TIN TỨC

Một hải trình để những bến bờ xa gần lại

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-09-24 20:48:07
mail facebook google pos stwis
78 lượt xem

NGUYÊN HÙNG

Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.


Tàu KN-491 trước giờ xuất bến.

Với tôi, hải trình đến các đảo vùng biển Tây Nam và Nhà giàn DK1/10 trong tháng 9/2026 là một chuyến đi khá đặc biệt. Lần này, tôi và họa sĩ Hồ Minh Quân, tuy là cư dân TP.HCM, lại tham gia Đoàn của Thành phố với tư cách khách mời của Quân chủng Hải quân.
 

Từ thành phố, mang theo nghĩa tình ra biển

Sáng 11/9, con tàu rời bến, đưa đoàn đại biểu TP.HCM hướng ra biển.

Chỉ mấy tháng trước, chúng tôi vừa có chuyến đi Trường Sa và Nhà giàn DK1 cùng Đoàn công tác số 14. Nắng Trường Sa dường như vẫn còn trên vai áo, tiếng sóng giữa những đêm boong tàu 571 vẫn chưa kịp xa thì lần này, biển lại gọi.

Nhưng biển Tây Nam mang một sắc thái khác. Nếu Trường Sa cho tôi cảm nhận mãnh liệt về những điểm đảo giữa đại dương, thì hành trình lần này lại hiện ra như một chuỗi những bến bờ nối tiếp nhau: Côn Đảo, Hòn Khoai, Hòn Chuối, Thổ Chu, Hòn Đốc, Nam Du… và cuối cùng là Nhà giàn DK1/10 giữa trùng khơi.

Mỗi nơi một dáng hình. Mỗi nơi một câu chuyện. Và phía sau mỗi câu chuyện ấy là những con người đang ngày đêm làm cho hai chữ chủ quyền không chỉ là một khái niệm khô khan trên bản đồ.
 

Những hòn đảo có tên riêng và một tên chung

Côn Đảo là nơi tôi đã từng đến. Nhưng trở lại lần thứ ba, đứng trước Nghĩa trang Hàng Dương, Hàng Keo, trước những phần mộ đã đi vào lịch sử, tôi vẫn thấy lòng mình chùng xuống.

Có những vùng đất người ta trở lại để ngắm cảnh. Riêng Côn Đảo, bên cạnh thưởng ngoạn những thắng cảnh nên thơ thì mỗi lần trở lại là một lần ta đối diện với ký ức của dân tộc:

Người trở lại từ lao tù xiềng xích

Rùa trở về tìm bãi cát khai sinh

Tôi trở lại sau hai lần tạm biệt

Ba nẻo về cùng gặp một bình minh.

Đoàn đại biểu Thành phố Hồ Chí Minh trước Nghĩa trang Hàng Dương.

Rời Côn Đảo, hành trình đưa chúng tôi đến Hòn Khoai. Tên đảo nghe hiền lành, nhưng vị trí của nó thì không hề nhỏ bé. Từ ngọn hải đăng đã đứng đó qua bao năm tháng, nhìn về phía Đất Mũi, tôi chợt nghĩ: những ngọn đèn trên biển không chỉ soi đường cho tàu thuyền. Có những ngọn đèn còn soi từ quá khứ tới tương lai.

Rồi Hòn Chuối. Đường từ bến lên đảo dốc đến mức ai đã leo một lần chắc khó quên. Từ Đồn Biên phòng tiếp tục lên Trạm radar 615, con đường càng thử sức người đi. Mồ hôi ướt áo, chân mỏi, nhưng khi đứng trên cao nhìn biển mở ra bốn phía, tôi hiểu thêm vì sao ở những nơi tưởng như chỉ có gió và đá ấy, vẫn luôn có những người lính bám trụ.

Các đại biểu Tổ Hòn Chuối với áo màu nõn chuối.

“Thầy giáo quân hàm xanh” – Trung tá Trần Bình Phục cùng những học trò của Lớp học tình thương Hòn Chuối - Ảnh: NH.

Thổ Chu lại đem đến một cảm giác khác. Một hòn đảo xanh, đẹp và bình yên, nhưng sau vẻ bình yên ấy là cả một ký ức không thể quên. Đến đây, tôi càng thấm thía rằng sự bình yên của hôm nay chưa bao giờ là điều tự nhiên mà có.

Đại biểu Tổ Thổ Chu trước đền tờ Thổ Châu.

Nam Du thì khiến tôi nghĩ đến một hình ảnh rất lạ: những hòn đảo biết che nhau. Hòn ngoài chắn gió cho hòn trong. Đảo lớn ôm đảo nhỏ. Những xóm nhà nép bên vịnh. Những con tàu tìm nơi tránh sóng.

Nhìn quần đảo từ trên cao, bỗng thấy thiên nhiên cũng có cách riêng để nói về hai chữ chở che.

Còn Hòn Đốc, giữa quần đảo Hải Tặc, lại cho tôi một liên tưởng khác. Cái tên gợi về những câu chuyện dữ dội thuở trước, nhưng trước mắt chúng tôi hôm nay là cuộc sống thanh bình, là những mái nhà, những con thuyền, những người dân và người lính cùng giữ một vùng biển yên lành.

Tác giả bài viết cùng Đại tá Phạm Hồng Soi tại Trạm Rada 600 trên đảo Nam Du.
 

Tôi đã viết trong chuyến đi:

Nghe Hải Tặc, ngỡ một miền sóng dữ

Đến Hòn Đốc rồi, thấy biển bình yên…

Có lẽ đó cũng là một trong những cảm nhận rõ nhất mà chuyến đi đem lại: nơi bình yên, luôn có người đang thức.
 

Những người thức cho đất liền ngủ yên

Ở mỗi đảo, chúng tôi gặp những người lính khác nhau. Người ở trạm radar. Người nơi đồn biên phòng. Người trên tàu. Người giữ đảo. Người đứng giữa biển trời trên những công trình mà nhìn từ xa chỉ như một chấm nhỏ giữa đại dương. Họ phần lớn còn rất trẻ. Có người xa nhà nhiều tháng. Có người đón đoàn bằng nụ cười rất tươi nhưng chỉ ít giờ sau lại trở về vị trí trực. Có những cái bắt tay diễn ra rất nhanh bởi công việc vẫn đang chờ.

Đi qua những nơi ấy, tôi càng hiểu rằng sự bình yên của đất liền được làm nên từ rất nhiều đêm không ngủ ngoài biển. Và rồi chúng tôi đến DK1/10.

Đối với tôi, nhà giàn không còn hoàn toàn xa lạ sau chuyến Trường Sa hồi tháng 5. Nhưng mỗi lần nhìn một nhà giàn hiện lên giữa biển, cảm xúc vẫn khó gọi thành tên.

Giữa mênh mông nước, một công trình bằng thép đứng trên những chân cọc. Nhỏ bé trước đại dương mà lại khiến người ta có cảm giác vô cùng vững chãi. Bởi trên đó có người.
 

“Ba đây, con à!”

Ông Phạm Hồng Điểm trong giây phút được gặp con trai Phạm Hồng Đức Anh đang phục vụ ở DK1/10

Trong rất nhiều khoảnh khắc của chuyến đi, có lẽ tôi sẽ nhớ lâu câu chuyện của bố con chiến sĩ Phạm Hồng Đức Anh ở DK1/10. Đức Anh mới hai mươi tuổi, nhập ngũ năm 2025 và ra nhà giàn từ đầu năm nay. Người cha, ông Phạm Hồng Điểm, được TP.HCM chọn tham gia đoàn ra thăm biển đảo và nhà giàn. Điều đặc biệt là người con không được báo trước. Tôi đã nghĩ đến giây phút hai cha con gặp nhau từ trước khi tàu đến nhà giàn và viết trước mấy câu thơ:

Bao điều chuẩn bị bấy nay

Gặp con chỉ gọi: “Ba đây, con à!”

Ngoài đời, có những lúc ngôn ngữ cũng trở nên thừa.

Người cha đi một quãng đường rất xa ra giữa biển để gặp con. Người lính trẻ bất ngờ nhìn thấy cha mình giữa những gương mặt từ đất liền. Chỉ vậy thôi. Nhưng trong khoảnh khắc ấy có gia đình, có hậu phương, có người lính và có cả khoảng cách từ đất liền đến đầu sóng dường như được rút ngắn lại.
 

Những cuốn sách cũng đi biển

Lần này tôi mang theo hai cuốn sách mới của mình. Trong đó, tập thơ “Biển thức trong phố” vừa được Cục Chính trị Quân chủng Hải quân in và chuyển trước cho tôi một số cuốn để mang theo chuyến đi. Tôi đã được trao tận tay những cuốn sách ấy cho những người lính ngoài đảo. Một người viết còn mong gì hơn khi những trang viết từ biển lại có ngày trở về với biển?


Biển thức trong phố’ ra đời từ chuyến Trường Sa tháng 5, với những bài thơ được viết trên tàu, trên đảo, sau những lần gặp lính và những đêm nghe sóng. Chỉ ba tháng sau, tập thơ ấy lại theo tôi đến một vùng biển khác. Tôi có cảm giác những trang sách cũng đang tiếp tục một hải trình riêng.
 

Một chuyến đi không chỉ đo bằng cây số

Điều làm tôi nhớ nhất sau chuyến đi không hẳn là chúng tôi đã đi bao nhiêu hải lý. Đó là những khoảng cách đã được rút ngắn. Khoảng cách từ Thành phố đến những đảo xa. Khoảng cách giữa hậu phương với người lính. Khoảng cách giữa một người cha và đứa con đang làm nhiệm vụ giữa biển. Khoảng cách giữa những người trước chuyến đi còn chưa quen biết nhưng sau nhiều ngày cùng ăn, cùng ở, cùng lên xuống xuồng, cùng leo dốc, cùng say sóng, cùng hát với nhau trên tàu… đã trở thành những người thân thiết.

Tôi đã viết một bài thơ tặng Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM và những người cùng đi, với cái tên “Để gần lại những bến bờ xa”. Có lẽ đó cũng là câu tôi muốn dùng để nói về ý nghĩa của cả hành trình.

Bởi quà mang ra đảo không chỉ là những món quà. Trong mỗi cái bắt tay có đất liền. Trong mỗi cuộc gặp có Thành phố. Trong những lời hỏi thăm có hàng triệu tấm lòng của những người không thể trực tiếp ra biển.
 

Con tàu đã về, hải trình vẫn tiếp tục

Chuyến đi đã kết thúc, nhưng những ngày qua, tôi vẫn gặp lại hành trình ấy qua các bài báo và trên màn ảnh HTV. Ekip Đài Truyền hình TP.HCM đã theo đoàn suốt hải trình, cập nhật từng chặng đường bằng các bản tin thời sự và tiếp tục thực hiện một tuyến phóng sự chuyên đề. Ngày 23/9, phóng sự “Nghĩa tình hậu phương đến biển đảo quê hương” dài 15 phút đã được phát trên HTV9. Sắp tới là “Tàu KN491 giữa trùng khơi”, dự kiến phát ngày 7/10, và “Nhà giàn DK1/10 vững vàng nơi đầu sóng”, dự kiến phát ngày 11/10 trên HTV9. Cùng với đó là bảy bản tin thời sự đã được HTV thực hiện và phát sóng trong những ngày đoàn còn trên hành trình. Những người làm truyền hình đã giúp lưu giữ bằng hình ảnh những điều mà mỗi chúng tôi mang về bằng ký ức.

Đặc biệt, Fanpage Mặt trận TP. Hồ Chí Minh với sự tích cực của thành viên truyền thông tham gia chuyến đi đã đưa tin rất kịp thời và đầy đủ các hoạt động của Đoàn; tại các điểm đảo có sóng điện thoại, chúng tôi có thể truy cập để đọc tin và… tải hình ảnh về.

Còn tôi, một người làm thơ, lại có cách lưu giữ khác.

Sau chuyến đi Trường Sa tháng 5, biển đã đi vào khá nhiều trang viết của tôi. Và trong hải trình Tây Nam lần này, những câu thơ lại tiếp tục đến: từ Hòn Khoai, Hòn Chuối, Thổ Chu, Hòn Đốc, Nam Du đến DK1/10; từ câu chuyện của những người lính đến cuộc gặp bất ngờ của hai cha con giữa trùng khơi.

Tôi hiểu rằng chuyến đi đã kết thúc trên lịch trình, nhưng chưa kết thúc trong mỗi người cầm bút. Bởi có những hải trình không khép lại khi con tàu cập bến. Nó tiếp tục trong những thước phim. Trong những trang sách. Trong những câu thơ.

Và trong ký ức của những người đã một lần cùng nhau đi ra phía biển.

9/2026

N.H.

Mời đón đọc bài liên quan: Chùm thơ về các đảo biển Tây Nam

Bài viết liên quan

Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm