bỏ qua những ngộ nhận, ấu trĩ và có phần tàn bạo... do từng cá nhân gây ra trong cơn lốc kinh hoàng của những biến cố lịch sử: “Các tiểu thuyết viết về nông thôn nói chung và cải cách ruộng đất nói riêng đã đem lại cái nhìn mới, nhận thức mới về quá khứ cũng như về hiện tại với sự hòa quyện giữa cảm hứng phê phán và cảm hứng nhân văn, nhấn mạnh đến quyền sống cá nhân của con người” (tr.97). Tất cả đều xuất phát từ chủ trương Đổi mới của Đảng và ý thức nghệ thuật, ý thức công dân tích cực cuả từng tác giả: “Từ sau 1986, văn học vận động theo khuynh hướng dân chủ hóa, đổi mới quan niệm về văn học, phát huy cao độ cá tính sáng tạo của chủ thể. Trước những vấn đề phức tạp của đời sống và trong phong trào nhìn thẳng vào sự thật, nói thật, viết thật, người cầm bút phải tìm tòi để có những khám phá, đánh giá và lý giải mới, độc đáo. Trong văn học cũng như trong các loại hình nghệ thuật khác, thái độ tự vấn, ý thức cảnh tỉnh và tinh thần tái nhận thức lịch sử... là những dấu hiệu cho thấy một nền văn học đang chuyển mình, vượt qua chính mình. Và trong quá trình đó, tiểu thuyết với tính cách một thể loại năng động, chưa hoàn thành, đã có sự đổi mới cả về nội dung và phương thức thể hiện thực tại” (tr.100).

Khái quát đặc điểm và diện mạo tiểu thuyết hiện đại và đương đại Việt Nam, Bích Thu đã không bỏ qua yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của văn học, đó là ngôn ngữ - chất liệu làm nên sự tồn tại của tác phẩm. Ngôn ngữ tiểu thuyết Việt Nam đương đại là tiểu luận công phu và có lượng thông tin cao, giúp cho người đọc hiểu đúng và sâu về ngôn ngữ/ diễn ngôn tiểu thuyết thời đương đại một cách cụ thể và thuyết phục. Bích Thu chú mục đến nguyên lý đối thoại trong tiểu thuyết đương đại với tính mới mẻ và hiện đại, đa thanh của nó ở cấp độ từ vựng, cấp độ đối thoại, độc thoại và cấp độ diễn ngôn... để thấy quá trình đổi mới và hiện đại đại hoá ngôn ngữ là một trong những thi pháp tự sự tổng hợp khá mới lạ, bất ngờ: “Bản thân tính văn xuôi đã chứa đựng trong nó tính tổng hợp của ngôn ngữ tiểu thuyết. Do yêu cầu cá thể hóa cao độ ngôn ngữ trần thuật nên tiểu thuyết thâu nạp nhiều kênh ngôn ngữ với các dạng thức lời nói khác nhau của các tầng lớp trong xã hội. Với không khí dân chủ hóa của đời sống văn học, các nhà tiểu thuyết cũng sáng tạo các kiểu diễn ngôn tương ứng với vấn đề mà tiểu thuyết đề cập đến: diễn ngôn về văn học chấn thương, về thế sự đời tư, về chiến tranh, về đề tài lịch sử, về tự truyện... Hơn lúc nào hết, trong thời kỳ đổi mới, nhà văn được giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào một kênh ngôn ngữ, một loại hình giao tiếp thẩm mỹ đã được quy định và chi phối cách viết của họ một thời. Tiểu thuyết miêu tả hiện thực và con người như nó vốn có, như cái hiện tại đương thời của người trần thuật, ngôn ngữ tiểu thuyết không chỉ được soi sáng bởi ngôn ngữ tác giả mà còn được soi sáng bởi ngôn ngữ nhân vật. Tính đối thoại nội tại là một yếu tố cơ bản trong ngôn ngữ tiểu thuyết. Tác giả hoàn toàn không trung lập mà cùng tranh luận với nhân vật. Ngôn ngữ tiểu thuyết đương đại không thỏa mãn với một ý thức, một tiếng nói, luôn mang tính đa thanh” (tr.104).

Với đặc điểm ngộn ngữ mới lạ như trên đã kéo theo sự đổi mới về giọng điệu của nhân vật, thể hiện tính đa dạng về những quan hệ mới của thời họ sống: “Việc hòa giọng, tạo nên những giao hưởng giọng điệu đem lại những hiệu quả đặc biệt trong quá trình khám phá, phát hiện những bí ẩn của đời sống nội tâm nhân vật, đặc biệt là những trạng thái day dứt, bất ổn, lẫn lộn ý thức và vô thức. Với những trạng thái khó nắm bắt như vậy, không thể dùng một thứ ngôn từ thuần khiết, trong suốt và tách bạch - vì dễ dẫn đến hệ quả mô hình hóa hiện thực theo những hình dung và đón đợi truyền thống của người đọc. Thế giới tự sự lúc này không còn được tái hiện theo một quy định, áp đặt chung, do vậy tính đối thoại trong giọng điệu, ngôn ngữ trở nên mạnh mẽ, triệt để hơn; giọng của nhân vật cũng có ‘thẩm quyền’ ngang với giọng của tác giả, các ngôi kể đều có đóng góp của mình trong việc tái tạo sự kiện và cảm xúc. Lúc này, tác giả không chỉ mô tả cái ngôn ngữ ấy mà còn nói bằng ngôn ngữ ấy” (tr.106-107). Những nhận định và đúc rút có tính lý luận và thực tiễn như trên, chứng tỏ Bích Thu đã nhập vai, sống trải với nhân vật cùng diễn ngôn đối thoại và độc thoại nội tâm của các nhân vật tiểu thuyết đương đại một cách thấu cảm, sâu sắc. Các kiểu ngôn ngữ và giọng điệu đó chính là kết quả của kỹ thuật dòng ý thức mà Bích Thu đã khám phá cụ thể qua các tiểu thuyết đương đại một cách thú vị, bất ngờ. Tác dụng của kỹ thuật này là vô cùng logic trong việc miêu tả con người hiện đại hoặc con người mang tâm thức hậu hiện đại: “Kỹ thuật dòng ý thức sử dụng thời gian đồng hiện, hồi ức, hoài niệm, dòng suy tưởng, giấc chiêm bao nhằm để nhân vật tự bộc lộ những miền sâu kín của tâm hồn nằm ngoài vòng kiềm tỏa của ý thức con người. Giấc mơ và hồi ức là đặc điểm của nhân vật dòng ý thức. Nhiều tiểu thuyết trong thời kỳ đổi mới đã sử dụng môtip giấc mơ, giấc chiêm bao như một ngôn ngữ độc thoại đặc biệt để giải mã thế giới vô thức của con người” (tr.109). Từ đó, Bích Thu luận giải một cách mới mẻ tài năng sử dụng ngôn ngữ đối thoại của các nhà văn Việt Nam thời kỳ hội nhập là nằm trong xu thế chung về nghệ thuật trần thuật của văn xuôi đương đại thế giới: “Có thể thấy, nếu đưa những đối thoại về đúng dạng của nó, các đối thoại sẽ luôn thuộc về thì hiện tại. Tuy nhiên, bằng cách kéo đối thoại vào những dòng độc thoại nội tâm, đối thoại đã thuộc về dòng hồi tưởng miên man của nhân vật. Quá khứ thật xa xôi nhưng cũng như vừa mới đây, như là ‘dĩ vãng phía trước’. Quá khứ vừa khách quan nhưng cũng thật chủ quan qua góc nhìn của người hồi tưởng. Những giọng nói được vang vọng trỗi dậy từ quá khứ. Chính điều đó đã tạo nên một thứ ngôn ngữ trần thuật vừa mới mẻ, hiện đại vừa đạt hiệu quả thẩm mĩ trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau Đổi mới. Tất nhiên, để đạt đến cái gọi là ‘tiểu thuyết đa thanh’ như Bakhtin đưa ra trong lý thuyết tiểu thuyết của ông, thì phía sau tính đa âm của ngôn ngữ, giọng điệu phải là tính đa âm của tư tưởng: giọng trần thuật là nơi hội ngộ các luồng tư tưởng, đối thoại với nhau, ánh xạ lên nhau, chi phối và cấu tạo lẫn nhau. Ngôn ngữ tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986 đã nỗ lực hướng đến sự đa thanh, đến tính đa âm nhưng hầu như đó là sự đa âm về sắc điệu cảm xúc, về sắc thái thẩm mĩ hơn là khuynh hướng tư tưởng” (tr.110-111). Đây là những đúc kết rất hay và bất ngờ mà nếu không có kiến thức chung về đặc trưng văn xuôi hiện đạị trên thế giới thì khó có cái nhìn đối sánh cập nhật như vậy.

***

Như vậy là tôi đã tiếp nhận công trình Văn học Việt Nam hiện đại - Sáng tạo và tiếp nhận của nhà phê bình văn học Bích Thu với sự đồng cảm và đồng thuận cao về những vấn đề có liên quan đến đặc trưng thi pháp và diện mạo tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Chúng tôi đánh giá cao những kết quả khoa học tường minh và khả năng vẫy gọi theo hướng đối thoại mở (open dialogue) của công trình. Là người đồng hành với văn chương cùng thời, Bích Thu đã thực sự tâm huyết và không ngần ngại phiêu lưu vào từng con chữ của tiểu thuyết để rút ra những nhận định và kết luận có tính xác quyết về một thể loại được xem là phức tạp nhất cuả một nền văn học. Và tác giả đã thực sự nhận lại những giá trị cân bằng qua sự đón nhận và sự thõa mãn nhận thức của người đọc và đồng nghiệp. Tác phẩm vinh dự đạt Giải A của Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương năm 2016 và Tặng thưởng của Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội năm 2016.

Do được viết trước khi ấn hành (2015) nên một số bình diện và vấn đề thuộc diện mạo chung của tiểu thuyết như: tâm thức hậu hiện đại và thi pháp hậu hiện đại được các nhà văn vận dụng và thể hiện như thế nào trong tiểu thuyết đương đại, tác giả chỉ nêu qua, chứ chưa kịp nghiên cứu sâu để đưa vào công trình. Đó là điều đáng tiếc trong việc nhận diện toàn bộ tiến trình vận động và phát triển của tiểu thuyết nước ta trên hành trình hiện đại và đương đại. Vì vậy mà người đọc đang chờ đợi những kết quả nghiên cứu bổ khuyết mới của PGS.TS Bích Thu ở những công trình nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo.

H . T . H 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Lê Văn Sự - Tiếng thơ của vùng ký ức
Lê Văn Sự, nguyên là giáo viên dạy toán, nhưng tâm hồn thơ dào dạt, làm nên những vẻ đẹp “phi logic” của ngôn ngữ thơ. Không “đại ngôn”, nhưng phải nói rằng, anh là một nhà thơ “toàn tòng”. Cho đến nay, Lê Văn Sự đã xuất bản 11 tập thơ, trong số 12 tác phẩm đã công bố của anh. Anh là tiếng thơ cất lên từ làng bước ra xa lộ, nâng niu, đắm đuối ký ức.
Xem thêm
Thơ Trương Trọng Nghĩa từ góc nhìn phê bình sinh thái
Hành trình sáng tạo tuy chưa dài và còn nhiều dự cảm, nhưng Trương Trọng Nghĩa đã tự khẳng định tâm thế và tâm cảm của mình để hình thành chất thơ và thi pháp cá nhân. Thơ anh nặng sâu tình người, tình quê hương, xứ sở. Và trong quá trình đô thị hóa của xã hội Việt Nam thời hiện đại, nó giúp nhà thơ và giúp người đọc tìm về nguồn cội để được sống lại trong không - thời gian sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn trong sáng, thanh bình cho mỗi phận người và mỗi kinh nghiệm quan hệ người
Xem thêm
Trương Nam Hương – Thi sĩ tuổi Mèo với những câu thơ đẹp như nỗi buồn
Thơ Trương Nam Hương tài hoa mà đằm thắm, đau đáu với mẹ cha, quê nhà và những ân tình không thể nguôi quên. Nhân sinh nhật lần thứ 63 của nhà thơ (23/10/1963 – 23/10/2026), Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của Lê Huy Hòa như một món quà thân tình gửi đến anh – người thi sĩ vẫn bền bỉ gìn giữ những miền xanh trong trẻo của tâm hồn.
Xem thêm
Ấm áp những nụ cười trong tập thơ “Có phải cô là nắng” của Phan Thanh Tâm
Có phải Cô là nắng là tác phẩm thứ 9 và Tuyển tập thơ thứ 2 viết cho thiếu nhi của Nhà văn Phan Thanh Tâm. Tập thơ có 50 bài thơ đề cập đến nhiều chủ đề với cái nhìn dễ thương của trẻ thơ.
Xem thêm
Thơ ca và những tấm lòng đồng điệu trong buổi ra mắt sách của Phan Thanh Tâm
Bởi suy cho cùng, những hạt nắng đẹp nhất trong thơ thiếu nhi chính là những hạt nắng được gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ.
Xem thêm
Tôi gọi Hoa của nước là hoa chữ trường ca
Tôi gọi Hoa của nước của nữ nhà văn Trầm Hương là “Hoa chữ trường ca”. Đây không phải sự tung hô tùy hứng, càng không phải lời khen dành cho tác phẩm của nhà văn đương đại tại TP.HCM. Hoa của nước đẹp nhưng không phải do tô điểm thành nên!
Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm