TIN TỨC

Thơ Lê Văn Sự - Tiếng thơ của vùng ký ức

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-10-27 19:49:30
mail facebook google pos stwis
79 lượt xem

  NGÔ ĐỨC HÀNH

“Thơ là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm”, Voltaire (1694–1778) triết gia, nhà văn người Pháp đã nói câu này. Đọc thơ Lê Văn Sự - nhà thơ, Hội viên Hội VHNT Thanh Hóa, người có đam mê về thơ sẽ nhớ câu này của tiền nhân.

Lê Văn Sự, nguyên là giáo viên dạy toán, nhưng tâm hồn thơ dào dạt, làm nên những vẻ đẹp “phi logic” của ngôn ngữ thơ. Không “đại ngôn”, nhưng phải nói rằng, anh là một nhà thơ “toàn tòng”. Cho đến nay, Lê Văn Sự đã xuất bản 11 tập thơ, trong số 12 tác phẩm đã công bố của anh. Anh là tiếng thơ cất lên từ làng bước ra xa lộ, nâng niu, đắm đuối ký ức.

“Người đàn bà ngắm trăng”, NXB Văn học, 2025 là tập thơ mới nhất của Lê Văn Sự. Nếu tính “hành trình thơ”, từ ngày anh xuất hiện văn bản văn học đầu tiên, năm 1992 đến nay đã gần 35 năm. Thời gian có độ lùi để chiêm nghiệm, có bước tới để tiếp nhận và khát vọng. Dẫu thơ là người, hiển hiện trên trang viết là “chân dung tâm hồn”, vừa đa cảm, nhân hậu vừa đa biến, truy vấn.

Nhà thơ Lê Văn Sự phát biểu tại Tọa đàm tập thơ “Người đàn bà ngắm trăng” của ông.

“Người đàn bà ngắm trăng” là tập thơ dày dặn, gồm 94 bài thơ (nếu tính chi tiết, kể cả bài thơ tứ tuyệt được tác giả sắp đặt trong các chùm gọi là “thơ ngắn”). Có thể xem đây là tập thơ trữ tình và thơ tự sự. Trong đó về hình thức thơ có thơ tự do và thơ niêm luật (tứ tuyệt, lục bát...).

Thơ luôn kỳ diệu. Nói như nhà văn Trịnh Bích Ngân, thơ chống lại sự giả dối. Đọc thơ Lê Văn Sự, nhận ra ngay anh có “xuất xứ” làng. Làng quê ở huyện Vĩnh Lộc sinh ra nhà thơ Lê Văn Sự; và nay đến lượt anh “trả nghĩa” làng bằng những cảm thức, day dứt thơ.

Lê Văn Sự thổ lộ lòng mình với quê trong nhiều bài thơ. Có thể nhặt ra “Vĩnh Lộc quê anh”, “Tình quê”, “Thăm quê”, “Quê hương mãi nhớ”. Tất nhiên chỉ tương đối, trong “Mẹ vẫn chờ”, “Tiếng hát trên sông”, “Bóng em lồng lộng trên sông”, “Uống rượu với bạn đồng môn”, “Dọc miền tuổi thơ”... đều có quê. Quê là vùng ký ức, lồng trong bóng quê có dáng cha, bóng mẹ, bạn bè thuở chăn trâu, thổi sáo... Khó “cắt lớp” để chia tách quê ra khỏi các nhân vật trữ tình trong thơ Lê Văn Sự.

Bìa tác phẩm “Người đàn bà ngắm trăng” của nhà thơ Lê Văn Sự

Thanh Hóa nói chung là vùng đất văn hóa. Vĩnh Lộc (cũ) quê Lê Văn Sự là vùng đất văn hiến, nơi có Thành Nhà Hồ - Di sản văn hóa thế giới, là một trong những công trình kiến trúc bằng đá độc đáo và hiếm hoi tại Việt Nam, được xây dựng vào năm 1397 dưới triều đại nhà Trần do Hồ Quý Ly xây dựng. Ở đấy có dòng sông Mã anh hùng, huyền thoại Đốn Sơn trong lịch sử chống Mỹ cứu nước. Đất ấy, là quê hương của Trạng nguyên Trịnh Tuệ, bảng nhãn Lưu Hưng Hiếu, Tống Duy Tân và biết bao danh nhân văn hóa.

...

Anh đưa em về thăm quê Sóc Sơn

Đất phát tích vương triều Lê – Trịnh

Vùng đất sinh Trạng nguyên, Bảng nhãn

Vùng đất phất cờ theo hịch Cần Vương

(Vĩnh Lộc quê anh).

....

Một vùng non nước lung linh

Miền quê di sản thắm tình Tây Đô

Từng trang lịch sử sóng xô

Chiến khu Hùng Lĩnh phất cờ Cần Vương

(Tình quê)

Trong thơ Lê Văn Sự viết về quê hương, huyền sử, ký ức được đánh thức. Sông Mã là dòng sông từ tự nhiên, dòng sông phồn sinh, dòng sông tâm linh đến dòng sông lịch sử. Tương truyền rằng, sư Bùi Tuệ Tâm trụ trì Chùa – Phủ Phủ Báo Ân (xã Vĩnh Hưng, nay là xã  Biện Thượng) đã ra giữa dòng sông Mã lấy nước tắm gội, luyện thiền 80 canh giờ rồi tự thiêu, xá lị Ngài được đặt trong Tháp Viên quang của chùa.

Ở đây có Lễ hội Rước nước về dâng lên cúng Phật, Mẫu, cầu cho Quốc thái dân an, mùa màng tốt tươi dân làng no ấm, bình an. Trong ngày lễ, người dân và tăng ni, phật tử tham gia thả hoa đăng trên dòng sông Mã và nghe hát đối đáp... “trong tiếng dô huầy, khoan lại hò khoan”, rất bản sắc văn hóa.

....

Thuyền xuôi bến nước

Cập bến Báo Ân

Bình được dâng lên

Dòng sông nghiêng câu hát

(Tiếng hát trên sông)

Lễ hội Rước nước cổ truyền Chùa - Phủ Báo Ân thường được tổ chức vào ngày 27, 28 tháng 2 âm lịch sau Tết Nguyên đán, trong lễ hội mùa xuân đất nước, theo huyền sử “bắt nguồn từ lửa”. Loài người biết tới lửa vào khoảng 2 triệu năm trước. Đây là thời kỳ thịnh vượng của loài Homo erectus - Người Đứng thẳng, loài linh trưởng cổ đại đầu tiên sở hữu những đặc tính cân đối của cơ thể người hiện đại. Như vậy, lửa là sự sống, phát minh ra lửa là một trong những dấu mốc tiến hóa của loài người cổ đại. Lửa cũng là nguồn gốc Lễ hội do sư Bùi Tuệ Tâm lấy nước tắm rửa cho người chay tịnh rồi tự thiêu.

Thơ là nghệ thuật của hình ảnh, dù là hình ảnh diễn tả. Từ hình ảnh đó, nhà thơ Lê Văn Sự đã nâng cấp lên thành hình tượng; hay nói cách khác, chất liệu hiện thực được chuyển hóa nhằm tăng thêm tính hiệu quả cho mục đích nghệ thuật.

Thơ của Lê Văn Sự về quê hương là tiếng thơ tri ân, đằm thắm nghĩa tình. Tuy nhiên, Lê Văn Sự không chỉ có lãng mạn, tâm hồn anh luôn trăn trở, giữa được và mất trong quá trình thay đổi của quê hương. “Đất quê chuyển đất thị thành / Chia lô giá bán lên nhanh theo ngày”, (Thăm quê).

....

Thời công nghệ số sang trang

Xuân sang trống giục hội làng đông vui

Thời tên xã cũ đi rồi

Những địa danh mới xanh trời diều lên

Ngàn năm tên cũ không quên

Vẫn vẹn nguyên giữ trong tim không mờ...

(Thăm quê).

Bài thơ này, nhà thơ Lê Văn Sự sáng tác cuối tháng 7/2025, thời điểm đất nước thực hiện tinh gọn, nhập tỉnh, xóa bỏ cấp huyện, nhập xã, tổ chức chính quyền hai cấp. Xã Vĩnh Hùng, quê cũ của anh nhập với bốn xã miền xuôi Vĩnh Lộc  mang tên mới xã Biện Thượng, tỉnh Thanh Hóa. Dẫu vậy, với ký ức, “Ngàn năm tên cũ không quên”.

...

Tình người ấm lạnh sớm trưa

Người nhà nông cả, nắng mưa trên đồng

Dù cho đông lạnh, hè nung

Bốn mùa chợ vẫn cứ đông đúc người

Chợ toàn hàng sạch, tươi thôi

Đồng tiền thấm bết mồ hôi dân nghèo

(Chợ quê)

Chỉ với khổ thơ cuối trong bài “Chợ quê”, Lê Văn Sự đã dựng lên không gian nghệ thuật về làng, có đủ nắng, mưa, mùa đông, mùa hè; không gian nhân vị “tình người ấm lạnh”, “đồng tiền thấm bết mồ hôi dân nghèo”, với tấm lòng sẻ chia, đồng cảm. Còn phải làm rất nhiều việc để “người nhà nông” bớt lam lũ, hết đói, hết nghèo, thu hẹp dần khoảng cách giàu – nghèo. Đấy cũng là sứ mệnh của thơ, phẩm giá của thi ca.

Nhà thơ Lê Văn Sự tìm hiểu các bài thơ của tiền nhân khắc trên đá trong động Hồ Thông (Thanh Hóa)

Trong “Người đàn bà ngắm trăng” có mảng thơ đặc biệt về thân phận. Có thể kể ra các bài: “Người đàn bà ngắm trăng”, “Người đàn bà điên”, “Người đàn bà chải tóc”, “Về người lấy hài cốt”, “Nỗi đau miền Trung”, “Về một người khiếm thính”, “Tiếng đàn của người cựu binh mù”, “Thương anh thương tiếng đàn bầu”, “Nỗi đau làng Nủ”, “Cây cao su và vết sẹo”...

Phải nói là, Lê Văn Sự nghiêng về phía nỗi đau, nghiêng về thân phận những người yếm thế. Trong một xã hội còn bất bình đẳng giới, gần như phụ nữ là giới chịu thua thiệt nhiều nhất trong cuộc đời. Có lẽ vì thế, thơ Lê Văn Sự là tiếng thơ cảm thông, chia sẻ cùng giới nữ.

....

Chị ngồi chải tóc mùa đông

Sợi đen, sợi bạc xoắn vòng rụng rơi

Sợi đen nhắc nhở xuân thời

Sợi mây trắng chịu bời bời bão giông

(Người đàn bà chải tóc)

Sao ngữ cảnh, người đàn bà chải tóc vào mùa đông? Nếu mùa xuân là mùa của khởi đời, “một năm bắt đầu từ mùa xuân”, thì mùa đông là mùa cuối của một năm. “Mùa đông” vì thế trở thành ngôn ngữ ẩn dụ.

Thường phụ nữ có những lần khóc xa xót, có thể lúc mối tình đầu bị phản bội, có thể lúc họ phát hiện ra sợi tóc bạc trên đầu. Khi tuổi đã lớn, con người ta thường vân vi cuộc đời, “đếm đo” hạnh phúc và bất hạnh. Khi sợi tóc đã bạc, có nghĩa là vòng đời đã ngắn lại, con người mường tượng ra vô thường. “Lưa thưa sợi bạc trên đầu / Chị ngồi chải những âu sầu thế nhân”, (Người đàn bà chải tóc). Có những tiếng thở dài của cảm thức, của tỉnh thức.

Cùng mạch cảm xúc ấy, “Người đàn bà điên” là một bài thơ ám ảnh. Lê Văn Sự viết về một người đàn bà vì mất con, do một tai nạn mà hóa rồ dại “Không mảnh vải che thân / Ôm vào lòng búp bê tóc đỏ / Khóc cười như nắc nẻ / Khi lại ngân lên tiếng ru hời...”, (Người đàn bà điên).

Lê Văn Sự là người luôn ưu tư, suy tư. Ở tuổi của anh, đủ trải nghiệm, xa xót. “Chúng tôi nhớ tiếng đàn / Thương thắt lòng dây tơ đàn đứt / Vầng trăng nghiêng. Âm thanh thân thuộc / Dội vào lòng người.../ Nhức nhối cõi nhân sinh”, (Tiếng đàn người cựu binh mù). Đây là bài thơ hậu chiến, nhắc nhở chúng ta, đất nước đã thống nhất 50 năm, nhưng phía sau cuộc sống còn đầy số phận với “nỗi buồn chiến tranh”.

Trong bài thơ “Người đàn bà chải tóc”, Lê Văn Sự cũng luận về thế nhân, thế gian: “Lưa thưa sợi tóc trên đầu / Chị ngồi chải những âu sầu thế nhân”. Ở đời lo âu, hy vọng của người khác bao giờ cũng thiêng liêng và chỉ những ai nhận ra điều đó, mới đầy đủ “phẩm giá người”, đáng trân trọng.

Cuộc sống với đầy đủ hỷ, nộ, ái, ố không chỉ lắng sâu trong tâm hồn Lê Văn Sự, mà anh còn bị cuộc sống dội vào với nhiều cung bậc. Trước những biến cố ngoài cuộc đời, khúc xạ qua tâm hồn anh mà trở thành thơ. “Nỗi đau miền Trung”, “Nỗi đau làng Nủ” là hai bài thơ trong số đó.

...

Đất nước trắng đêm, sẫm màu áo lính

Sông Hồng sục sôi...tiếng kêu cứu nạn

Nén nhang, hương khói nghẹn ngào

Những đoàn xe ra Bắc nối nhau

(Nỗi đau làng Nủ)

Thơ, về mặt nào đó còn là nhật ký tâm hồn. Bài thơ “Nỗi đau làng Nủ”, nhắc nhở con người về hậu quả vụ lở núi sau hoàn lưu bão Yagi năm 2024. Vọng âm của bài thơ nhắc nhở con người phải hành xử thuận thiên, bảo vệ không gian sống của mình. Suy cho cùng đó cũng là thiên chức của thi ca.

Thơ là sự biểu lộ tình cảm một cách mãnh liệt và có ý thức. Tuy nhiên, trước hết, tình cảm đó phải chân thành. “Người đàn bà ngắm trăng” cho thấy hiện thực cuộc sống đã được Lê Văn Sự đẩy về phía “hiện thực thi ca”, khoáng đạt và bay bổng. Thơ trước hết là cuộc đời, đến lượt các sinh thể thơ phải quay trở lại làm đẹp, nâng cao giá trị thẩm mỹ ở cuộc đời.

                                                                                            N. Đ. H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Trương Trọng Nghĩa từ góc nhìn phê bình sinh thái
Hành trình sáng tạo tuy chưa dài và còn nhiều dự cảm, nhưng Trương Trọng Nghĩa đã tự khẳng định tâm thế và tâm cảm của mình để hình thành chất thơ và thi pháp cá nhân. Thơ anh nặng sâu tình người, tình quê hương, xứ sở. Và trong quá trình đô thị hóa của xã hội Việt Nam thời hiện đại, nó giúp nhà thơ và giúp người đọc tìm về nguồn cội để được sống lại trong không - thời gian sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn trong sáng, thanh bình cho mỗi phận người và mỗi kinh nghiệm quan hệ người
Xem thêm
Trương Nam Hương – Thi sĩ tuổi Mèo với những câu thơ đẹp như nỗi buồn
Thơ Trương Nam Hương tài hoa mà đằm thắm, đau đáu với mẹ cha, quê nhà và những ân tình không thể nguôi quên. Nhân sinh nhật lần thứ 63 của nhà thơ (23/10/1963 – 23/10/2026), Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của Lê Huy Hòa như một món quà thân tình gửi đến anh – người thi sĩ vẫn bền bỉ gìn giữ những miền xanh trong trẻo của tâm hồn.
Xem thêm
Ấm áp những nụ cười trong tập thơ “Có phải cô là nắng” của Phan Thanh Tâm
Có phải Cô là nắng là tác phẩm thứ 9 và Tuyển tập thơ thứ 2 viết cho thiếu nhi của Nhà văn Phan Thanh Tâm. Tập thơ có 50 bài thơ đề cập đến nhiều chủ đề với cái nhìn dễ thương của trẻ thơ.
Xem thêm
Thơ ca và những tấm lòng đồng điệu trong buổi ra mắt sách của Phan Thanh Tâm
Bởi suy cho cùng, những hạt nắng đẹp nhất trong thơ thiếu nhi chính là những hạt nắng được gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ.
Xem thêm
Tôi gọi Hoa của nước là hoa chữ trường ca
Tôi gọi Hoa của nước của nữ nhà văn Trầm Hương là “Hoa chữ trường ca”. Đây không phải sự tung hô tùy hứng, càng không phải lời khen dành cho tác phẩm của nhà văn đương đại tại TP.HCM. Hoa của nước đẹp nhưng không phải do tô điểm thành nên!
Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm