TIN TỨC

Hà Nội và nỗi niềm hoa sữa – Tản văn Đào Thị Thu Hiền

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-10-28 10:14:21
mail facebook google pos stwis
17 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhớ đến những mùa hoa Hà Nội, những người yêu mảnh đất này không thể không nhắc đến mùa hoa sữa. Đó là một mùa hoa nhưng cũng có thể gọi về cả mùa thơ, mùa nhạc khiến cho đất trời thủ đô khoảnh khắc cuối thu chầm chậm sang đông bỗng trở nên rạo rực, thao thức, nồng nàn với những vấn vương bởi cái hương thơm ngọt ngào, đằm sâu, quyến rũ đang dịu dàng gửi vào trong gió. Mùi hương ấy làm cho bao bước chân qua không khỏi ngập ngừng như thể đang bị níu lại. Có lẽ vì thế mà loài hoa này, từ lâu, đã được xem là tình yêu và nỗi nhớ của người Hà Nội.

 

Hoa sữa Hà Nội. Ảnh Dân Trí

 

Mỗi khi đất trời Hà Nội chuẩn bị sang thu, hay đâu đó người Hà Nội ly hương chạm tiết thu về, hẳn là trong lòng không khỏi ngân lên những giai điệu tha thiết, ngọt ngào như “Hoa sữa vẫn ngọt ngào đầu phố đêm đêm…” hay “Mùa hoa sữa về, thơm từng cơn gió…” để rồi lại ngậm ngùi “Nhớ phố Quang Trung, đường Nguyễn Du những đêm hoa sữa thơm nồng...”. Và cũng có khi còn chất chứa cả những nỗi niềm bâng khuâng trong ký ức “Ta còn em mùi hoa sữa…” với bao tiếc nuối, xót xa “Chỉ còn mùi hoa sữa nồng nàn trong căn phòng nhỏ…” cùng những hoài niệm về một thời “Hoa sữa thôi rơi, em bên tôi một chiều tan lớp”... Cứ thế, những tưởng cây hoa sữa - biểu tượng của trời thu Hà Nội sẽ ăn đời ở kiếp với người thủ đô.

Nghĩ vậy nhưng không phải vậy. Có lẽ, do cái cảm xúc ban đầu với loài hoa ấy quá sâu đậm, đến mức lấn át cả ý chí. Người Hà Nội cứ thế mang hoa sữa về trồng dày đặc trên các tuyến đường, để rồi những đêm thu hôm nay, nhiều con phố thực sự không còn cái hương vị “ngọt ngào đầu phố” năm nào. Thứ sắc hương từng đi vào trong thơ ca đầy thi vị một thời nay đã hoá thành nồng nặc bởi hương toả đậm sâu quá mức khiến cho không gian phố thị trở nên đặc quánh tưởng chừng ngộp thở đến khó chịu. Chính vì thế, những chùm hoa sữa từ một biểu tượng rất thơ mộng và rất đáng yêu đã biến thành một loài cây “tội đồ” trên phố, khiến người ta phải hô hào chặt bỏ hay bước vội để qua mau mỗi khi giáp mặt.

Rồi thậm chí, những ngày qua, cây hoa sữa ở Hà Nội đã phải chịu không ít lời “cay nghiệt”, có người còn dùng cả công nghệ AI để chế ra biết bao hình biếm hoạ đầy mỉa mai với một loài cây một thời là hồn cốt của mùa thu nơi phố phường kẻ chợ. Thật là tạo hoá trớ trêu, sớm nổi thì chóng tàn, hồng nhan phải chịu bạc phận. Xem những dòng trạng thái của người đời với hoa sữa trên mạng xã hội mà tôi lại nghĩ đến câu thơ của Nguyễn Du “Lạ gì bỉ sắc tư phong/ Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” mà thương cho hoa ấy. Thực ra, cây hoa sữa đâu có lỗi. Có phải bây giờ hoa sữa mới “nồng nàn” thế đâu? Cách đây hơn nửa thế kỷ, trên đường Nguyễn Du hay phố Quang Trung, trong mỗi đêm thu về hoa sữa đã chẳng từng ngọt ngào và dịu dàng đưa hương êm đềm khiến cho bao người bị phải lòng mà đắm say, ngây ngất đó sao? Cho nên, cái lỗi “nồng nặc” quá đỗi ở đây là do khâu quy hoạch. Người ta yêu “hoa hậu” nhưng chẳng hiểu gì về “hoa hậu” dẫn đến phũ phàng và sẵn sàng làm tổn thương “hoa hậu” một cách tàn nhẫn... Giá như, người làm quy hoạch hiểu về đặc tính của hoa sữa mà trồng điểm loáng thoáng xen cùng các loài cây khác thì cả khu phố đâu nên nỗi, người qua phố đâu phải chịu cảnh khó chịu đến mức che mồm, bịt mũi như tránh “hủi”... Và nếu thế, tất nhiên hoa sữa cũng đâu có bị tổn thương, đâu phải chịu bao lời thị phi oan uổng.

Nghĩ thế tôi không khỏi phát hoảng trước những cơn giận của ai đó với cây hoa sữa. Rồi lại tưởng tượng ra, nếu một mai Hà Nội không còn hoa sữa nữa thì mỗi mùa thu về hương sắc phố phường của thành phố liệu rồi sẽ ra sao? Khi ấy, thiếu nữ Hà Thành lướt đi trên những đường phố còn đâu hương thu vương trên làn tóc mây hay thoảng vào trong gió vấn vít trên những chiếc khăn quàng cổ khi đông chớm về. Cứ miên man như thế rồi tôi chợt nhận ra Hà Nội không chỉ đẹp bởi những thanh sắc mà còn đằm sâu bởi hương vị đặc trưng của mỗi mùa được toả ra từ mỗi chùm hoa, mà mùa thu chắc chắn là hương sữa ngọt ngào, đượm nồng, ấm áp. Cái mùi hương ấy không chỉ đánh động nơi khứu giác mà còn thức dậy cả những con tim. Bởi thế, hương hoa sữa toả bay trong gió đã làm cho không ít người Hà Nội xa quê luôn cảm thấy trong mình chất chứa một tình yêu xứ sở nồng nàn thoảng trong nỗi nhớ mùa thu. Ký ức ấy cứ bồi lắng, tích tụ thành một miền nhớ thương da diết trong tim và một lúc nào đó vô tình chạm phải bỗng trỗi dậy thành cháy bỏng: “Ngày xưa tôi thầm yêu một nàng thiếu nữ/ tóc em dài như gió mùa thu/ mùa thu khi hoa sữa thơm ven mặt hồ”; “Tình yêu đầu mang hương sắc mùa thu/ Mùi hoa sữa tan trong áo em và mái tóc”, “Hà Nội vào thu, hoa sữa đã kịp nở chưa anh/ Hương có còn nồng nàn như đêm trăng ngày cũ…/ Sài Gòn giờ chưa đến mùa ngâu/ Vậy mà nghe hoa sữa bỗng nghẹn ngào, thổn thức”… Cho nên với người Hà Nội, hương hoa sữa còn là mùi của hoài niệm trong lòng những kẻ tha hương. Điều ấy cũng dễ hiểu, người Hà Nội ở đâu đó xa xôi chỉ cần ngửi thấy hương hoa sữa là tự dưng nước mắt rất dễ chảy ra và trong hồn người lại hiện ra một góc nhỏ phố xưa bên những căn gác cũ rêu phong, nghiêng nghiêng trong nắng vàng rót mật.

Nhiều lúc lang thang trên cõi mạng, lắng nghe những ồn ào về hoa sữa của Hà Nội, bất chợt tôi lại nhớ đến vần thơ Haiku của nữ sĩ Chiyo: “Ôi hoa triêu nhan/ Dây gàu vương hoa bên giếng/ Đành xin nước nhà bên” mà không khỏi chạnh lòng nghĩ về phận hoa sữa trong những ngày qua. Người thương cảm thấy yêu mến sự ngọt ngào, quyến rũ; kẻ thị phi kêu kêu nồng nặc, nhức đầu. Facebook giờ đây tựa như một bãi chiến trường và cuối cùng phe thương hoa tiếc ngọc đành bất lực ngắm nhìn người “xịt mưa rào”, kẻ thẳng tay cắt cành, đốn gốc. Thế rồi, bất giác tôi lại thèm một cách hành xử của thi sĩ người Nhật. Ta thà chịu phần bất tiện về mình, chấp nhận sang xin nước nhà bên chứ không nỡ kéo dây gàu để gây tổn thương cho một nhành hoa dại nhỏ bé đang quấn quýt ở bên giếng nước. Rồi lại chợt nghĩ, giá như thay vào sự giận dữ kia bằng một tấm lòng trắc ẩn với cỏ cây hoa lá cùng việc quy hoạch, sắp xếp lại cây xanh thì nàng thơ của thành phố vì hoà bình, ngàn năm văn hiến đâu có bị hắt hủi hay chịu phận buông lời nghiệt ngã đến đáng sợ. Nếu được như thế, hẳn là khi thu về, thành phố của chúng ta lại “Hoa sữa vẫn ngọt ngào đầu phố đêm đêm…” để thức dậy những con tim và lắng đọng thành mùi hoài niệm thiêng liêng trong lòng kẻ ở người đi khi mỗi độ heo may lành lạnh kéo về!

Đ.T.T.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Kiến nghị lấy ngày 27/7 làm ngày Quốc giỗ
Tôi quan niệm rằng sự hy sinh của những người con đất Việt không bị giới hạn bởi một thời đại, một cuộc chiến tranh hay một thế hệ. Tất cả những người đã hy sinh vì độc lập, tự do và sự trường tồn của đất nước đều xứng đáng được các thế hệ hôm nay và mai sau tưởng nhớ. Bởi vậy, khi bàn về Ngày Quốc giỗ, cần phân biệt rõ giữa việc lựa chọn một ngày tưởng niệm chung và việc bảo đảm sự tri ân đối với từng đối tượng, từng giai đoạn lịch sử. Hai việc này không nhất thiết loại trừ nhau.
Xem thêm
Những người đi qua Trường Sơn – 55 năm một lời hẹn
Bài đăng Đặc san của Hội Nhà báo TPHCM chào mừng Đại hội Hội Nhà báo TPHCM
Xem thêm
Về bến Lộc An
Bài đăng báo Cựu chiến binh Việt Nam
Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm