- Lý luận - Phê bình
- Người sống với văn chương cùng thời
Người sống với văn chương cùng thời
HỒ THẾ HÀ
(Đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020)

Sống với văn chương Việt Nam hiện đại cùng thời, có thể nói, Bùi Việt Thắng là người hạnh phúc, vinh dự nhất, nhưng cũng vất vả, gian nan nhất. Hạnh phúc là vì anh được trực tiếp tham dự mọi sự kiện văn học với không gian rộng lớn; được tiếp nhận, nghiền ngẫm và phát ngôn ý kiến thẩm định của mình với độc giả cả nước trên các phương tiện giao tiếp văn học uy tín; còn gian nan là vì anh phải mất rất nhiều thời gian và công sức để theo dõi, tiếp xúc, cập nhật số lượng lớn tác phẩm văn xuôi của các tác giả từ Bắc chí Nam, phải đọc và huy động nhiều tri thức lý luận văn học hiện đại để tiếp nhận từng tác phẩm một cách tương thích và khoa học nhằm tiền trạm nghệ thuật, định hướng thẩm mỹ cho độc giả với tư cách là nhà phê bình văn học chuyên nghiệp. Đó là công việc vô cùng khó khăn và nhiều lúc hệ lụy.
Nhưng bù đắp lại, anh được đền đáp bằng những tác phẩm nghiên cứu công phu, hiệu qủa, được những người làm công tác văn học tin yêu, trân quí qua những công trình nghiên cứu công phu, khoa học được ấn hành: Bình luận truyện ngắn (1999), Truyện ngắn - Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại (2000), Bàn về tiểu thuyết (2000), Tiểu thuyết đương đại (2005), Thi pháp tiểu thuyết hiện đại (2019), Thi pháp truyện ngắn hiện đại (2020)... Bùi Việt Thắng còn quan tâm đến văn chương thủ đô Hà Nội - nơi anh từng sống, học tập và thành danh với tác phẩm Hà Nội từ góc nhìn văn chương. Những thành tựu nói trên đã trả lại cho anh những giá trị cân bằng. Anh nhận được những phần thưởng văn chương xứng đáng: Giải thưởng Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trung ương năm 2017 và 2019, Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2019, Tặng thưởng Tạp chí Văn nghệ quân đội 1980 và 2013. Đó là thành quả của một người đã trót nặng nợ với văn chương như là một cái nghiệp như anh đã từng chia sẻ: “Nghề văn là nghề cao quí và công phu, đòi hỏi tình yêu, lòng kiên nhẫn và tinh thần hy sinh vì “nghiệp” hơn là “nghề”. Phê bình cũng như sáng tác văn chương là cuộc tìm kiếm không mệt mỏi cái đẹp, chắt chiu và gìn giữ nó. Và nếu truyền được cái đẹp cho các thế hệ khác, đó là sự thành công, đó là hạnh phúc của người cầm bút” (Nhà văn Việt Nam hiện đại, in lần thứ IV, Nxb Hội nhà văn, 2010, tr.59). Còn gì cao quí và hạnh phúc hơn khi những mong mỏi của anh đã thành hiện thực và thành tựu.
Là đồng nghiệp văn chương với Bùi Việt Thắng, tôi vui mừng và chúc mừng những thành quả liên tục của anh, đặc biệt là với công trình mới nhất Thi pháp truyện ngắn hiện đại, do Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2020.
Đây là chuyên luận nghiên cứu tổng quan truyện ngắn hiện đại Việt Nam từ 1945 đến nay trong niềm đam mê “được sống với văn chương cùng thời”, tiếp cận đối tượng với tâm thế hướng về phía trước; đồng thời ngoảnh lại để tranh biện nhằm đánh giá lại, đánh giá bổ sung và đánh giá mới theo tầm đón nhận hiện nay của chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận. Công trình, vì vậy, có giá trị rút gần khoảng cách thẩm mỹ qua các lần đọc để tiệm cận dần đến sự đồng nhất thẩm mỹ với tác phẩm và người đọc bằng những nhận thức và kết luận khoa học mới mẻ cùng trực giác nghệ thuật nhạy bén của tác giả.
Chuyên luận được cấu trúc thành 2 phần. Phần thứ nhất: Truyện ngắn Việt Nam hiện đại - Cảnh quan và tác giả; Phần thứ hai: Những sắc cầu vồng truyện ngắn.
1. Ở phần thứ nhất, Bùi Việt Thắng nghiên cứu chung về Truyện ngắn Việt Nam 1945-1975 trong dòng chảy liên tục của thể loại với những thành tựu của các thế hệ nhà văn nối tiếp, làm nên diện mạo truyện ngắn vận hành qua các tiểu giai đoạn 1945-1954, 1954-1975, phản ánh đa dạng hiện thực nóng bỏng của thời đại “bão táp cách mạng”, làm cho thể loại không ngừng vận động và phát triển về nội dung và thi pháp hình thức, bắt đầu là quan niệm nghệ thuật về con người tồn tại qua các đề tài, chủ đề trọng tâm với không gian - thời gian nghệ thuật đặc trưng của cuộc kháng chiến. Các thế hệ nhà văn nối tiếp đã không ngừng tiếp cận và chiếm lĩnh đời sống để tạo nên những thế giới nghệ thuật nóng bỏng tính hiện thực và tính thời sự - thời đại trong từng bước ngoặt chuyển mình của đời sống. Những tác phẩm của họ được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt. Chúng “như một vườn hoa nhiều hương sắc, được vun xới bởi những “người làm vườn” âm thầm và tài hoa” với mục đích văn chương tối thượng là Dân tộc - Nhân văn - Nghệ thuật, làm nên phong cách đặc sắc của truyện ngắn 1945-1975 và Bùi Việt Thắng đi đến nhận định: “Ba mươi năm (1945-1975) so với tiến trình văn học dân tộc là ngắn, nhưng trong thế kỷ XX thì đó là một thời kỳ đáng ghi nhớ của nền văn học hiện đại Việt Nam. Truyện ngắn cùng với thơ là hai bộ phận có thành tựu hơn cả trong văn học thể hiện rõ cái “dân khí” Việt Nam thời đại bão táp cách mạng. Thật đáng phấn khởi, tự hào khi mạch nguồn truyện ngắn dân tộc từ trong quá khứ xa xôi vẫn một dòng chảy liên tục. Chính vì thế mà ta có cơ sở để tin vào một chân trời rộng mở của truyện ngắn Việt Nam” [tr.23] (Từ đây trở đi những trích dẫn đều rút từ tác phẩm Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh niên, 2020, chỉ ghi số trang).
Tiếp tục chỉ ra diện mạo truyện ngắn hiện đại Việt Nam trong dòng chẩy nối tiếp từ sau 1975, Bùi Việt Thắng có tiểu luận: Trong tấm gương thể loại (Nhận diện truyện ngắn Việt nam sau 1975). Trước hết là lực lượng sáng tác đồng hành - nhân tố làm nên sự hiện hữu của nền truyện ngắn, Bùi Việt Thắng đã chỉ ra sự kế tục của các thế hệ nhà văn từ 1945 đến cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, kéo dài sang thời Đổi mới đến nay với những tên tuổi nổi bật như một qui luật kế thừa và phát triển bằng tiếng nói nghệ thuật riêng của mỗi thế hệ để làm nên sự tương hợp về nội dung và đa thanh về hình thức cho thể loại. Con người với tính chất và quan hệ đa dạng của họ trong từng hoàn cảnh sẽ làm nên nội dung hiện thực đời sống và các trạng huống tình cảm điển hình được truyện ngắn sau 1975 thể hiện chân thật, sinh động, qua đó, nhà văn thể hiện sức chiếm lĩnh và cắt nghĩa đời sống trong quá trình phát triển của tính cách trong tương quan với từng hoàn cảnh. Nhà văn luôn trăn trở và âu lo trước “vận mệnh con người, hướng tới con người, vì con người” [tr.29]. Từ đó, Bùi Việt Thắng đã chỉ ra sự vận động, đổi mới của truyện ngắn sau 1975 trong từng thời khoảng, khái quát thành các đặc điểm thi pháp chung của thể loại và thi pháp riêng của từng tác giả, tác phẩm tiêu biểu. Bùi Việt Thắng đã khái quát và chia truyện ngắn sau 1975 thành ba dòng phong cách: Dòng phong cách trữ tình, dòng phong cách hiện thực, dòng phong cách kì ảo gắn với tác phẩm của từng nhà văn cụ thể. Kỹ thuật viết truyện ngắn như cấu tứ, kết thúc truyện, tình huống truyện, chi tiết truyện, đặc biệt là nghệ thuật ngôn từ, giọng điệu... để làm nên bút pháp và phong cách tác giả cũng được Bùi Việt Thắng xác định và chứng minh thuyết phục qua từng trang viết.
Để chứng minh và cụ thể hóa hai tiểu luận căn nền khái quát diện mạo truyện ngắn hiện đại ở Phần thứ nhất, Bùi Việt Thắng đã tiến hành khảo sát và nghiên cứu trường hợp (case study) qua chân dung các nhà văn hiện đại tiêu biểu: Kim Lân, Anh Đức, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Kiên, Đỗ Chu, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Nguyễn Quang Sáng, Sơn Nam. Qua các nghiên cứu trường hợp này, người đọc càng hiểu sâu sắc, cặn kẽ hơn từng nhà văn với thi pháp cá nhân đặc sắc và độc đáo riêng, gắn với địa - văn hóa và cái nhìn nghệ thuật của từng tác giả. Nghệ thuật viết chân dung truyện ngắn của Bùi Việt Thắng thỏa mãn nhận thức tối đa của người đọc về con người tác giả/ nhà văn và tác phẩm qua những trang viết giàu tính phát hiện do nắm vững đặc trưng thể loại và khả năng giải mã tác phẩm ở chiều sâu hình tượng và ngôn từ thông qua diễn ngôn giàu tính triết mỹ, nghệ thuật.
Nếu xem truyện ngắn là một thể loại đa hình hài, đa cảm xúc, sẵn sàng cho mọi biến đổi và biến hóa về hình thức; sẵn sàng cho các sắc thái tình cảm, các phương thức thể hiện được huy động trong những chủ đề cũng như những lát cắt hiện thực hấp dẫn khác nhau, thì Bùi Việt Thắng có khả năng khám phá những yếu tố đó trong từng tác phẩm của các nhà văn nói trên một cách nghệ thuật. Qua đó, giúp tư tưởng và cấu tứ của từng truyện ngắn có khả năng du hành đến trái tim bạn đọc đồng sáng tạo bằng con đường tắt, nhưng đầy cỏ hoa, hương thơm và mật ngọt, dẫu có lúc cũng gập ghềnh sỏi đá, nhiều chông gai và nước mắt để tạo nên dưỡng chất tinh thần cho người tiếp nhận. Nghĩa là Bùi Việt Thắng đã phát hiện được những cấu tứ, hình tượng và ngôn từ mang ý nghĩa thẩm mỹ riêng, phong cách riêng của từng nhà văn bằng cảm quan nghệ thuật nhạy bén, tinh tế và sâu sắc của một nhà phê bình chuyên nghiệp. Những đúc kết về phong cách truyện ngắn của từng nhà văn được Bùi Việt Thắng cẩn trọng và bám vào thực tế sáng tác, chứ không phóng đại hoặc thái quá, đi xa với phẩm chất đích thực của từng nhà văn.
Ví như, nhận xét về kịch tính trong truyện ngắn Anh Đức, Bùi Việt Thắng đã thấy được các quan hệ bản chất và đối lập làm nên tình huống đặc biệt: “Tính kịch của tình huống truyện giúp bộc lộ mâu thuẫn, phát hiện tính cách nhân vật trong những xung đột xã hội, giai cấp và đạo đức sâu sắc giữa một bên chính nghĩa và phi nghĩa, một bên nhân cách và phi nhân cách. Nhân vật và tình huống truyện Anh Đức cũng thể hiện rõ nhịp sống và không khí sống của Nam Bộ - một cái gì đó sôi sục, rộng lớn và mạnh mẽ” [tr.89]. Đặt tác phẩm của Anh Đức trong liên hệ với văn xuôi đương đại trong nước và thế giới để thấy đặc điểm riêng của nhà văn này: “Đọc Anh Đức và liên hệ, so sánh với văn xuôi đương đại sẽ thấy hiện nay các nhà văn dường như khước từ thiên nhiên, khước từ những xúc động trước vẻ đẹp của một cảnh sắc (làn gió, tiếng chim, ánh trăng, âm thanh trong tự nhiên). Không ít người say mê “lộn trái đời sống” để viết và phơi bày tận cùng sự tuế toái có khi ô trọc của đời sống. Gần đây ở Hoa Kì có một khuynh hướng phê bình văn học - sinh thái học, trong đó khảo sát sáng tác của nhà văn và xem xét thái độ đối với môi trường sinh thái như thế nào? Thái độ đó có tác động đến độc giả? Và ý nghĩa thực tiễn của sáng tác văn học cũng có thể được đo lường bằng tiêu chí này. Dĩ nhiên nhiệm vụ của văn học là gìn giữ sự trong sạch của “môi trường đạo đức” hơn là “môi trường sinh thái”. Trở về với tự nhiên, hài hòa với tự nhiên, không lợi dụng và không được phép tàn phá nó - nhiệm vụ đó văn học có thể góp phần mình. Một phong cách như Anh Đức - trữ tình, lãng mạn, đề cao thiên nhiên - một sự đóng góp tích cực vào sự phát triển ngày càng đa dạng và phong phú của nền văn học dân tộc thời hiện đại” [tr.95].
Cũng vậy, nhận xét về thi pháp nhân vật truyện ngắn Nguyễn Thành Long, anh tinh tế hiểu đúng và giúp người đọc thẩm đúng: “Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thành Long thường “rướn lên” trong suy nghĩ và hành động, thường “lắng nghe” cuộc đời và chính mình. Nhà văn thường huy động sự nhạy cảm của mình để “bắt mạch” được những chuyển động âm thầm nhất trong cái ồn ào, xô bồ của nhịp sống luôn mở ra nhiều hướng phức tạp. “Tiếng vỗ cánh của cái sáng kiến” - đó là một “tứ” độc đáo như cái bàn đế tạo nên độ vững vàng và chiều sâu cho tác phẩm. “Những tiếng vỗ cánh” tạo ra một âm thanh - một tiếng động rất khẽ, chỉ như một tiếng thì thầm, nó có sức mạnh động viên, khuyến khích con người sống và làm việc hăng say hơn” [tr.102]. Chính những nghiên cứu trường hợp này đã cụ thể hóa cho những đúc kết khái quát ở hai tiểu luận đầu chuyên luận này.
Nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Kiên, Bùi Việt Thắng chú ý ở bình diện chủ đề, đề tài và kỹ thuật viết truyện ngắn, trong đó, tình huống và văn phong được anh đúc kết khá sát đúng: “Khi nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Kiên, chúng tôi rất chú ý đến câu văn trong sáng, ngắn gọn do ông viết, tạo nên hiệu ứng tiếp nhận ở người đọc sự thông suốt... Đọc văn Nguyễn Kiên thấy ông là người lịch lãm, từng trải, vốn văn hóa cao nhưng ông không phô diễn kiểu viết tỏ ra hiện đại (modernism) mà duy trì lối viết “thuần Việt” với lối đặt câu, chọn từ chuẩn xác, giàu sức biểu hiện. Nếu nói “văn là người” thì trong trường hợp Nguyễn Kiên là rất chính xác. Trên gương mặt ông luôn nở nụ cười hồn nhiên, dí dỏm. Người nói chuyện với ông - qua ánh mắt ông - luôn phải dè chừng bởi sự lịch lãm của nhà văn. Ông biết tiếng Pháp, biết đến mức khá nhuần nhuyễn và theo chúng tôi, rất có thể ông ảnh hưởng lối văn Pháp: trang nhã, cân đối, trong sáng” [tr.142]. Viết phê bình trong liên hệ gần và xa, chỉ ra đặc trưng thể loại bằng vốn hiểu biết nghệ thuật vững chắc là hướng đi được Bùi Việt Thắng xác định từ khi bắt đầu nghiệp bút.
Tùy từng “tạng” của nhà văn mà anh chọn hướng tiếp cận và nghiên cứu phù hợp để làm tiền trạm tâm hồn và nghệ thuật, giúp người đọc hiểu đúng chất văn chương của họ. Nhận xét về chất truyện Đỗ Chu, anh liên hệ nhiều cạnh khía nghệ thuật để hiểu đầy đủ về nhà văn và tác phẩm: “Đỗ Chu là một nhà văn viết truyện ngắn có phong cách - phong cách trữ tình. Nếu được phép phân hạng thì ông là học trò của Thạch Lam, Nguyễn Thành Long (các nhà văn Việt Nam) và C. Pauxtôpxki (nhà văn Nga) và A. Đôđê (nhà văn Pháp). Phong cách trữ tình của Đỗ Chu đã tạo nên một kiểu văn xuôi giàu chất thơ. Cái nhìn đời tươi xanh, lãng mạn, thơ mộng, biết rung động trước những biến thái nhỏ nhất, linh diệu nhất của đời sống đã tạo nên sắc điệu, giọng điệu trữ tình của truyện ngắn Đỗ Chu. Có thể nói Đỗ Chu là nhà văn mạnh về trực giác... Đỗ Chu là nhà văn có khả năng quan sát tinh tế cảnh và người, nhờ cái khả năng này mà mặc dầu truyện của ông không có “chuyện” nhưng hấp dẫn và lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối nhờ cảm xúc được nối liền, dâng lên thành cảm hứng - một cảm hứng toàn vẹn giúp người đọc có được cái hình dung đầy đủ về một khung cảnh, một tâm trạng...” [tr.252]. Nhận xét như vậy quả là chu đáo và đi đúng điểm nhìn nghệ thuật và cái nhìn nghệ thuật của nhà văn khi kiến tạo hiện thực về cuộc sống và con người cho tác phẩm.
Đối với trường hợp Nguyễn Huy Thiệp, Bùi Việt Thắng cẩn trọng và nghiên cứu sâu toàn bộ thế giới truyện ngắn của nhà văn này để kết luận một cách chính xác và trong khả năng có thể, sẽ mở ra những đối thoại với người đọc chuyên sâu về một hiện tượng văn học thời đương đại, chưa thống nhất trong dư luận của bạn đọc và cả nhà phê bình: “Tranh luận về Nguyễn Huy Thiệp có khi rơi vào tình trạng vì những lí do bên ngoài văn học, tuy nhiên dần dần người ta đã thoát ra được ngoài cái “vòng kim cô" khi đặt tác giả này trong không khí Đổi mới của xã hội và văn học những năm tám mươi của thế kỉ XX. Nguyễn Huy Thiệp là sản phẩm tất yếu của một thời kì "thiên thời - địa lợi - nhân hoà", ở đó tài năng của nhà văn gặp gỡ với khát vọng dân chủ trong sự vận động của ý thức xã hội sau chiến tranh. "Hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp" không thể xuất hiện sớm hơn hoặc muộn hơn như việc nó đã xuất hiện. Sự tranh cãi không phân thắng bại là chuyện tất nhiên, nó chứng tỏ sự "hết mình" của nhà văn cũng như của bạn đọc, lớn hơn là "sự quan tâm của xã hội đối với văn học". Nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh có lí khi nhận xét: Hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp không phải là xu hướng phổ quát và tất cả của đổi mới nhưng nó là dòng mạch xuất hiện đồng thời với đổi mới" [tr.187]. Sau khi phân tích sâu thế giới truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Bùi Việt Thắng đi đến nhận xét về ưu và khuyết điểm của nhà văn này với quan điểm và lập trường riêng để mọi người cùng suy xét, đối thoại: “Nguyễn Huy Thiệp là một "hiện tượng văn học" hi hữu, phức tạp nhất trong hai thập kỉ cuối thế kỉ XX trên văn đàn Việt Nam. Tài năng văn chương của ông là không thể phủ nhận cũng như đóng góp của ông đối với sự phát triển nền truyện ngắn dân tộc vốn có truyền thống lâu đời (từ thế kỉ XIV-XVI) và đặc biệt phát triển rực rỡ trong thế kỉ XX. Nhưng hiện tượng nào cũng có hai mặt của nó: Nguyễn Huy Thiệp "công nhiều” nhưng "tội không ít". Trước hết là biểu hiện của chủ nghĩa tự nhiên trong sáng tác - nhà văn thường say mê miêu tả những chi tiết tục tĩu, kinh dị nhiều khi gây phản cảm (Tướng về hưu, Không có vua, Cún...). Trong khi "lập ngôn", nhà văn đứng chông chênh trên bờ vực nhưng tưởng mình tìm ra chân lí khi cho nghệ thuật hiện đại là suy đồi, cho rằng "du hí" là thiên chức của văn chương và nhà văn là người "lầm lẫn". Là người thành danh nhờ truyện ngắn nhưng gần đây ông lại cho rằng đó chỉ là một thứ "bài tập văn chương". Cái nhìn nghệ thuật về con người thiên về mặt bản năng, tự nhiên và tự do (Bài học tiếng Việt)... Nguyễn Huy Thiệp là nhà hiện thực và cũng là nhà lãng mạn, một nhà văn có phong cách nghệ thuật biến ảo tài tình. Như người xưa nói "tài và tật”, đi liền với nhau - ở trường hợp Nguyễn Huy Thiệp là rất sát hợp” [tr.203]. Đây là nhận xét rất khác với nhiều nhà nghiên cứu cùng thời, mang tính thực chứng, khách quan, rất cần khi nghiên cứu các hiện tượng văn học phức tạp và tồn tại nhiều tranh luận. Điều này giúp người tiếp nhận có cái nhìn tỉnh táo, không thần thánh hóa một nhà văn mà bình tĩnh xem xét văn chương trong nhiều mối quan hệ bản chất và tương tác, nhất là căn cứ vào thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp sáng tác/ phương pháp nghệ thuật để mọi nhận định đạt tính khoa học cao.
Bàn về phong cách truyện ngắn Ma Văn Kháng, cũng trong tinh thần đi sâu vào thế giới ngôn từ và hình tượng của tác phẩm để giải mã những tư tưởng và ý tứ ngầm ẩn của từng truyện ngắn, chỉ ra biệt tài và phong cách của nhà văn này trong dòng chung của truyện ngắn hiện đại và đương đại Việt Nam: “Dường như nhà văn có cái ý thức của một nghệ sĩ ngôn từ chân chính không bỏ quên chuyện gì, không bỏ quên con người nào trong cõi trần gian. Và điều đáng quan tâm với những độc giả tinh tuyển là, nhà văn thuộc số ít người cầm bút quan tâm nhiệt thành tới mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Vì thế mới có những thiên truyện thấm đẫm hơi thở của tự nhiên như là một bà mẹ vĩ đại đáng được con người trân quý. Những truyện ngắn thể hiện một phương diện trong phong cách nghệ thuật Ma Văn Kháng - phong vị trữ tình, lãng mạn... Nói đến sự tinh tế, nhuần nhị của ngòi bút Ma Văn Kháng thì cần tìm trong truyện ngắn, còn tiểu thuyết là nơi ông thể hiện sự đầy đặn vốn sống, tinh thần công dân cao cả, cái nhìn xuyên suốt của đại bàng khi bay cao và xa. Nói một cách hình ảnh thì Ma Văn Kháng "đi bằng hai chân" tiểu thuyết và truyện ngắn trên con đường thiên lí văn chương dài lâu và gập ghềnh. Không nhiều nhà văn Việt Nam đi được những bước vững chãi như thế cả ở hai thể loại vốn được coi là “mặt tiền" của văn chương đương đại” [tr.208]. Bùi Việt Thắng còn chỉ ra “tổng phổ” và tinh thần nhân văn chủ nghĩa của truyện ngắn Ma Văn Kháng: “Truyện ngắn Ma Văn Kháng thường "chạm" đến tầng sâu nhất của đời người trong những thân phận hoàn toàn khác nhau, dẫu cao thấp, sang hèn, ngu dốt hay trí lự. Có thể nói hơn 200 truyện ngắn của Ma Văn Kháng là một bản “tổng phổ" về lẽ đời, về cõi người, về kiếp nhân sinh. Nhà văn không phân chia rạch ròi tỉ lệ phần trăm xấu tốt, sáng tối của cuộc đời. Ông viết một cách ưu ái nhất về cuộc đời và con người. Ông cũng đồng thời quyết liệt nhất khi vạch trần cái ác, cái xấu. Ma Văn Kháng là cây bút viết theo khát vọng được thành thực... Ma Văn Kháng là nhà văn đắm đuối với đời, với người, với tạo vật. Ông mang cái đắm đuối ấy vào văn chương. Vì thế có thể nói, văn của Ma Văn Kháng là văn của một cây bút có ý thức phụng sự cuộc đời, phụng sự cái Đẹp” [tr.218]. Qua đây, người đọc hiểu tận cùng bản chất và nhân cách văn chương Ma Văn Kháng.
Cũng lẩy từ tác giả truyện ngắn sau 1975 qua “tấm gương thể loại”, Bùi Việt Thắng chỉ ra thi pháp riêng của hai nhà văn Nam Bộ tiêu biểu: Nguyễn Quang Sáng và Sơn Nam. Với Nguyễn Quang Sáng, nhà văn có cá tính sáng tạo đặc biệt về đề tài chiến tranh được Bùi Việt Thắng khái quát chuẩn xác: “Những truyện ngắn được viết trong chiến tranh của Nguyễn Quang Sáng thường có cái dư vị của một thời đạn bom khói lửa. Những con người trong hoàn cảnh đầy khó khăn đó vẫn cứ vằng vặc trăng sao, phát sáng, lan tỏa. Chất sống trong mỗi truyện thường cô đặc, mỗi khoảnh khắc sống có khi như là dồn lại cả đời người. Nhà văn chú ý đến những “mô - măng" (moment), ở đó như là những hoàn cảnh điển hình thông qua những tình huống tiêu biểu làm phát lộ bản chất con người. Trong gia tài truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng, những tác phẩm được sáng tác sau năm 1975 dù vẫn trung thành với nguyên tắc sáng tác kiên trì từ tác phẩm đầu tay - giản dị và trung thành với sự thật đời sống - nhưng được bồi đắp thêm chất phù sa triết lí. Nếu trước đây nhà văn quan tâm đến chi tiết và tình huống truyện tạo nên cái “duyên thầm" hấp dẫn người đọc thì nay vững chãi hơn nhờ vào cái bàn đế - hay gọi là hạt nhân - đó là tính vấn đề của tác phẩm. Quan trọng hơn là ở chỗ, nhà văn như là người hướng dẫn độc giả đi đúng hướng để đạt tới cái mục tiêu mà mình đặt ra khi cầm bút viết. Nhưng sự hướng dẫn này không lộ liễu, trái lại rất kín đáo, nhuần nhị, khéo léo. Đôi khi người đọc như lạc vào “mê hồn trận", nhưng lập tức được tác giả giải cứu bằng những lối mở thông minh, tài hoa. Mỗi truyện được viết trong thời kì này hàm chứa một triết lí về đời sống và con người thời hiện đại. Nhưng rất may mắn cho độc giả là không bị cuốn vào cái gọi là “triết lí vặt” đang nhan nhản trên khắp các trang sách, đặc biệt của những cây bút non tay thường đắp điếm cho sự thiếu hụt vốn sống và căn cốt văn hóa nhà văn. Về hình thức thể loại, truyện ngắn viết sau năm 1975 của Nguyễn Quang Sáng có thể được gọi là truyện luận đề, truyện triết lí. Về một phương diện nào đó ông gần gũi với lối viết của Nguyễn Minh Châu” [tr.222]. Cứ thế, nhà phê bình không ngừng chỉ ra thi pháp riêng trong dòng chung của nhà văn này thông qua “tấm gương thể loại” truyện ngắn, đặc chất Nam Bộ: “Nguyễn Quang Sáng là người kể chuyện có duyên. Đó là một thứ duyên thầm. Có người ví von đó là lối kể chuyện của những người uống rượu. Thoải mái, hồn nhiên, say sưa. Nhà văn khi viết luôn tuân thủ nguyên tắc bám lấy ngôn ngữ đời sống vì nó “tươi rói và sinh động", nhà văn không thể bịa ra được. Vì thế đọc truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng thấy nổi bật một đặc điểm, đó là thứ văn "ròng ròng sự sống” (chữ dùng của Nguyễn Đình Thi). Dường như cái chất phù sa màu mỡ, dồi dào của vùng châu thổ sông Cửu Long đã bồi đắp cho văn Nguyễn Quang Sáng một vẻ đẹp mặn mòi, bện quấn, dư dả... Dấu ấn, cá tính sáng tạo của Nguyễn Quang Sáng trên từng trang văn, đặc biệt là truyện ngắn, phản chiếu một "nhịp tâm hồn", "điệu tâm hồn" của chủ thể - luôn yêu cuộc sống, yêu con người, kiên trì đấu tranh bảo vệ cái đẹp. Giản dị và chân thành, hồn nhiên và phóng khoáng trên từng câu chữ tạo nên sức hấp dẫn khó cưỡng lại với độc giả nhiều thế hệ” [tr.230-231]. Phải nói đây là những nhận xét kỹ lưỡng và có thao tác khoa học đáng tin cậy.
Với nhà văn Sơn Nam, cũng thế. Khó mà rút ra được những kết luận về nhà văn này nếu không đi sâu vào bên sâu, bên xa của tác phẩm và vốn hiểu biết về địa - văn hóa mà nhà văn tồn tại với tư cách là người nếm trải để thành văn chương tinh túy riêng: “Sơn Nam viết mà như không viết. Một khi viết là cơ hội ông trải lòng mình, trải thiên nhiên lên từng trang sách. Truyện của Sơn Nam tràn trề thiên nhiên đến từng hang cùng ngõ hẻm. Có cảm giác mỗi khi nhà văn cúi xuống mảnh đất mình đang đứng là ông lại "nhặt" được một cái gì đó vô cùng quý giá mà tự nhiên vô tình đánh rơi. Những vật thể ấy là nguyên dạng, nguyên sơ, nguyên khởi, nguyên chất...Văn Sơn Nam rất tiêu biểu cho “Hơi thở của miền Nam nước Việt “ (Tạ Tỵ - Mười khuôn mặt văn nghệ, NXB Sài Gòn, 1970). Một lối văn khỏe khoắn khiến cho đọc Sơn Nam, độc giả bị cuốn theo cái chất hào phóng, khí khái, đầy nghĩa tình của người nông dân Nam Bộ... Truyện Sơn Nam ngồn ngộn đối thoại. Nó hợp với tính cách người nông dân Nam Bộ - không phải là những người quá trầm tư mặc tưởng, không ham "độc thoại" kiểu như các trí thức, đôi khi là trí thức nửa mùa. Đối thoại vừa giúp mạch truyện triển mở, vừa tạo ra cái nhịp (rythme) đi tới. Vì thế văn Sơn Nam là một lối văn năng động, cởi mở, sáng rõ” [tr.247]. Nhiều người nhận xét về văn Sơn Nam với nhiều phẩm chất độc sáng, đến Bùi Việt Thắng, anh vẫn lẩy được các khác/ cái mới của văn chương Sơn Nam.
2. Phần thứ hai của chuyên luận có tên gọi Những sắc cầu vồng truyện ngắn. Ở phần này, chuyên luận muốn thông điệp đến người đọc về đặc điểm văn chương thời hiện đại và hậu hiện đại của một thế hệ nhà văn trẻ nối tiếp và đồng hành với nhà văn các thế hệ trước, nhưng có tiếng nói nghệ thuật riêng - tiếng nói “khi người ta trẻ” viết về thời họ sống mà Bùi Việt Thắng gọi họ là “Một lứa bên trời”. Diện mạo và phong cách truyện ngắn thế hệ 5X và 6X được tác giả chuyên luận nêu một cách tổng quan, trước khi cụ thể hóa bằng chân dung truyện ngắn các nhà văn tiêu biểu. Bắt đầu bằng sự xuất hiện của một thế hệ nhà văn sau chiến tranh trong hoàn cảnh lịch sử, xã hội và học thuật hội đủ những cộng hưởng để làm nên “một thời đại văn chương” mà thế hệ 5X và 6X là đại diện tiêu biểu để nối tiếp đổi mới, hiện đại hóa trong dòng chảy thống nhất từ trước đến sau cột mốc năm 1975. Điểm qua gương mặt những nhà văn tiêu biểu thuộc thế hệ này, Bùi Việt Thắng đã chỉ ra sự đổi mới liền mạch với văn chương các thế hệ trước là Bảo Ninh (đại diện cho thế hệ 5X), Phan Thị Vàng Anh (đại diện cho thế hệ 6X). Quan niệm mới về cuộc sống và con người trong chiến tranh và thời hậu chiến ở các nhà văn thế hệ này có sự sáng tạo mới mẻ và nhanh chóng đạt được tư tưởng và cái nhìn nghệ thuật riêng, đa dạng. Từ đó, Bùi Việt Thắng nhận định khái quát về phong cách nổi bật của truyện ngắn sau 1975: “Trên quan điểm và phương pháp loại hình, lại có thể "gom" một số phong cách nào đó có nhiều nét gần gũi vào trong một kiểu mẫu dựa trên các tiêu chí về nội dung và hình thức nghệ thuật. Theo quan điểm của chúng tôi có thể tạm chia ra ba khuynh hướng phong cách truyện ngắn của thế hệ 5X và 6X: hiện thực - tâm lý, trữ tình, triết lý - suy tưởng” [tr.258]. Từ đó, Bùi Việt Thắng nêu ra đặc điểm từng dòng phong cách để người đọc nắm bắt tổng thể thi pháp chung của các thế hệ nhà văn này: “Trước hết, theo chúng tôi, phong cách hiện thực - tâm lý là nét đặc trưng trong sáng tác truyện ngắn của các nhà văn Ngô Thị Kim Cúc, Dạ Ngân, Bảo Ninh, Phạm Hoa, Trần Đức Tiến, Nguyễn Quang Lập, Phạm Ngọc Tiến, Y Ban, Tạ Duy Anh, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Thị Thu Huệ và Trần Văn Thước... Khuynh hướng phong cách này gắn kết những nhà văn có chung thị hiếu thẩm mỹ, có chung con đường tiếp cận hiện thực và những cách thức nghệ thuật thể hiện. Trước hết đó là cái nhìn nghệ thuật tỉnh táo, nghiêm ngặt về cuộc sống và con người trong muôn vàn những mâu thuẫn, những ái ố hỉ nộ, tham sân si. Nương theo phong cách này nhà văn thường "dồn tối đa sức mạnh vào những mô tả chính xác một cách khoa học như văn chương có thể” (như cách nhận xét của nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan về Bảo Ninh). Nhà văn thường chú ý khai thác và thể hiện những xung đột, mâu thuẫn gay gắt của đời sống, ném nhân vật vào những guồng quay chóng mặt, buộc con người phải bộc lộ hết mình” [tr.258-259]. Kế đến là phong cách trữ tình: “Khuynh hướng phong cách trữ tình thấm đượm trong truyện ngắn của các nhà văn Võ Thị Xuân Hà, Trần Thùy Mai, Thùy Linh, Võ Thị Hảo, Huỳnh Thạch Thảo. Năm nhà văn này, tôi cứ hình dung, như năm ngón tay trên một bàn tay mềm mại, nắn nót khi viết những truyện ngắn giàu chất thơ. Họ giống nhau ở cách nhìn về phía sáng, phía nên thơ của đời sống. Thậm chí đôi khi lãng mạn hóa, thi vị hóa đời sống vốn rất bộn bề, phức tạp và thậm chí rối rắm. Nhà văn thường viết về những hoài niệm đẹp, trong suốt, có sức ám gợi, liên tưởng sâu xa. Nhà văn thường “tìm vào nội tâm" nhân vật theo cách viết của các bậc tiền bối văn chương như Thạch Lam, Nguyễn Thành Long, và những đồng nghiệp cùng thời như Đỗ Chu, Nguyễn Quang Thiều. Truyện ngắn của các nhà văn này có cái vẻ lỏng lẻo (cố ý) của kết cấu và "xem nhẹ" cốt truyện” [tr.261]. Cuối cùng là Phong cách triết lý - suy tưởng:“Khuynh hướng Phong cách triết lý - suy tưởng thể hiện khá đậm nét trong truyện ngắn của Hồ Anh Thái, Phan Thị Vàng Anh và Lý Lan... . Triết lý và suy tưởng bật lên trong những vấn đề đời sống mới được phát hiện. Nhưng triết lý phải hòa quyện với chất sống để cho tác phẩm tránh khỏi giáo điều, giáo hóa, giáo huấn. Trong thực tế không phải không có trường hợp nhà văn rơi vào “triết lý suông", nguy hại hơn là "triết lý vặt.” [tr.264]. Nếu không có quá trình theo dõi, quan sát toàn cảnh của một người trót mang lấy nghiệp phê bình vào thân, thì khó mà khái quát và xác định sáng rõ, sát đúng đặc điểm của từng khuynh hướng phong cách như vậy. Mà phong cách thì bao giờ cũng gắn với thể loại để tạo nên tài năng riêng của từng nghệ sĩ ngôn từ. Về bình diện này, Bùi Việt Thắng cũng nắm bắt và khẳng định sáng rõ: “Có thể khẳng định thế hệ 5X và 6X đã đem lại cho thể loại truyện ngắn những khởi sắc đáng quan tâm. Nếu so sánh với những nhà văn viết tiểu thuyết, sẽ thấy những nhà văn viết truyện ngắn đã có ý thức cách tân thể loại "nhỏ" và đã có những thành công nhất định. Nếu so sánh với truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1975, thì có thể nói không quá, truyện ngắn sau 1975 đã có những cách tân đáng chú ý mà công lao không nhỏ một phần thuộc về thế hệ nhà văn 5X và 6X. Trước hết là sự đa dạng về chủng loại, kiểu dạng truyện ngắn. Chính các nhà văn thế hệ 5X và 6X chứ không phải ai khác đã tạo nên sự phong phú này xét về hình thức thể loại... Tiểu thuyết hóa truyện ngắn cũng là một xu hướng, một nét trội trong tác phẩm của Dạ Ngân, Trần Văn Thước, Tạ Duy Anh, Sương Nguyệt Minh. Cái vỏ bề ngoài của truyện ngắn có vẻ như bị “đập vỡ" ra, tạo nên những hình hài mới, tạo nên những tương tác thể loại mới” [tr.267]. Chân trời vẫy gọi của truyện ngắn sau 1975 và sức lan tỏa, ảnh hưởng của nó đến văn chương cùng thời và văn chương sau đổi mới là không thể khác. Sức sống và tiềm năng truyện ngắn của các thế hệ nhà văn này sẽ còn mở ra sự đối thoại, cộng hưởng mới của liên chủ thể sáng tạo và tiếp nhận để làm nên diện mạo văn chương rực rỡ trong tương lai: “Nhìn sang lĩnh vực truyện ngắn, gắn nó với thế hệ 5X và 6X, sẽ thấy một cơ sở thực tế để tin tưởng vào tiền đồ của thể loại "nhỏ". Đó không chỉ là sự hùng hậu về đội ngũ, đó không chỉ là sự "kích cầu” của các báo và tạp chí, các nhà xuất bản luôn luôn mời gọi và cổ vũ nhà văn sáng tác truyện ngắn bằng những cuộc thi dày đặc, mà còn vì cơ chế đọc văn chương của người Việt đương thời, thích sự ngắn gọn, tốc độ và hiệu quả phù hợp với quỹ thời gian nhàn rỗi đang bị eo hẹp dần. Nếu so sánh với tiểu thuyết, thì ở lĩnh vực truyện ngắn từ sau 1975, ở thế hệ 5X và 6X, dễ dàng định vị được một số tác giả có thành tựu - ít nhất thì cũng có thể đếm hết hai bàn tay (trừ một vài trường hợp đứng ở thế nước đôi như Tạ Duy Anh và Hồ Anh Thái, họ có thể là tác giả tiểu thuyết và từng có thể là tác giả truyện ngắn). Và dường như truyện ngắn phù hợp với tư duy nghệ thuật, mô thức cảm xúc thẩm mỹ của người Việt thường hướng đến những cái, xét về khuôn khổ và mức độ, ở tầm mức “vừa khoảng" (chữ dùng của nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đình Hượu). Nghĩa là cái xinh xắn, vừa mắt, gọn gàng, tiện lợi. Những phẩm tính đó phù hợp với "cơ địa", "cơ chế” của thể loại truyện ngắn. Hơn thế, xét về nội lực văn chương thì thế hệ 5X và 6X quả là đang ở độ "tráng niên" [tr.270].
Để chứng thực cho những đúc rút khái quát trên, công trình đi sâu vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật và chân dung các nhà văn tiêu biểu, xuất sắc sau 1975 để thông điệp những nội dung cụ thể của từng luận điểm. Đầu tiên là Nguyễn Quang Thiều, nhà văn của những tinh khôi và bí ẩn khi thể hiện con người và cuộc sống. Đây là nhà văn luôn khám phá thế giới bằng những trải nghiệm hiện thực và tâm linh mà mình sống qua và dự cảm, rung động và ước mơ về những gì tốt đẹp rồi sẽ đến với mọi người. Bùi Việt Thắng đã chỉ ra nét riêng thi pháp truyện ngắn của nhà văn này: “Trong truyện ngắn của mình, Nguyễn Quang Thiều, theo quan sát của chúng tôi, không quá chú mục vào miêu tả cái cập nhật, hiện hữu mà nghiêng về phát hiện thế giới nội tâm, tâm linh của con người thời đại. Đi sâu vào thế giới tâm linh quả thực nhà văn đang làm một cuộc thám hiểm nhiều gian nan, khác nào nghệ sỹ xiếc biểu diễn trên dây, vô cùng chênh vênh, chơi vơi nếu giản đơn trong cách hiểu con người vốn là một “tiểu vũ trụ”, đầy bí ẩn, không dễ dàng nắm bắt và thể hiện bằng ngôn từ nghệ thuật. Cái mơ hồ, đứt đoạn, vừa trừu tượng vừa hiện hữu của thế giới tâm linh là một thách thức tài năng nhà văn...Sự tinh tế của ngòi bút Nguyễn Quang Thiều thể hiện rất rõ ở phương diện này. Chỉ có thể nhờ vào sự nhạy cảm, sự mách bảo của chính tâm linh người viết anh ta mới có thể nhập sâu vào thế giới tâm linh của người khác theo lối “đồng bệnh tương lân, đồng khí tương cầu”. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa nhân vật của Nguyễn Quang Thiều nhạt nhòa về tính xã hội, tính thực tế đời sống. Bởi họ là những con người bằng xương bằng thịt, sống trong những hoàn cảnh đời thường cụ thể, họ có khát vọng rất “người”. Dấu ấn xã hội, lịch sử in đậm trên mỗi tính cách nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều. Nói cách khác, tác giả đi rất vững trên đôi chân của mình bám chặt lấy mặt đất nhưng tâm hồn thì thăng hoa, phiêu bồng” [tr.273-274]. Nhận định như thế là rất hay và rất mới về chất văn Nguyễn Quang Thiều.
Khám phá về thế giới truyện ngắn của các nhà văn thế hệ 5X, 6X, 7X như Nguyễn Văn Thọ, Dạ Ngân, Phạm Duy Nghĩa, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Thế Hùng, Như Bình, Vũ Minh Nguyệt, Văn Chinh, Nguyễn Trường..., Bùi Việt Thắng cũng luôn đặt tác phẩm của họ vào bối cảnh lịch sử - xã hội với tình huống cụ thể. Qua đó, anh chứng minh sự vận động tính cách của từng nhân vật. Các mối quan hệ đời tư - thế sự cũng từ đó tương tác nhau, hình thành cái nhìn sinh thái thiên nhiên và sinh thái xã hội tinh thần một cách khách quan, chân thật. Khám phá văn truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa, thấy được “sự trù phú, xanh tươi của cây cối, hoa lá. Sự trù phú, tươi xanh đó sở dĩ có được là nhờ nó được vun xới, tưới tắm bằng chất thơ của đời sống bởi một người làm vườn cần mẫn, mát tay... Cũng chính trong khu vườn này “mọi vật đều có linh hồn”. Có thể nói, khu vườn văn chương của Phạm Duy Nghĩa đầy ắp màu xanh - chất thơ của đời sống - và được tắm gội bằng ánh sáng nhân văn rực rỡ, nồng thắm... Trong văn Phạm Duy Nghĩa chúng tôi cảm nhận thấy một nhịp sống chậm của các nhân vật, trong nhiều trường hợp kể cả cỏ cây, hoa lá, chim muông, nắng gió, trăng sao, mây trời... Cái nhịp điệu văn Phạm Duy Nghĩa vừa động vừa tĩnh, nhưng vẫn nổi trội ở cái tâm thế tĩnh” [tr.279-284]. Nghiên cứu để chỉ ra đặc sắc thi pháp riêng của từng nhà văn là nỗ lực và mục tiêu phê bình của Bùi Việt Thắng.
Với nhà văn nữ tiêu biểu Võ Thị Xuân Hà, anh phát hiện ra văn mạch truyện mang ấn tượng thị giác, làm nên nét riêng so với các nhà văn nữ khác cùng thế hệ: “Nhờ ấn tượng này mà câu văn trở nên sinh sắc, có sức gợi, sức tả như thể “đập vào mắt” người đọc tựa hồ đang xem phim, đặc biệt khi tác giả miêu tả các tư thế, nhất là tư thế của người nữ... Một lối văn gây ấn tượng thị giác nhờ màu sắc như thế ắt hẳn tác giả phải là một người luôn luôn tươi tắn, không chỉ ở ánh mắt, nụ cười, làn da mà là sự tươi tắn tự trong một tâm hồn luôn trẻ trung” [tr.298-299].
Bùi Việt Thắng luôn có khả năng phát hiện ra những từ khóa (key word) đặc trưng cho truyện ngắn của từng nhà văn, giúp người đọc có đường link dẫn vào bên sâu của hình tượng và ngôn từ nhằm tạo nghĩa mới cho tác phẩm. Cũng từ phong cách phê bình ấy, Bùi Việt Thắng phát hiện chất truyện của Dạ Ngân là “nằm trong mạch văn hồi cố, hoài niệm”. Văn Dạ Ngân “đắm đuối nhưng không não nùng (cải lương), hiện sinh phồn thực nhưng không sex, trầm lắng nhưng không u tịch, tối giản nhưng không giản đơn” [tr.319]. Và không chỉ có thế, anh còn bổ sung: “Văn Dạ Ngân không bằng phẳng, trái lại gập ghềnh, có vẻ như là tác giả muốn khêu gợi, thử sức người đọc từ bỏ một lối cảm, lối nghĩ vốn đã thành thói quen” [tr.316].
Với truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ, người thường viết về đề tài người Việt xa xứ ở hải ngoại, Bùi Việt Thắng thấy được cái “nhiệt hứng, thung thổ” của nhà văn khi gắn với địa - văn hóa các vùng quê Việt, đặc biệt là vẫn hiện lên “căn cốt văn hóa Thăng Long - Hà Nội”, “Truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ không đặc sắc ở tính “chốc lát”, “khoảnh khắc” mà ở tính chất “mầm mống tiểu thuyết” khi phản ánh hiện thực và con người trong tác phẩm. Phải nói là nhãn quan phê bình của Bùi Việt Thắng đã đi đúng vào bản chất và đặc trưng truyện ngắn của các nhà văn thời hiện đại.
Dù vây, ở Phần thứ hai của chuyên luận, có vẻ như Bùi Việt Thắng bỏ qua nhiều tác giả trẻ xuất sắc khác, nhất là các tác giả đương đại, có khuynh hướng thể hiện bút pháp hậu hiện đại như Đặng Thân, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Nguyễn Ngọc Tư... Đây là sự thiếu vắng có lý do vì anh đã viết khá cụ thể về những nhà văn này ở những công trình được ấn hành trước đó. Đó là điều đáng tiếc ở Phần thứ hai của chuyên luận này so với Phần thứ nhất. Nhưng cũng không thể yêu cầu tuyệt đối ở nhà phê bình trong mọi lúc, mọi không gian cầm bút gói gọn trong một công trình.
***
Mấy mươi năm làm người đồng hành cùng thời với văn chương Việt Nam hiện đại và đương đại, nhất là với văn xuôi, cuối cùng, Bùi Việt Thắng là người hạnh phúc vì những thành tựu được đáp đền và đặc biệt là anh được thỏa mãn nhu cầu hiểu biết, khám phá và sáng tạo trên mảnh đất văn xuôi sôi động và màu mỡ của thời hiện tại đang tiếp diễn mà anh theo đuổi không mệt mỏi như một duyên nghiệp. Anh được tự do diễn ngôn và đối thoại với nhà văn và bạn đọc cả nước bằng những trang viết giàu hàm lượng khoa học, giàu tính phát hiện từ nhiều hướng tiếp cận theo lý thuyết hiện đại để trở thành nhà phê bình đồng sáng tạo. Và hiện tại, Bùi Việt Thắng vẫn đang trên chặng mới của hành trình tiếp nhận cái đẹp của văn xuôi đương đại Việt Nam với những hứa hẹn luôn đổi mới và hội nhập./.
Vỹ Dạ, Huế, 3 - 2025
H . T . H