TIN TỨC

Một hải trình để những bến bờ xa gần lại

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-09-24 20:48:07
mail facebook google pos stwis
754 lượt xem

NGUYÊN HÙNG

Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.


Tàu KN-491 trước giờ xuất bến.

Với tôi, hải trình đến các đảo vùng biển Tây Nam và Nhà giàn DK1/10 trong tháng 9/2026 là một chuyến đi khá đặc biệt. Lần này, tôi và họa sĩ Hồ Minh Quân, tuy là cư dân TP.HCM, lại tham gia Đoàn của Thành phố với tư cách khách mời của Quân chủng Hải quân.
 

Từ thành phố, mang theo nghĩa tình ra biển

Sáng 11/9, con tàu rời bến, đưa đoàn đại biểu TP.HCM hướng ra biển.

Chỉ mấy tháng trước, chúng tôi vừa có chuyến đi Trường Sa và Nhà giàn DK1 cùng Đoàn công tác số 14. Nắng Trường Sa dường như vẫn còn trên vai áo, tiếng sóng giữa những đêm boong tàu 571 vẫn chưa kịp xa thì lần này, biển lại gọi.

Nhưng biển Tây Nam mang một sắc thái khác. Nếu Trường Sa cho tôi cảm nhận mãnh liệt về những điểm đảo giữa đại dương, thì hành trình lần này lại hiện ra như một chuỗi những bến bờ nối tiếp nhau: Côn Đảo, Hòn Khoai, Hòn Chuối, Thổ Chu, Hòn Đốc, Nam Du… và cuối cùng là Nhà giàn DK1/10 giữa trùng khơi.

Mỗi nơi một dáng hình. Mỗi nơi một câu chuyện. Và phía sau mỗi câu chuyện ấy là những con người đang ngày đêm làm cho hai chữ chủ quyền không chỉ là một khái niệm khô khan trên bản đồ.
 

Những hòn đảo có tên riêng và một tên chung

Côn Đảo là nơi tôi đã từng đến. Nhưng trở lại lần thứ ba, đứng trước Nghĩa trang Hàng Dương, Hàng Keo, trước những phần mộ đã đi vào lịch sử, tôi vẫn thấy lòng mình chùng xuống.

Có những vùng đất người ta trở lại để ngắm cảnh. Riêng Côn Đảo, bên cạnh thưởng ngoạn những thắng cảnh nên thơ thì mỗi lần trở lại là một lần ta đối diện với ký ức của dân tộc:

Người trở lại từ lao tù xiềng xích

Rùa trở về tìm bãi cát khai sinh

Tôi trở lại sau hai lần tạm biệt

Ba nẻo về cùng gặp một bình minh.

Đoàn đại biểu Thành phố Hồ Chí Minh trước Nghĩa trang Hàng Dương.

Rời Côn Đảo, hành trình đưa chúng tôi đến Hòn Khoai. Tên đảo nghe hiền lành, nhưng vị trí của nó thì không hề nhỏ bé. Từ ngọn hải đăng đã đứng đó qua bao năm tháng, nhìn về phía Đất Mũi, tôi chợt nghĩ: những ngọn đèn trên biển không chỉ soi đường cho tàu thuyền. Có những ngọn đèn còn soi từ quá khứ tới tương lai.

Rồi Hòn Chuối. Đường từ bến lên đảo dốc đến mức ai đã leo một lần chắc khó quên. Từ Đồn Biên phòng tiếp tục lên Trạm radar 615, con đường càng thử sức người đi. Mồ hôi ướt áo, chân mỏi, nhưng khi đứng trên cao nhìn biển mở ra bốn phía, tôi hiểu thêm vì sao ở những nơi tưởng như chỉ có gió và đá ấy, vẫn luôn có những người lính bám trụ.

Các đại biểu Tổ Hòn Chuối với áo màu nõn chuối.

“Thầy giáo quân hàm xanh” – Trung tá Trần Bình Phục cùng những học trò của Lớp học tình thương Hòn Chuối - Ảnh: NH.

Thổ Chu lại đem đến một cảm giác khác. Một hòn đảo xanh, đẹp và bình yên, nhưng sau vẻ bình yên ấy là cả một ký ức không thể quên. Đến đây, tôi càng thấm thía rằng sự bình yên của hôm nay chưa bao giờ là điều tự nhiên mà có.

Đại biểu Tổ Thổ Chu trước đền tờ Thổ Châu.

Nam Du thì khiến tôi nghĩ đến một hình ảnh rất thú vị: những hòn đảo biết che nhau. Hòn ngoài chắn gió cho hòn trong. Đảo lớn ôm đảo nhỏ. Những xóm nhà nép bên vịnh. Những con tàu tìm nơi tránh sóng.

Nhìn quần đảo từ trên cao, bỗng thấy thiên nhiên cũng có cách riêng để nói về hai chữ chở che.

Còn Hòn Đốc, giữa quần đảo Hải Tặc, lại cho tôi một liên tưởng khác. Cái tên gợi về những câu chuyện dữ dội thuở trước, nhưng trước mắt chúng tôi hôm nay là cuộc sống thanh bình, là những mái nhà, những con thuyền, những người dân và người lính cùng giữ một vùng biển yên lành.

Tác giả bài viết cùng Đại tá Phạm Hồng Soi tại Trạm Rada 600 trên đảo Nam Du.
 

Tôi đã viết trong chuyến đi:

Nghe Hải Tặc, ngỡ một miền sóng dữ

Đến Hòn Đốc rồi, thấy biển bình yên…

Có lẽ đó cũng là một trong những cảm nhận rõ nhất mà chuyến đi đem lại: nơi bình yên, luôn có người đang thức.
 

Những người thức cho đất liền ngủ yên

Ở mỗi đảo, chúng tôi gặp những người lính khác nhau. Người ở trạm radar. Người nơi đồn biên phòng. Người trên tàu. Người giữ đảo. Người đứng giữa biển trời trên những công trình mà nhìn từ xa chỉ như một chấm nhỏ giữa đại dương. Họ phần lớn còn rất trẻ. Có người xa nhà nhiều tháng. Có người đón đoàn bằng nụ cười rất tươi nhưng chỉ ít giờ sau lại trở về vị trí trực. Có những cái bắt tay diễn ra rất nhanh bởi công việc vẫn đang chờ.

Đi qua những nơi ấy, tôi càng hiểu rằng sự bình yên của đất liền được làm nên từ rất nhiều đêm không ngủ ngoài biển. Và rồi chúng tôi đến DK1/10.

Đối với tôi, nhà giàn không còn hoàn toàn xa lạ sau chuyến Trường Sa hồi tháng 5. Nhưng mỗi lần nhìn một nhà giàn hiện lên giữa biển, cảm xúc vẫn khó gọi thành tên.

Giữa mênh mông nước, một công trình bằng thép đứng trên những chân cọc. Nhỏ bé trước đại dương mà lại khiến người ta có cảm giác vô cùng vững chãi. Bởi trên đó có người.
 

“Ba đây, con à!”

Ông Phạm Hồng Điểm trong giây phút được gặp con trai Phạm Hồng Đức Anh đang phục vụ ở DK1/10

Trong rất nhiều khoảnh khắc của chuyến đi, có lẽ tôi sẽ nhớ lâu câu chuyện của bố con chiến sĩ Phạm Hồng Đức Anh ở DK1/10. Đức Anh mới hai mươi tuổi, nhập ngũ năm 2025 và ra nhà giàn từ đầu năm nay. Người cha, ông Phạm Hồng Điểm, được TP.HCM chọn tham gia đoàn ra thăm biển đảo và nhà giàn. Điều đặc biệt là người con không được báo trước. Tôi đã nghĩ đến giây phút hai cha con gặp nhau từ trước khi tàu đến nhà giàn và viết trước mấy câu thơ:

Bao điều chuẩn bị bấy nay

Gặp con chỉ gọi: “Ba đây, con à!”

Ngoài đời, có những lúc ngôn ngữ cũng trở nên thừa.

Người cha đi một quãng đường rất xa ra giữa biển để gặp con. Người lính trẻ bất ngờ nhìn thấy cha mình giữa những gương mặt từ đất liền. Chỉ vậy thôi. Nhưng trong khoảnh khắc ấy có gia đình, có hậu phương, có người lính và có cả khoảng cách từ đất liền đến đầu sóng dường như được rút ngắn lại.
 

Những cuốn sách cũng đi biển

Lần này tôi mang theo hai cuốn sách mới của mình. Trong đó, tập thơ “Biển thức trong phố” vừa được Cục Chính trị Quân chủng Hải quân in và chuyển trước cho tôi một số cuốn để mang theo chuyến đi. Tôi đã được trao tận tay những cuốn sách ấy cho những người lính ngoài đảo. Một người viết còn mong gì hơn khi những trang viết từ biển lại có ngày trở về với biển?


"Biển thức trong phố" ra đời từ chuyến Trường Sa tháng 5, với những bài thơ được viết trên tàu, trên đảo, sau những lần gặp lính và những đêm nghe sóng. Chỉ ba tháng sau, tập thơ ấy đã kịp in để theo tôi đến một vùng biển khác. Tôi có cảm giác những trang sách cũng đang tiếp tục một hải trình riêng.
 

Một chuyến đi không chỉ đo bằng cây số

Điều làm tôi nhớ nhất sau chuyến đi không hẳn là chúng tôi đã đi bao nhiêu hải lý. Đó là những khoảng cách đã được rút ngắn. Khoảng cách từ Thành phố đến những đảo xa. Khoảng cách giữa hậu phương với người lính. Khoảng cách giữa một người cha và đứa con đang làm nhiệm vụ giữa biển. Khoảng cách giữa những người trước chuyến đi còn chưa quen biết nhưng sau nhiều ngày cùng ăn, cùng ở, cùng lên xuống xuồng, cùng leo dốc, cùng say sóng, cùng hát với nhau trên tàu… đã trở thành những người thân thiết.

Tôi đã viết một bài thơ tặng Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM và những người cùng đi, với cái tên “Để gần lại những bến bờ xa”. Có lẽ đó cũng là câu tôi muốn dùng để nói về ý nghĩa của cả hành trình.

Bởi quà mang ra đảo không chỉ là những món quà. Trong mỗi cái bắt tay có đất liền. Trong mỗi cuộc gặp có Thành phố. Trong những lời hỏi thăm có hàng triệu tấm lòng của những người không thể trực tiếp ra biển.
 

Con tàu đã về, hải trình vẫn tiếp tục

Chuyến đi đã kết thúc, nhưng những ngày qua, tôi vẫn gặp lại hành trình ấy qua các bài báo và trên màn ảnh HTV. Ekip Đài Truyền hình TP.HCM đã theo đoàn suốt hải trình, cập nhật từng chặng đường bằng các bản tin thời sự và tiếp tục thực hiện một tuyến phóng sự chuyên đề. Ngày 23/9, phóng sự “Nghĩa tình hậu phương đến biển đảo quê hương” dài 15 phút đã được phát trên HTV9. Sắp tới là “Tàu KN491 giữa trùng khơi”, dự kiến phát ngày 7/10, và “Nhà giàn DK1/10 vững vàng nơi đầu sóng”, dự kiến phát ngày 11/10 trên HTV9. Cùng với đó là bảy bản tin thời sự đã được HTV thực hiện và phát sóng trong những ngày đoàn còn trên hành trình. Những người làm truyền hình đã giúp lưu giữ bằng hình ảnh những điều mà mỗi chúng tôi mang về bằng ký ức.

Đặc biệt, Fanpage Mặt trận TP. Hồ Chí Minh với sự tích cực của thành viên truyền thông tham gia chuyến đi đã đưa tin rất kịp thời và đầy đủ các hoạt động của Đoàn; tại các điểm đảo có sóng điện thoại, chúng tôi có thể truy cập để đọc tin và… tải những hình ảnh rất nóng sốt để lưu giữ.

Còn tôi, một người làm thơ, lại có cách lưu giữ khác.

Sau chuyến đi Trường Sa tháng 5, biển đã đi vào khá nhiều trang viết của tôi. Và trong hải trình Tây Nam lần này, những câu thơ lại tiếp tục đến: từ Hòn Khoai, Hòn Chuối, Thổ Chu, Hòn Đốc, Nam Du đến DK1/10; từ câu chuyện của những người lính đến cuộc gặp bất ngờ của hai cha con giữa trùng khơi.

Tôi hiểu rằng chuyến đi đã kết thúc trên lịch trình, nhưng chưa kết thúc trong mỗi người cầm bút. Bởi có những hải trình không khép lại khi con tàu cập bến. Nó tiếp tục trong những thước phim. Trong những trang sách. Trong những câu thơ.

Và trong ký ức của những người đã một lần cùng nhau đi ra phía biển.

Ảnh: NH và tư liệu dủa Đoàn.

9/2026

N.H.

Mời đọc bài liên quan: Những hòn đảo thức cùng biển - Chùm thơ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm