Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà thơ nào lại hòa quyện sâu sắc giữa tâm hồn nghệ sĩ và trách nhiệm công dân, giữa khát vọng cách mạng và nỗi niềm truyền thống như Nguyễn Khoa Điềm. Ông không chỉ là một chính khách từng giữ những trọng trách cao của đất nước, mà trước hết và hơn hết, ông là một thi sĩ - người đã khắc họa hình tượng Đất Nước bằng một thứ ngôn ngữ vừa bình dị, gần gũi, vừa thiêng liêng, sâu lắng, đi vào tâm thức của nhiều thế hệ.
Thời gian là cỗ máy mài vô tình và tàn nhẫn đối với ký ức cá nhân. Trong biển thông tin hỗn loạn và nhiều kênh hôm nay, ký ức lại càng gặp nhiều thách thức thường trực và dữ dội. Một cách cổ sơ và thủ công cưỡng chống lại sự bào mòn vô tình và tàn nhẫn ấy là tìm dịp nhắc lại, thường xuyên nhắc lại.
Từ những chi tiết rất nhỏ của đời sống, tác giả Hưng Nguyên đã chạm đến những tầng cảm xúc sâu hơn về con người và sự sẻ chia. Không ồn ào, không khẩu hiệu, những bài thơ hưởng ứng cuộc thi sau đây là những bước đi chậm – nhưng để lại dư âm.
Từ Cà Mau, Thạch Đờ Ni tham gia cuộc thi bằng chùm thơ mang sắc thái văn hóa riêng – nơi công trường, phố xá và không gian tâm linh cùng tồn tại.
Người đàn bà ấy vốn xinh đẹp, khởi đầu với nhiều thuận lợi, vậy mà rốt cuộc lại là người số phận chẳng ra sao. Bà lấy chồng vì yêu, và tình yêu rồi cũng tan thành mây khói. Sự quan hệ vợ chồng như thể hợp đồng. Bà sinh những đứa con xinh xắn, nhưng trong lòng lại cảm thấy chúng như bị ai đó đẩy đến cho mình, và bà không sao yêu nổi chúng.
Sau năm 1975, đặc biệt từ 1986 với công cuộc đổi mới, văn học nước nhà vận động mạnh mẽ theo một quỹ đạo tinh thần mới.
Sau nhiều năm bị ràng buộc bởi hoàn cảnh lịch sử ngặt nghèo của thời chiến, đời sống văn học cởi mở hơn rất nhiều. Trong không khí dân chủ được mở ra từ Đại hội Đảng VI, nhiều vấn đề mới được đặt ra, nhiều tác phẩm văn học cũ trước Cách mạng tháng Tám từng bị phê phán được khôi phục giá trị, đồng thời văn học cách mạng giai đoạn 1945-1975 cũng được đánh giá lại.