TIN TỨC

Tôi gọi Hoa của nước là hoa chữ trường ca

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-10-16 22:18:00
mail facebook google pos stwis
18 lượt xem

ThS. CAO MINH TÈO

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Tôi gọi Hoa của nước của nữ nhà văn Trầm Hương là “Hoa chữ trường ca”. Đây không phải sự tung hô tùy hứng, càng không phải lời khen dành cho tác phẩm của nhà văn đương đại tại TP.HCM. Hoa của nước đẹp nhưng không phải do tô điểm thành nên!

 

Nhà văn Trầm Hương

 

Trước hết, là cách gọi để nhận diện giá trị thẩm mỹ của tác phẩm từ chính quá trình chuyển hóa chất liệu đời sống, ký ức lịch sử, trải nghiệm cá nhân thành một cấu trúc thi pháp trường ca. Ở Hoa của nước, đáng chú ý không chỉ nằm ở lượng tư liệu phong phú mà nhà văn đã tích lũy qua nhiều năm đi, gặp, nghe và ghi nhận những câu chuyện về những người phụ nữ trong chiến tranh và hậu chiến; mà là cách những chất liệu ấy được tổ chức lại bằng tư duy nghệ thuật của người viết văn xuôi, rồi được giải phóng trong hình thức biểu đạt của trường ca.

Hoa của nước đáng được đọc trong sự giao thoa giữa tự sự - trữ tình - suy tưởng. Nó tạo nên cấu trúc phức điệu, qua đó cho thấy khả năng vận động, đổi mới của trường ca Việt Nam đương đại. Khi nói tác phẩm góp phần mở thêm một “trang” trong hành trình phát triển của thể loại, thì trước hết phải nhìn từ cách Trầm Hương tổ chức lại chất liệu lịch sử bằng một tư duy nghệ thuật đa thanh.

Ở Hoa của nước, tự sự tạo nên đường vận động của sự kiện và số phận; trữ tình mở ra chiều sâu cảm xúc; còn suy tưởng nâng những câu chuyện riêng tư thành những vấn đề về con người, ký ức, sự hy sinh và trách nhiệm với cộng đồng. Sự đan xen này, theo tôi đã tạo nên tính phức điệu của tác phẩm, khiến lịch sử không còn là cái đã khép lại mà trở thành hiện tại tinh thần, tiếp tục đối thoại với người đọc hôm nay.

Qua đó, lịch sử được viết nên không chỉ bằng sự kiện mà bằng sức sống của ký ức, giúp người đọc thẩm thấu đồng thời văn chương và lịch sử, từ đó nhận thức sâu hơn về giá trị của quá khứ. Nếu tri ân, biết ơn là cách con người hôm nay hướng về những người đã hy sinh, thì gìn giữ, phát huy những giá trị được trao truyền chính là cách trả lời quá khứ bằng hành động; cao hơn, đó là ý thức trách nhiệm công dân đối với hiện tại và tương lai của đất nước.

Hoa của nước gồm ba chương: “Hoa thủy sinh”, “Hoa tôi gặp trên đường thiên lý” và “Hoa thời hậu chiến”, xâu chuỗi nhiều loài hoa với nhiều số phận, mất mát và sự hy sinh của người phụ nữ Việt Nam và được thể hiện song ngũ Anh - Việt. Thế nhưng, nếu ta chỉ nhìn thấy ở đó một sự “xâu chuỗi” đơn thuần, hẳn chưa đủ. Đó là nhà văn đã tạo ra trục liên tưởng; trục tự sự xuyên suốt. Đó là  từ hoa đến người, từ thiên nhiên đến lịch sử, từ thân phận đến ký ức cộng đồng, từ sự hy sinh trong chiến tranh đến những câu hỏi còn tiếp tục đặt ra trong đời sống hậu chiến.

Với Hoa của nước, điều đáng nói là đường dây tự sự được hình thành từ hành trình tìm kiếm của chủ thể trữ tình, từ những cuộc gặp gỡ, những câu chuyện, những ký ức và những thân phận được gọi tên. Đó là thứ “kiến trúc chìm” giúp những mảnh đời, những loài hoa và những mảng ký ức tưởng như rời rạc cùng quy tụ vào chỉnh thể nghệ thuật. Nhờ vậy, Hoa của nước đã biến cái đã xảy ra thành cái có khả năng được cảm nhận, suy ngẫm và đối thoại trong hiện tại qua lăng kính của nhà văn.

Ở Hoa của nước, điểm nhìn liên tục dịch chuyển. Khi chủ thể đứng ở vị trí người chứng kiến, người ghi nhận; khi nhập vào số phận nhân vật; khi lại trở về với cái tôi đang suy tưởng và tự vấn. Sự dịch chuyển ấy làm cho khoảng cách giữa người kể -nhân vật - người đọc được thu hẹp. Người đọc không chỉ đứng ngoài để “xem” một câu chuyện lịch sử mà được kéo vào rường đối thoại, nơi lịch sử hiện diện qua ký ức, cảm xúc và ý thức của chủ thể đang sống trong hiện tại.

Với Hoa của nước, Trầm Hương không vượt lên những thân phận mình viết về. Bà nhìn những “bông hoa” bằng ký ức, bằng sự biết ơn, bằng đau đớn, cả bằng những câu hỏi chưa có lời giải. Vì thế, cảm xúc trong tác phẩm không phải thứ được “đắp thêm” lên tư liệu; chính cảm xúc là phương thức nhận thức hiện thực. Nên việc khẳng định những giá trị cộng đồng, cái tôi trữ tình dần đi sâu hơn vào thế giới nội tâm, những câu hỏi về trách nhiệm của con người trước lịch sử, mà ta có thể gọi đó ngôn ngữ phản tư. Văn chương không chỉ có nhu cầu kể lại chiến công, nó còn đặt ra những câu hỏi về giá trị của sự hy sinh, về số phận con người, về ký ức, cũng có thể là sự lãng quên.

Ở Hoa của nước, phản tư không mang dáng vẻ của những mệnh đề triết học trừu tượng. Bà đặt câu hỏi từ chính những thân phận cụ thể. Những người phụ nữ đã hy sinh tuổi trẻ, tình yêu, hạnh phúc riêng cho đất nước; những người còn sống lại tiếp tục mang theo những mất mát sau chiến tranh. Đây là điểm làm nên chiều sâu nhân văn của Hoa của nước. Tác phẩm không chỉ hỏi chúng ta đã chiến thắng như thế nào, mà sâu xa hơn, buộc người đọc tự hỏi. Chúng ta đã nhớ những người đã hy sinh như thế nào; lịch sử còn mắc nợ những thân phận nào chưa được gọi tên? Chính câu hỏi ấy đưa Hoa của nước trở thành văn bản đối thoại với ký ức!

Ở Hoa của nước, hệ thống hình tượng hoa - nước - người phụ nữ - đất nước tạo thành một mạng lưới biểu tượng xuyên suốt. Trầm Hương sử dụng nhiều loài hoa và thực vật để gắn với những số phận, phẩm chất và ký ức. Nhà văn đã thực hiện một phép chuyển nghĩa biểu tượng. Hình ảnh hoa từ một đối tượng của tự nhiên trở thành ký hiệu của thân phận; từ vẻ đẹp hữu hình trở thành dấu tích của sự hy sinh; từ cá thể thực vật trở thành hình ảnh của con người trong lịch sử. Những hình ảnh đào, mai, trúc, cúc; rồi súng, sen, lục bình, mắm, đước, tràm, lác... không nên chỉ được đọc như bảng liệt kê về thế giới thực vật. Trong cấu trúc nghệ thuật của Hoa của nước, chúng vận động như hệ thống biểu tượng nhân hóa.

Hình tượng “hoa thủy sinh” có sức khái quát cao. Hoa mọc trong nước, sống trong nước, chịu sự biến động của nước nhưng vẫn nở. Khi đặt hình tượng ấy vào lịch sử những người phụ nữ Việt Nam, Trầm Hương đã tạo ra một ẩn dụ về sức sống. Con người đi qua chiến tranh, tột cùng mất mát, nhưng không hoàn toàn biến mất?! Họ trở lại qua ký ức, qua thiên nhiên, qua thơ ca. Chất liệu hiện thực được nâng lên thành biểu tượng!?

Câu thơ của Trầm Hương: “Tôi đi tìm hoa / thấu cảm những nghịch lý cuộc đời” cho thấy khá rõ hướng vận động ấy của cái tôi trữ tình. “Đi tìm hoa” thực chất là một hành trình đi tìm con người. Đi tìm con người cũng đồng thời là đi tìm những phần ký ức bị khuất lấp của lịch sử. Nên hoa trong Hoa của nước không chỉ là cái đẹp. Có những bông hoa mang theo đau đớn, mất mát, sự lãng quên và cả những nghịch lý của thân phận.

Nhà văn không chỉ gọi tên những người đã khuất. Trầm Hương tìm cách trả lại cho họ một đời sống khác trong ngôn ngữ. Lịch sử vốn được ghi bằng những sự kiện, những mốc thời gian và những chiến công; văn chương bổ sung vào lịch sử phần mà những con số không thể nói hết, đó là khuôn mặt, tuổi trẻ, tình yêu, nỗi đau, những điều chưa kịp hoàn thành của một đời người. Đó cũng là lý do Hoa của nước có thể tạo được sự cộng hưởng giữa chất sử thi - cảm thức cá nhân.

Đọc Hoa của nước chỉ như một trường ca viết về những người phụ nữ hy sinh cho Tổ quốc, hẳn chưa đủ. Đọc sâu hơn, đây là tác phẩm về cách một thế hệ hôm nay nhìn lại những con người của lịch sử. Hoa là hình tượng trung tâm, nhưng phía sau hoa là con người - hình tượng người phụ nữ Việt Nam; phía sau con người là ký ức; phía sau ký ức là câu hỏi về trách nhiệm của thê hệ trẻ hôm nay! Đọc Hoa của nước bằng mắt thì văn chương chỉ thấm vào da thịt; đọc bằng tâm thì văn chương thấm vào gan ruột; đọc bằng thần thì văn chương thấm vào cốt tủy".

Và đó là nơi  “hoa của chữ” thực sự nở. Những bông hoa chốn bưng miền trong ở Hoa của nước không chỉ làm đẹp cho câu thơ. Nó mang theo lịch sử, thân phận và ký ức. Từ hoa, Trầm Hương gọi tên những người phụ nữ đã đi qua chiến tranh. Từ những thân phận ấy, bà gợi mở một câu hỏi lớn hơn về đấu tranh, hy sinh và nhân nghĩa Việt Nam. Hoa vì thế không chỉ để ngắm, mà để nhớ, để tri ân và để nhắc người hôm nay về trách nhiệm với quá khứ - hiện tại  - tương lai!

C.M.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm