TIN TỨC

Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-10-15 20:52:14
mail facebook google pos stwis
21 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người  mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.

 

Nhà văn Trương Văn Dân

 

Tình cờ gặp lại vào một buổi sáng mùa Thu, cả hai ghé vội vào một quán bar gần sân ga Lambrate.  Bao nhiêu chuyện cũ, chuyện mới cứ thế tuôn ra.

Vừa lúc ấy có một người đàn ông bước vào.

Ông ta chắc tuổi cũng khoảng tám mươi. Người gầy, lưng hơi khom, mái tóc hơi thưa, bạc trắng nhưng được chải cẩn thận. Trên người ông ta có mặc một chiếc áo khoác cũ, hơi sờn nhưng sạch sẽ. Đôi giày dươi chân ông đã mòn, nhưng như mới vừa được đánh bóng.

Ông đến trước quầy và gọi một ly cà phê espresso.

Ông không gọi bánh sừng bò, cũng không lấy bánh sandwich. Chỉ một ly cà phê nóng.

Rồi ông mở một chiếc ví da nhỏ màu đen và bắt đầu đếm tiền lẻ trên quầy.

Mười xu.

Năm.

Hai.

Những ngón tay ông, không hiểu vì lạnh hay tuổi già,  run rẩy.

Một đồng xu tuột khỏi kẽ tay ông và rơi xuống sàn nhà.

"Xin lỗi!" ông khẽ nói. "Tôi sẽ nhặt lên ngay lập tức."

Đứng sắp hàng phía sau ông cụ có một chàng trai tuổi chừng ba mươi. Trên người anh được phủ bên ngoài một chiếc áo khoác đắt tiền, tay đeo chiếc đồng hồ sang trọng, đôi giày được đánh sáp cẩn thận. Anh ta cầm chiếc điện thoại iphone đời mới trên tay như thể cả thế giới này đang phụ thuộc vào những  gì có trong đó.

Anh khẽ thở dài, lắc đầu, cau mặt khó chịu.

Giọng ông cụ lấp bấp, nhỏ và không mấy ai nghe rõ.

"Chỉ một lát thôi mà!" ông nói như thì thầm.

Chàng thanh niên gượng cười mà nét mặt không vui.

"Nếu ông không đủ tiền cho một ly cà phê thì không nên gây lộn xộn, tốt nhất là tự pha ở nhà."

Một sự im lặng, nặng nề, rơi xuống trong quán bar.

Nhân viên pha chế quay mặt nhìn vào máy pha cà phê.

Một người phụ nữ cầm lấy chiếc túi xách đang đặt trên bàn và đưa mắt nhìn ra ngoài.

Mọi người đều đã nghe và thấy.

Nhưng không ai muốn can thiệp.

Ông cụ cố gắng cúi người xuống để nhặt những đồng xu. Nhưng trong cử động đó, chiếc ví nhỏ của ông ta rơi xuống.

Những đồng tiền xu lẻng kẻng,  lan rộng trên sàn.

Chúng lăn xuống dưới quầy, gần chân ghế, giữa những chiếc giày của khách.

Những tiếng động phát ra nhỏ thôi nhưng tiếng dội trong căn phòng lúc đó tưởng như rất lớn.

Chàng thanh niên nhìn vào một đồng xu gần mũi giày của mình rồi dùng chân đá nó ra xa.

"Thật đáng chán!" anh  ta nói lớn.

Ngay lúc đó tôi thấy Franco đứng dậy.

Không đột ngột.

Không có cử chỉ gì  để làm mọi người giật mình. Hay sợ hãi.

Như thể anh tự dưng đứng dậy, vì cảm thấy xấu hổ nếu cứ ngồi im .

Anh bước đến, cúi người nhặt một đồng hai xu dưới đất và đặt nó lên quầy.

Rồi anh nhìn thẳng vào mắt chàng trai.

"Bây giờ  mời anh nhặt lên những đồng xu khác."

Chàng thanh niên sững sờ,  mở to mắt nhìn chằm chằm vào Franco.

"Ông nói gì, xin lỗi?"

"Anh đã đá đồng tiền của ông cụ. Bây giờ anh phải nhặt lên!"

Chàng thanh niên cố gắng mỉm cười, nhưng khuôn mặt méo xệch.

"Nhưng, xin lỗi, ông là ai?"

Franco để hai tay xuôi theo hai bên hông.

"Tôi không là ai cả! Tôi chỉ là một người vừa nhìn thấy một ông cụ trả tiền cà phê bằng những đồng tiền mà ông ta có, và một người khác đã quên  bài học về giáo dục."

Ông cụ lúc này mới xen vào, giọng như thì thầm:

"Làm ơn  bỏ qua đi! Không  có gì quan trọng!"

Nhưng thực ra  nó quan trọng.

Không phải vì những đồng xu.

Nó quan trọng vì có người đã làm ông phải cảm thấy tủi hổ dù ông không làm điều gì sai.

Franco quỳ xuống và bắt đầu nhặt từng đồng xu một.

Sự im lặng trong quán nước lúc này càng trở nên nặng nề.

Chàng thanh niên liếc nhìn xung quanh.

Lần đầu tiên, có lẽ anh ta không còn cảm thấy tự tin nữa.

Cuối cùng anh ta cũng cúi xuống.

Anh ta nhặt một số đồng xu, đặt chúng lên quầy và nói:

"Tôi xin lỗi!"

Anh nói nhẹ nhàng. Rất nhỏ.

Nhưng  dù sao cuối cùng anh cũng đã nói lên điều quan trọng đó.

Sau đó, anh ta uống ly cà phê của mình và nhanh chóng rời khỏi quán.

Ông cụ lúc này đứng trước quầy thu ngân, bàn tay vẫn còn run rẩy.

Franco đến trả tiền cà phê của chúng tôi và của ông cụ.

Anh cầm thêm ba chiếc bánh sừng trâu.

"Mời bác đến và cùng ngồi với chúng cháu!" anh nói.

Nhưng ông cụ lắc đầu.

"Không, tôi không muốn làm phiền các bạn."

" Không, bác không làm phiền ai cả. Cháu thành thật mời bác mà"

Sau vài giây, ông ấy bước theo Franco.

Tên ông cụ là Roberto Savini.

Ông uống cà phê bằng cách bưng cả cả hai tay bao quanh cốc, như thể đang cần sưởi ấm đôi bàn tay nhờ hơi nóng từ bên trong.

Lúc này tôi mới nhìn ông cụ kỹ hơn.

Đôi mắt màu xanh lơ.

Và cái giọng xin lỗi ngay cả khi ông  không có lỗi gì.

Cái giọng ấy, từ lâu rồi, tôi nghe thấy quen quen.

Tôi nhìn kỹ ông một lần nữa và bỗng thấy mình như nghẹn giọng.

"Trước đây bác có lái xe điện, phải không?"

Ông cụ ngạc nhiên, ngước mắt lên.

"Sao cậu biết? Vâng. Đường số 4. Trong bốn mươi năm!"

Tôi như nhắm mắt lại một lúc. Một chút quá khứ đang lướt qua.

Tuyến xe điện số 4 chạy từ citta’ studi (thành phố học) đến trạm cuối là bệnh viện Niguarda ở Milano. Nó chạy qua 3 nơi quan trọng  mà thời sinh viên chúng tôi đều sử dụng: quảng trường Leonardo Da Vinci, nơi có trường Bách khoa (politecnico) nổi tiếng của Ý, quảng trường Loreto, nơi có phòng thí nghiệm tổng hợp hóa dược chính của khoa tôi học và đi ngang qua Via Festa del Perdono, nơi giảng dạy về dược lý và tương tác thuốc.

"Vậy là bác không nhớ cháu. Nhưng cháu thì còn nhớ bác đấy."

Ông cụ vẫn im lặng.

Tôi kể cho ông nghe về một cậu thanh niên gầy gò, mang trên vai một chiếc ba lô cũ, chân mang đôi giày mỏng và nhẹ. Cậu thức học rất khuya nên sáng thường dậy trễ, vệ sinh và thay quần áo rất nhanh rồi chạy bộ mỗi sáng đến trạm dừng. Rất nhiều lần cậu thanh niên ấy sợ bỏ lỡ chuyến xe và đến trường trễ.

Gọi trạm dừng nhưng đây chỉ là một cột đèn đỏ ở làn giữa[1] trên đại lộ Bassini mà các phương tiện giao thông phải dừng lại. Còn trạm dừng “thực và bắt buộc” nằm cách xa  cột đèn này phải vài chục mét.

Từ căn nhà nằm trên đường Grossich, đáng lý tôi phải đến trạm dừng “thực” để đón xe số 4. Nhưng thường đến ngã tư thì đã thấy xe đang dừng vì đèn đỏ. Nếu chờ đi chuyến kế tiếp thì sẽ mất thời gian. Thế là từ xa tôi vẫy tay ra hiệu, rồi, ngó trước ngó sau, chạy băng qua một làn đường trên đại lộ Bassini  để đón xe. Đến gần tôi liền gõ nhẹ vào thùng xe.

Nếu lúc này đèn xanh bật thì bác tài xế cũng vẫn đợi thêm vài giây nữa.

Bác không nói hay hỏi gì. Bác chỉ mở cửa  xe và nói:

"Nào, lên đi! Nhanh nhé!"

Cậu thanh niên trẻ đó chính  là tôi.

Ở Ý, theo quy định xe điện chỉ được phép mở cửa cho khách lên và xuống ở trạm dừng, nhưng bác tài này thường phá lệ.

Ông Savini cúi mắt xuống. "Tôi không nhớ." “Ở khu ấy là“citta’ studi”, thành phố học, nên có nhiều sinh viên lắm!”

"Nhưng tôi  thì luôn nhớ."

 Nói xong tôi  chợt nhớ đến lời dạy của ba tôi ngày còn bé: “con có thể quên số điện thoại, thậm chí quên địa chỉ nhà bạn bè… nhưng đừng bao giờ quên người đã giúp mình.”

Không hiểu vì ngậm ngùi nhớ đến ba tôi hay kỷ niệm về một thời trai trẻ mà môi tôi run rẩy.

Bác Savini nhìn tôi và nói là trước kia, bác đã từng chở nào công nhân, sinh viên, y tá, những cụ bà với túi mua sắm. Bác biết hầu hết lịch trình, khuôn mặt, thói quen của phần đông hành khách.

"Tôi rất vui khi thấy mình được phục vụ mọi người " Bác nói.

Rồi bác nói tiếp như mở lòng tâm sự, là từ khi nghỉ hưu, năm sau bác gái bị bệnh, kinh tế gặp khó khăn vì tốn  khá nhiều tiền chữa trị. Sau khi vợ mất, trong căn nhà nhỏ không còn ai chờ đợi bác nữa. Tất cả những ngày đều đơn điệu, giống nhau.

Quán bar này đã trở thành một nơi mà bác còn có thể đến để nghe được những giọng nói của ai đó.

Đôi khi, người pha chế nói với bác, "chào buổi sáng" và đó có lẽ là từ duy nhất bác nhận được cho đến tối.

Franco cúi xuống nhìn  đồng hồ. Chừng 30 phút nữa anh phải lấy chuyến xe lửa để  đi Bologna. Chúng tôi cũng sẽ phải từ giã nhau thôi.

Sau khi trao đổi nhanh địa chỉ và số điện thoại, tôi nhìn  ra bên ngoài.

Chiếc xe của tôi  vẫn còn đang  đậu cách quán nước không xa.

Khi Franco đứng lên  bắt tay từ biệt và bước đi, không hiểu nghĩ sao tôi đột nhiên hỏi:

"Bác Savini," "hôm nay bác có bận gì không?"

Bác nhìn tôi, miệng khẽ mỉm cười.

"Không. Hoàn toàn rảnh rỗi như mọi khi!"

Tôi đứng dậy.

"Vậy thì bác đi với cháu nhé. Xe cháu cũng đậu gần đây thôi!"

Tôi thấy mắt bác nhìn tôi như thể tôi vừa đề xuất một điều gì quá bất ngờ.

"Đi với cậu à? Tôi chưa bao giờ được ai quan tâm như vậy."

"Luôn có lần đầu tiên mà bác!"

Sau đó, tôi mời bác lên xe và ngồi bên cạnh tôi. Tôi biết là bác đã tin tưởng đến độ không cần hỏi  là mình đi đâu hay làm gì.

Khi chúng tôi chậm rãi đi dọc theo đại lộ, rồi rẽ phải để ra ngoài  thành phố, tôi đi về phía Đông rồi dừng lại ở một tiệm ăn có khuôn viên rất lịch sự bên cạnh hồ Malaspina. Tôi mời bác ăn trưa ở đây, chỉ không tiết lộ là nhiều năm trước, sau khi tốt nghiệp vài năm tôi đã tổ chức lễ cưới với gia đình và các bạn thân thiết ở nơi đây.

Lúc bước xuống xe tôi nhìn thấy khuôn mặt bác có một biểu hiện xúc động pha lẫn ngạc nhiên. Bác khẽ mỉm cười. Không phải vì lòng tốt. Không phải vì có ai muốn tạo ấn tượng gì, mà chỉ là mình vừa nhận được sự quan tâm.

Suốt bữa ăn tôi và bác nói chuyện vui vẻ. Bác mỉm cười như một người bình thường, không còn cảm thấy già nua, nghèo khổ  hay như một cái bóng, một kẻ vô hình trong xã hội.

Tôi ngắm nhìn bác trong im lặng mà lòng ngẫm nghĩ. Đôi khi phẩm giá của một người không phải do bị té xuống đất mà chính là những đôi mắt ác tâm của kẻ khác đã không biết nhìn cuộc đời với ánh mắt bao dung.

Rồi tôi nhớ đến cử chỉ và hành động của Franco, người bạn thân thiết của tôi thời trai trẻ. Có lẽ chỉ cần anh cúi xuống để nhặt vài đồng xu lẻ  là đủ để nhắc mọi người rằng không có người nào  có giá trị hơn người khác.

Và nghĩ cho cùng, chúng tôi không làm bất cứ điều đặc biệt gì vào buổi sáng mùa thu hôm đó.

Tôi chỉ dừng lại vì một người đàn ông, nhiều năm trước, đã từng dừng lại vì tôi. Tôi đã chở bác đến cái nơi đầy kỷ niệm này vì bác cũng đã từng chở tôi đến trường.

Và trong cuộc gặp gỡ tình cờ này, tôi xem như bác đã bất ngờ tặng tôi một món quà. Chính bác đã cho tôi  được tìm lại cái quãng thời gian đã mất,  đã trôi theo dòng đời. Và bác chứ không phải ai khác, đã nắm tay, dắt tôi đến một nơi chốn kỷ niệm về một  cuộc hôn nhân hạnh phúc và an lành cho đến hôm nay mà nhiều năm qua tôi đã không có thời gian  hay cơ hội để quay lại.

Milano tháng 10.2025

T.V.D

[1] Đại lộ Basini được chia ra thành ba làn xe, hai làn biên cho xe chạy một chiều và làn giữa dành riêng cho xe điện.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm