TIN TỨC

“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-22 21:14:40
mail facebook google pos stwis
397 lượt xem

NHẬT CHIÊU

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.

 

Nhà văn Nhật Chiêu phát biểu về tiểu thuyết “Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”

 

Tất cả các nhà văn rất đều băn khoăn đến cuộc sống hiện đại với tất cả các mặc định của nó. Khi mà tôi đọc “Quyển bàn tay nhỏ dưới mưa” điều mà tôi trân quý là nhà văn Trương Văn Dân có một quan tâm dường như rất là sâu sắc với cuộc sống đương đại của chúng ta với những vấn đề phức tạp và kỳ lạ của nó. Có lẽ chưa có một thời đại nào mà cuộc sống lại phức tạp và kỳ lạ như cuộc sống hiện đại hay là hậu hiện đại của chúng ta.

Vào thế kỷ 18, thế kỷ của ánh sáng, thế kỷ khoa học tiến lên như vũ bảo và mọi người tin chắc khoa học sẽ giải quyết mọi vấn đề, sẽ đưa con người đến bến bờ hạnh phúc. Thế kỷ 18 tin chắc nịch vào điều đó, thế kỷ ánh sáng, ánh sáng là khoa học và lý trí, thì niềm tin đó chẳng bao lâu bị đổ, …đổ một cách thê thảm mà nhân loại trải qua những khủng khoảng, có nhiều nguyên nhân nhưng phần lớn là do khoa học gây ra ví dụ như việc chế tạo bom nguyên tử đã đưa đến bao nhiêu thảm họa như chúng ta đã biết (2.35).

Tất nhiên các nhà khoa học không có ý dùng khoa học để mà gây sát thương hay gây khủng bố. Tất cả các nhà khoa học không ai nghĩ như vậy thế mà thảm họa đã có, từ đó lòng tin vào ánh sáng khoa học, ánh sáng của lý tính là đưa chúng ta đến bến bờ hạnh phúc tan vỡ hoàn toàn. Nhiều nhà văn trên thế giới đã lên tiếng phản ánh tình trạng mà chúng ta tự hủy diệt mình với khoa học, với cái sự gọi là tiến bộ. Từ đó rất nhiều tác phẩm nhằm phê phán thời hiện đại hoặc hậu hiện đại của chúng ta. Khi tôi đọc “Bàn tay nhỏ dưới mưa “ thì vấn đề được văn chương thế giới quan tâm sâu, phản ánh rất là nổi bật trong “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Có những trang tôi vừa đọc vừa rùng mình, lý do thế này, có những nhà khoa học tự hào chế được bom mà khi làm bốc cháy cơ thể thì không cách nào dập tắt được. Trương Văn Dân miêu tả rằng họ đã mở tiệc mừng vì họ đã tạo ra một hóa chất làm cho một cơ thể sống bị hỏa thiêu không thể dập tắt được lửa dù lăn xuống nước, lăn xuống đất. Những trang đó làm ta rợn tóc gáy, con người mất nhân cách và đạo lý đến mức độ nào… và điều đáng quý những trang viết ấy không nhắm vào một xứ nào, một phe phái nào, một thế lực nào.

 

Tiểu thuyết "Bàn tay nhỏ dưới mưa"

 

Không ai có thể dành cái đó về phía mình, cả Phương Đông cũng như Phương Tây không thể giành ý này nhằm bênh vực họ hay nhắm vào kẻ địch của họ, vì không có kẻ địch nào ở đây, không có những người hoàn toàn tốt, không có người hoàn toàn xấu, chỉ có khoa học đang gây những khủng khiếp như vậy.

Và những quan tâm về môi trường sinh thái, những quan tâm rất đặc biệt, và đặc biệt hơn nữa khi Việt Nam chưa nổi lên sự tìm hiểu vấn đề phê bình môi trường sinh thái. “Bàn tay nhỏ dưới mưa” được viết trước khi ý tưởng phê bình sinh thái được đề cập rộng rãi ở VN, viết trước khi mà các tác phẩm chuyên khảo về sinh thái ở VN bắt đầu xuất hiện. Như vậy là những vấn đề quan đâm về tự tại, về sinh thái, về khoa học và đạo lý có thể nói là có tầm sâu trong quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, và sau này khi mà tôi được đọc nhiều tác phẩm khác của nhà văn Trương Văn Dân, kể cả những dạng ở dạng còn ở bản thảo (như tiểu thuyết Trò Chuyện Với Thiên Thần), mà chưa biết khi nào mới phát hành, thì tôi cũng thấy nhà văn Trương Văn Dân tiếp tục đeo đuổi những suy tưởng đó, anh lại tiếp tục băng khoăn rằng con người đi về đâu, chúng ta đang đi về đâu, đó là câu hỏi thường xuyên trong tác phẩm của anh giữa thời đại mà khoa học, nhân danh tiến bộ... (6p45-6p47). Anh luôn luôn tìm cách đặt câu hỏi đó, đặt lại câu hỏi đó, tất nhiên anh không có một trả lời thỏa đáng nào cả, bởi không thể có cách giải quyết vấn đề đơn giản nào, mà không có nhà văn nào có quyền năng mà trả lời câu hỏi “Chúng ta đang đi về đâu”, mà nếu mà không khéo thì cả hành tinh này đi về, tận sâu vào hố đen. Nếu tình hình không cải thiện, thì không một tầng ozone hay tên lửa nào có thể bảo vệ được hành tinh này. Những băn khoăn chúng ta đang đi về đâu trên hành tinh đang đi về đâu cũng không biết, thì câu hỏi đau đáu, chúng ta sẽ gặp đi gặp lại hết những tác phẩm này đến tác phẩm khác của anh Trương Văn Dân, đó là điều tôi thấy đáng quý cho đến giờ phút này.

Người đầu tiên giới thiệu tác phẩm đầu tiên của anh Trương Văn Dân trong bản sách, tôi theo dõi bước đường của anh. Tôi hi vọng những tác phẩm sau này của anh gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ về một câu hỏi cơ bản (nhân bản). Thật ra chúng ta sinh từ đâu không quan trọng bằng chúng ta đi về đâu. Một người có ngày sinh, ngày sinh đó không quan trọng. Thực ra sinh từ đâu? Sinh ở xứ nào? Sinh ở địa phương nào? có gì quan trọng đâu bằng vấn đề là chúng ta đi về đâu?

Tôi cho rằng Trương Văn Dân là người tâm huyết với câu hỏi “Chúng ta đi về đâu ?”. Anh cố gắng tìm một vài cách, một vài cách thôi trả lời câu hỏi đó và điều đó khiến cho người ta tìm đọc tác phẩm của anh và người ta yêu anh.

N.C

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm