- Lý luận - Phê bình
- Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
TRẦN NGỌC TUẤN
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Tác giả Trần Ngọc Tuấn
Từ hình tượng đến biểu tượng
Trước hết, cần phân biệt hình tượng và biểu tượng. Có thể hiểu đơn giản: hình tượng là hình ảnh nghệ thuật được nhà văn, nhà thơ xây dựng để thể hiện con người, sự vật, cuộc sống và tư tưởng, cảm xúc; còn biểu tượng là hình tượng đã vượt ra khỏi chính nó để gợi lên một ý nghĩa rộng hơn, sâu hơn và có tính khái quát.
Chẳng hạn, trong câu ca dao Trong đầm gì đẹp bằng sen:
Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng.
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
(nguồn Thi viện)
Ban đầu, sen là một hình tượng, một sự vật cụ thể trong tự nhiên. Nhưng sen không chỉ còn là sen. Từ đặc điểm “gần bùn” mà “chẳng hôi tanh mùi bùn”, hình ảnh sen trở thành biểu tượng cho phẩm chất trong sạch, thanh cao của con người, đặc biệt là khả năng giữ gìn phẩm giá trong hoàn cảnh không thuận lợi. Như vậy, hình tượng trả lời câu hỏi “đó là gì?”, còn biểu tượng thường mở ra câu hỏi “nó còn có thể gợi đến điều gì?”.
Một nhân vật văn học cũng có thể trở thành biểu tượng. Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du trước hết là một nhân vật cụ thể với tài năng, nhan sắc, tình yêu và số phận riêng. Nhưng vượt khỏi câu chuyện của một người phụ nữ trong xã hội phong kiến, Kiều còn trở thành biểu tượng cho thân phận người phụ nữ tài sắc nhưng đau đớn, bất hạnh, đồng thời gợi lên bi kịch của con người khi tài năng, tình yêu và khát vọng sống bị chà đạp. Tương tự, trong Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên, con tàu không chỉ là phương tiện vận chuyển. “Con tàu” và “Tây Bắc” trở thành biểu tượng của khát vọng lên đường, đi xa, đến với nhân dân, với cuộc đời và tìm lại nguồn cảm hứng sáng tạo:
Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hoá những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu.
Hoặc trong bài thơ Ánh trăng (Nguyễn Duy), ánh trăng vừa là một hình ảnh thiên nhiên vừa trở thành biểu tượng của quá khứ nghĩa tình, của những năm tháng gian lao, của nhân dân và những giá trị từng gắn bó với con người nhưng đôi khi bị lãng quên trong cuộc sống hiện tại.
Điều đáng chú ý là, không phải cứ hình ảnh nào xuất hiện trong thơ cũng là biểu tượng. Một hình ảnh trở thành biểu tượng khi nó được đặt trong một hệ thống ngữ cảnh khiến người đọc nhận ra phía sau hình ảnh cụ thể ấy là một lớp nghĩa rộng hơn. Vì vậy, có thể hình dung quá trình này như sau: Từ sự vật - hình ảnh nghệ thuật - hình tượng - biểu tượng - và cuối cùng là ý nghĩa khái quát.
Tuy nhiên, quá trình trên không phải lúc nào cũng diễn ra theo một công thức cứng nhắc. Có những biểu tượng đã được cộng đồng sử dụng lâu dài; cũng có những biểu tượng chỉ thực sự xuất hiện trong một khoảnh khắc sáng tạo của nhà thơ. Và đây chính là điểm quan trọng để chúng ta bước vào thế giới của thơ cổ điển, thơ tượng trưng, siêu thực.
Biểu tượng là “chìa khóa” để giải mã thế giới thơ
Nếu chỉ đọc thơ bằng nghĩa trực tiếp của câu chữ, người đọc rất dễ bỏ qua phần sâu sắc nhất của tác phẩm. Bởi thơ thường nói ít mà gợi nhiều. Một hình ảnh có thể chứa đựng cả một hệ thống tư tưởng, cảm xúc và văn hóa. Có thể xem biểu tượng như một chiếc chìa khóa để mở cánh cửa thế giới thơ. Nhưng mỗi thời đại, mỗi phong cách thơ lại có cách tạo ra và sử dụng biểu tượng khác nhau.
Với thơ cổ điển thời trung đại, biểu tượng thường mang tính ước lệ, quy phạm. Trong văn học trung đại, đặc biệt dưới ảnh hưởng của mỹ học cổ điển, nhiều hình ảnh thơ đã được cộng đồng văn hóa sử dụng lâu dài và trở thành những “mã” nghệ thuật quen thuộc. Đó là những hình ảnh như tùng, trúc, mai gợi người quân tử; liễu, đào thường gợi tuổi trẻ, người đẹp hoặc mùa xuân; con cò gắn với người nông dân, người phụ nữ; chim bằng, chí tang bồng, tung hoành gợi khát vọng lập công, lập nghiệp; trăng, rượu, hoa trở thành những hình ảnh quen thuộc của đời sống tao nhân mặc khách... Đặc điểm của hệ thống này là người sáng tác và người tiếp nhận cùng chia sẻ một “mã văn hóa”. Khi đọc “tang bồng”, người đọc trung đại có thể liên tưởng đến chí làm trai; đọc “tùng”, “trúc” có thể liên tưởng đến phẩm chất người quân tử.
Trong Tỏ lòng, Phạm Ngũ Lão viết: “Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu/ Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”. Hình ảnh người tráng sĩ “cầm ngang ngọn giáo” và khí thế “nuốt trôi trâu” được xây dựng theo một hệ thống mỹ học đề cao chí khí, tầm vóc và lý tưởng của con người thời đại. Ở Nguyễn Công Trứ, những hình ảnh về chí làm trai, nợ tang bồng, công danh, tung hoành cũng nằm trong hệ thống biểu tượng ấy:
Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc,
Nợ tang bồng vay trả, trả vay.
Chí làm trai nam bắc đông tây,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.
Đặng Dung trong Cảm hoài viết: “Thời lai đồ điếu thành công dị/ Vận khứ anh hùng ẩm hận đa”. Con người xuất hiện trong mối quan hệ với thời thế, công danh và chí lớn. Cách biểu đạt ấy chịu ảnh hưởng rõ rệt của tư duy cổ điển: đề cao lý trí, trật tự, khuôn phép, lý tưởng và những giá trị được cộng đồng thừa nhận.
Nói cách khác, trong thơ cổ điển, biểu tượng thường mang tính cộng đồng cao hơn tính cá nhân. Nhà thơ sử dụng những hình ảnh mà người đọc đã quen với ý nghĩa của chúng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến thơ trung đại đôi khi tạo cảm giác ước lệ, khuôn sáo hoặc xa cách với người đọc hiện đại. Nhưng cần hiểu rằng đó không đơn thuần là sự “khô khan”. Đằng sau hệ thống hình ảnh ấy là cả một “mã văn hóa” mà người xưa cùng chia sẻ.
Bước sang thơ hiện đại, đặc biệt là thơ tượng trưng và những khuynh hướng thơ có yếu tố siêu thực, quan hệ giữa hình ảnh, ý nghĩa và biểu tượng có sự thay đổi đáng kể. Nếu biểu tượng cổ điển thường được hình thành qua sự quy ước và sử dụng lâu dài của cộng đồng, thì biểu tượng hiện đại có thể được nhà thơ tạo ra trong chính khoảnh khắc sáng tạo. Một hình ảnh có thể không có ý nghĩa tượng trưng cố định từ trước. Nó trở thành biểu tượng nhờ trực giác, liên tưởng, cảm xúc, tiềm thức, vô thức và thế giới nội tâm riêng của nhà thơ.
Đây là lý do thơ tượng trưng thường chú ý đến nhạc tính, cảm giác, liên tưởng và sự giao thoa giữa các giác quan. Chẳng hạn, trong Nguyệt cầm, Xuân Diệu viết:
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần...
Trăng, đàn, âm thanh, cái lạnh và cảm giác không còn tồn tại như những sự vật tách biệt. Các giác quan dường như giao thoa với nhau. Ánh sáng có thể được cảm nhận như âm thanh; âm thanh có thể tạo ra cảm giác về màu sắc, nhiệt độ, không gian... Đó chính là một biểu hiện của ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, một thủ pháp thường gặp trong thơ tượng trưng.
Ở Đàn ghi ta của Lor-ca, Thanh Thảo viết:
những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt...
“Tiếng đàn” vốn là âm thanh nhưng lại được hình dung thành “bọt nước”. Một âm thanh vô hình được chuyển thành một hình ảnh có hình khối, màu sắc và trạng thái. Đến phần sau bài thơ, hình ảnh: “giọt nước mắt vầng trăng/ long lanh trong đáy giếng” lại tạo nên những liên tưởng không hoàn toàn tuân theo logic thông thường. Ở đây, người đọc không thể chỉ hỏi hình ảnh này có nghĩa gì theo từ điển, mà phải hỏi những hình ảnh này gợi cho ta cảm giác, liên tưởng và tầng nghĩa nào.
Thơ Hàn Mặc Tử cũng là một trường hợp đặc biệt. Trăng, máu, hồn, ánh sáng, bóng tối, vườn, gió... trong thế giới thơ ông nhiều khi không còn được hiểu theo nghĩa thông thường. Chúng liên tục biến đổi, kết nối với nhau bằng những liên tưởng mạnh và bất ngờ. Thơ tượng trưng và thơ siêu thực không đơn giản là thơ “khó hiểu”. Cái khó nằm ở chỗ quan hệ giữa hình ảnh và ý nghĩa không còn được tổ chức hoàn toàn bằng logic lý trí thông thường.
Cũng nên thấy sự khác nhau giữa thơ cổ điển và siêu thực thông qua biểu tượng. Nếu thơ cổ điển thường đi từ quan sát - chiêm nghiệm - khái quát rồi đến biểu tượng, thì ở nhiều sáng tác tượng trưng, siêu thực, nhà thơ có thể đi từ cảm giác - trực giác - liên tưởng bất ngờ - hình ảnh - biểu tượng. Có khi chỉ một khoảnh khắc “lóe sáng” của cảm xúc hoặc trực giác đã tạo ra một hình ảnh thơ mà chính nhà thơ cũng không cần giải thích theo một chuỗi lý luận lý trí thông thường. Vì thế, khi đọc thơ tượng trưng, siêu thực, không nên cố “dịch” từng câu thơ thành một câu văn xuôi có nghĩa duy nhất. Cần chú ý đến âm thanh, màu sắc, nhịp điệu, cảm giác, sự liên tưởng và mối quan hệ giữa các hình ảnh.
Từ biểu tượng đến cách đọc thơ cổ điển, siêu thực
Từ đây, có thể kết luận đại khái, hình tượng giúp chúng ta nhận diện thế giới nghệ thuật, biểu tượng giúp chúng ta đi từ hình ảnh cụ thể đến tầng nghĩa khái quát. Tượng trưng cho thấy cách nhà thơ dùng hình ảnh để gợi một thế giới ý nghĩa phía sau cái được nhìn thấy. Siêu thực đẩy sự liên tưởng đi xa hơn logic thông thường, hướng đến những vùng của tiềm thức, vô thức, giấc mơ và những kết nối bất ngờ.
Còn chủ nghĩa cổ điển, lãng mạn, tượng trưng, siêu thực là những cách tổ chức thế giới nghệ thuật khác nhau, trong đó quan niệm về con người, lý trí, cảm xúc, hiện thực và tưởng tượng cũng khác nhau. Có thể khái quát bằng một sơ đồ sau:
HÌNH TƯỢNG
↓
BIỂU TƯỢNG
↓
CÁCH TẠO NGHĨA
↙ ↘
CỔ ĐIỂN TƯỢNG TRƯNG – SIÊU THỰC
↓ ↓
Ước lệ – quy phạm Liên tưởng – trực giác
Cộng đồng Cá nhân
Lý trí Cảm giác/tiềm thức
Mã văn hóa Mã nghệ thuật riêng
↓ ↓
Đọc theo quy ước Đọc theo liên tưởng
Thới An, TP.HCM, 10/2026
T.N.T