TIN TỨC

Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-07-26 01:16:28
mail facebook google pos stwis
1468 lượt xem

Trung tướng, PGS.TS Nguyễn Đức Hải

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng "máu trộn bùn non" vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.

 

Trung tướng, PGS.TS Nguyễn Đức Hải

 

Hành trình 500 ngày đêm ấy là tiếng gọi từ sâu thẳm tâm linh và đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" được hun đúc từ ngàn đời của dân tộc. Những cựu chiến binh tóc đã điểm bạc, những nhân chứng lịch sử, các nhà khoa học và cả những người phía bên kia chiến tuyến một thời, những chiến sĩ làm nhiệm vụ quy tập mộ liệt sĩ ngày đêm không quản ngại hiểm nguy, cùng những người con, người cháu đi tìm cha ông mình đã vượt qua những gian khổ dọc dài theo năm tháng. Từ biên giới phía Bắc cho đến miền Trung - Tây Nguyên, Nam Bộ, từ các chiến trường trên đất bạn Lào, Campuchia, đâu đâu cũng in dấu chân của những người đi tìm đồng đội. Sự khắc nghiệt của thiên nhiên, của địa hình hiểm trở đôi khi chỉ là thử thách nhỏ so với sức nặng của nỗi trăn trở chưa nguôi trong lòng những người ở lại. Trên những cung đường mòn biên cương, mồ hôi của những người đi tìm đã rơi thấm đẫm vai áo, hòa vào đất mẹ. Có những ngày nắng cháy da thịt làm khô rát cổ họng, có những buổi chiều rừng tầm tả nước cuốn dâng cao, chân bước đi lún sâu trong bùn lầy, nhưng không một ai chùn bước. Mỗi nhát cuốc, nhát xẻng cẩn trọng từng centimet đất đều chứa đựng sự nâng niu, kính cẩn, bởi họ sợ làm tổn hại đến hài cốt mong manh của các anh, các chị qua năm tháng dài đằng đẵng. Tìm kiếm một mảnh vải quân phục đã mục, chiếc cúc áo mang hình ngôi sao năm cánh, chiếc lược ngà, hay một góc võng dù thân thương là cả một sự kiên nhẫn vô bờ bến, là sự kết tinh của tình đồng chí, nghĩa đồng bào thiêng liêng cao đẹp.

Mỗi lần tìm được hài cốt, giọt nước mắt của người đang sống rơi xuống thấm vào hình hài, nắm đất nơi các anh yên nghỉ suốt mấy chục năm qua như tấm lòng tri ân với đồng đội yêu thương. Đó còn là nước mắt của những người thân mỏi mòn chờ đợi, và cả những người đã về với thế giới người hiền nhưng vẫn mang theo ước vọng khôn nguôi được đón các con trở về. Những giọt lệ chực trào khi những đoàn người đến dâng hương nơi các anh, các chị nằm lại, những linh cữu, di vật, di ảnh xếp hàng dài được phủ lên lá cờ đỏ sao vàng thiêng liêng của Tổ quốc, gói trọn biết bao niềm xúc động và lòng kính trọng vô bờ.

Giữa hành trình tìm kiếm và tri ân ấy, biết bao câu chuyện thực tế về sự hy sinh, về tình người và lòng thủy chung đã làm lay động tâm can của bao thế hệ. Đó là câu chuyện cổ tích giữa đời thường về mối tình sắt son gần 60 năm của liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người vợ chưa cưới Nguyễn Thị Lệ ở Tây Ninh. Ngày ấy, cô gái trẻ Nguyễn Thị Lệ tham gia tiếp tế, may vá quân phục, rồi tình cờ bén duyên với người chiến sĩ giải phóng quân Huỳnh Văn Quên qua những lá thư tay viết vội giữa đạn bom. Trước khi lên đường ra trận và mãi mãi nằm lại chiến trường, anh hẹn ước: "Đánh thắng trận này anh sẽ về cưới em". Má anh đã trao cho chị nhẫn và đôi bông tai làm hồi môn. Thế nhưng, lời hứa ấy đã vĩnh viễn nằm lại nơi khói lửa. Giữ trọn nghĩa vẹn tình, suốt ngót nghét 60 năm qua, dù chưa một lần tổ chức đám cưới, bà Lệ vẫn một mình ở vậy, coi cha mẹ chồng như ruột thịt, chăm lo giỗ chạp và giữ gìn chiếc nhẫn hồi môn như báu vật. Đến những năm tháng tuổi xế chiều, khi những nỗ lực tìm kiếm, quy tập hài cốt đồng đội từ các chiến trường tiếp tục được đẩy mạnh, tình yêu và lòng thủy chung của bà Lệ cuối cùng đã được vẹn tròn khi bà chính thức được các cơ quan chức năng tỉnh Tây Ninh và gia tộc họ Huỳnh công nhận là vợ liệt sĩ. Khoảnh khắc nghẹn ngào tự hào gọi hai tiếng "chồng tôi" của bà ở tuổi tám mươi đã chạm đến tầng sâu thẳm của nỗi xúc động lòng người.

Bên cạnh mối tình thủy chung ở Tây Ninh, hành trình ấy còn vang vọng biết bao câu chuyện nghẹn ngào khác. Đó là câu chuyện của người mẹ già ở vùng quê Quảng Trị, người đã ròng rã suốt nửa thế kỷ ôm hy vọng tìm lại mộ con, di vật, di ảnh của ba người con trai cùng nhập ngũ và mãi mãi không trở về. Mỗi lần đội quy tập tìm thấy một bộ hài cốt kèm theo di vật là chiếc bút máy khắc tên hay mảnh vải dù, lòng mẹ lại thắt lại, dẫu biết rằng các anh, các chị đã hóa thân vào hồn thiêng sông núi, nhưng nỗi mong mỏi da diết được ôm lấy hình hài con vẫn chưa bao giờ nguôi ngoai. Hay câu chuyện cảm động về người cựu binh già tại mặt trận biên giới, dẫu tuổi cao sức yếu, vết thương chiến tranh vẫn đau nhức mỗi khi trái gió trở trời, nhưng cứ đến mùa quy tập là các đồng đội cũ lại dìu nhau trèo đèo lội suối, dò dẫm từng khe đá, vách hầm để tìm cho bằng được hài cốt của anh em chiến hữu còn nằm lại chốn biên cương lạnh giá. Khi hài cốt được phát hiện và nâng lên, khi tên tuổi của các anh, các chị được xác định bằng công nghệ ADN hiện đại hay qua những kỷ vật khôi phục, nỗi đau mấy chục năm đằng đẵng bỗng chốc hóa thành sự nghẹn ngào tự hào. Các anh, các chị đã thực sự trở về, trọn vẹn trong vòng tay yêu thương của đồng đội, của xóm làng, của quê hương.

Và còn rất nhiều câu chuyện tình người với liệt sĩ của một dân tộc đã trải qua cuộc chiến tranh tàn khốc để giải phóng, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế không thể nói hết.

"Nửa thế kỷ đợi chờ, gác lại những đau thương,

Các anh, chị đã về trong vòng tay đất mẹ,

Nén giọt lệ mừng, vơi đi thương nhớ,

Trọn vẹn nghĩa tình, trọn vẹn non sông..."

Nhìn lại hành trình tìm kiếm gian khó và đầy xúc động ấy, mỗi chúng ta lại càng thấu hiểu sâu sắc hơn giá trị vô giá của hòa bình hôm nay. Để đất nước có được bầu trời bình yên, có những đô thị phồn vinh, những nụ cười trẻ thơ rạng ngời và một vị thế vững chắc trên trường quốc tế, biết bao thế hệ cha anh, các chị đã dâng hiến cả thanh xuân, xương máu và tuổi đời của mình. Các anh, các chị đã ngã xuống để sự sống được sinh sôi, để độc lập tự do nở hoa trên dải đất hình chữ S. Hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm và xác định danh tính liệt sĩ vì thế là biểu tượng của lòng tri ân sâu sắc, là lời khẳng định mạnh mẽ rằng: Tổ quốc và nhân dân chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ quên lãng những người con ưu tú đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho non sông.

Mỗi hài cốt liệt sĩ được tìm thấy, mỗi cái tên được gạch bỏ khỏi danh sách "chưa rõ danh tính" từ biên giới phía Bắc, miền Trung - Tây Nguyên, Nam Bộ cho đến những chiến trường trên đất bạn Lào, Campuchia, là một mảnh ghép được hàn gắn vào bức tranh lịch sử hào hùng nhưng đầy đau thương của dân tộc. Nỗi đau chiến tranh tuy vẫn còn đó, nhưng mồ hôi và nước mắt của ngày hôm nay đã tưới mát cho những mầm xanh hòa bình tiếp tục vươn lên mạnh mẽ. Nguyện cầu cho hành trình 500 ngày đêm tiếp tục gặt hái thêm nhiều thành quả xúc động, để những người lính năm xưa sớm được đoàn tụ với khói hương quê nhà, để ngọn lửa tri ân mãi bùng cháy trong tim mỗi người dân đất Việt hôm nay và mai sau, cho thế hệ mai sau mãi mãi khắc ghi công ơn trời biển của những người đã ngã xuống cho Tổ quốc trường tồn.

Thành phố Hồ Chí Minh, 24/7/2026

N.Đ.H

Trung tướng, PGS.TS Nguyễn Đức Hải – Nguyên Viện trưởng Viện chiến lược Quốc phòng/Bộ Quốc Phòng.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Kiến nghị lấy ngày 27/7 làm ngày Quốc giỗ
Tôi quan niệm rằng sự hy sinh của những người con đất Việt không bị giới hạn bởi một thời đại, một cuộc chiến tranh hay một thế hệ. Tất cả những người đã hy sinh vì độc lập, tự do và sự trường tồn của đất nước đều xứng đáng được các thế hệ hôm nay và mai sau tưởng nhớ. Bởi vậy, khi bàn về Ngày Quốc giỗ, cần phân biệt rõ giữa việc lựa chọn một ngày tưởng niệm chung và việc bảo đảm sự tri ân đối với từng đối tượng, từng giai đoạn lịch sử. Hai việc này không nhất thiết loại trừ nhau.
Xem thêm
Những người đi qua Trường Sơn – 55 năm một lời hẹn
Bài đăng Đặc san của Hội Nhà báo TPHCM chào mừng Đại hội Hội Nhà báo TPHCM
Xem thêm
Về bến Lộc An
Bài đăng báo Cựu chiến binh Việt Nam
Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm