Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Nhìn lại cả chặng đường làm văn chương và quảng bá cho nền văn học nước nhà của Kiều Bích Hậu, tôi có nhiều trăn trở. Nếu chị là thành viên của Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, hẳn sẽ có nhiều điều kiện làm được nhiều việc hơn thế nữa.
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Nhân kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu chùm thơ Nguyên Hùng, được viết từ chuyến đi thực tế sáng tác “Về với vùng đất phương Nam” do Liên hiệp các Hội VHNT TPHCM tổ chức. Từ chuyến tàu tập kết năm 1954 ở Sông Đốc, tiếng Đồng Khởi trên xứ Dừa đến nén hương tưởng niệm cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc nơi Cao Lãnh, ba bài thơ gợi lại những lát cắt lịch sử đáng nhớ, qua đó làm sáng lên khát vọng thống nhất non sông, sức mạnh của nhân dân và đạo lý vì dân – những giá trị bền vững đã làm nên dáng hình Tổ quốc hôm nay.
Lâu nay, văn học về chiến tranh thường được giới nghiên cứu, phê bình xem xét như là sự gom góp rất nhiều tác phẩm trong quá khứ và hiện tại, chứ chưa được quan niệm như là một tiến trình đầy mâu thuẫn sinh động, giả định là thường xuyên có sự biến đổi về chất bên trong.
Sáng mở cửa thấy trời trong, bố đã kéo những tấm bạt ra giữa sân. Thóc được trải thành một lớp mỏng. Lạc trong chum cũng được mang ra hong lại. Những tàu lá chuối khô, mấy thanh tre dành sửa mái bếp, cả đôi dép lội sông lâu ngày không dùng cũng được bố xếp vào chỗ có nắng. Bố thường bảo nắng tháng Chín “biết việc”. Không dữ đến mức làm hạt thóc quắt đi, cũng không nhạt đến mức phơi cả ngày vẫn ẩm. Nắng ấy vừa đủ làm giòn rơm, thơm lạc, làm khô lớp bùn bám dưới đáy thuyền.