TIN TỨC

Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-17 13:23:11
mail facebook google pos stwis
895 lượt xem

NGUYỄN PHƯƠNG HÀ 

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.

 

Nhà văn Minh Chuyên

 

1. Tận cùng nỗi đau

Chúng ta không thể quên bao chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh, bao thành phố, làng quê bị bom đạn tàn phá, huỷ diệt trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc thắng lợi, đất nước hoà bình, thống nhất nhưng nỗi đau thương, mất mát vẫn còn nhức nhối trên cơ thể đất nước, trong cuộc đời và số phận của biết bao cựu chiến binh, thương binh, gia đình liệt sĩ và cả những lớp trẻ em sinh ra sau chiến tranh. Truyện Đứa con màu da thú kể về bi kịch của cựu binh Nguyễn Văn Thắng - người từng tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam và chiến trường Campuchia. Anh bị nhiễm chất độc dioxin lúc nào không rõ. Sau chiến tranh, anh Thắng trở về lập gia đình với  với người yêu là Khoa. Hạnh phúc đang đến thì bi kịch cũng ập đến khi hai đứa con lần lượt ra đời đều tật nguyền, dị dạng. Đứa con gái đầu của anh là một “hình nhân da thú”, “đen óng, lông lá phủ đầy người. Trên lưng đứa bé nổi lên những cục sần to bằng quả cà, quả táo, đỏ chót, ri rỉ nước vàng. Bên cạnh những cục sần ấy là những chòm lông đen tua tủa, dày đặc”. Đứa con thứ hai cũng là một dị nhân: “Con nó hơi dị hình nhưng có nhiều nét rất giống người. Da không dày lông đen kịt như chị nó”. Mười năm trời không lương bổng, phụ cấp, vợ làm phụ hồ, chồng đạp xích lô, anh chị đã vất vả gian lao nuôi hai đứa con “bất thành nhân”.  Anh cố gắng hết mình nhưng vì nhiễm chất độc da cam, bệnh tật tái phát đã làm anh kiệt sức và gục ngã.

Biết bao đứa trẻ sinh ra không được làm người. Em lại Thị Hà (Truyện: Chiếc cũi trần gian) là một trường hợp như thế. Bé Hà sinh ra với hình hài dị dạng và gần như vô thức. Em không biết nói, ăn mọi thứ như côn trùng, chuột chết, nhổ cả tóc mình ăn và thích ngâm nước. Để bảo vệ con trước những nguy cơ rình rập, vợ chồng chị Ngoãn (bố mẹ Hà) phải nuôi con trong chiếc cũi tre suốt 15 năm trời: “Chiếc cũi hình chữ nhật, xung quanh là những chắn song tròn làm bằng tre. Bên dưới ghép dày hơn kiểu ghép lát giường”. Nguyên nhân nỗi đau của bé Hà và bi kịch gia đình chị Ngoãn từ anh Lại Đình Hằng (bố của bé Hà) đã nhiễm chất độc chết người khi là chiễn sĩ Đại đội 5, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 204 thuộc Bộ Tư lệnh 315 chiến đấu ở chiến trường Đông Nam bộ và những cánh rừng ở nước bạn Lào trong thời kỳ chống Mỹ. Chất độc da cam đã thấm vào cốt tuỷ và máu của anh, truyền sang vợ anh để tạo nên cái thai bất thường trong bụng vợ. Đứa con ra đời “đội lốt mặt người” nhưng tâm tính thì của loài hoang thú.

Truyện Con tôi không phải là người kể về cựu binh Lê Văn Lớp, quê ở xã Hoà Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (cũ). Trở về sau chiến tranh, anh Lớp cùng vợ là chị Nguyễn Thị Dung đã trải qua chín lần sinh nở, mà những đứa trẻ sinh ra đều là những “quái thai” không thành người. Mỗi lần sinh nở cũng là lần vợ chồng anh lặng lẽ gói đứa con đem chôn với nỗi đau xé lòng. Trong nỗi đau tận cùng, chị Dung trở thành người tâm thần, vô thức, đi khắp nơi tìm con. Khi tỉnh táo trở lại, chị Dung đã đi hỏi vợ mới cho chồng, mong có được đứa con lành lặn. Nhưng đứa con của người vợ thứ hai sinh ra cũng là một sinh linh không phải là người: “Cháu nó giống như con mèo vậy, lông lá mọc kín người, lại chẳng có mắt, có mũi gì hết. Vừa lọt lòng, nó đã tắt thở rồi”.

 

Ảnh bìa sách "Sau cuộc chiến là cuộc đời"

 

Truyện Vào chùa gặp lại, kể về cuộc gặp gỡ giữa tác giả (nhà văn Minh Chuyên) và nữ tu sĩ Lương Thị Thân, tu ở chùa Đông Am, xã Quang Bình. Bà nguyên là sĩ quan Quân y Đường dây 559, nay là thương binh trở về địa phương. Rong ruổi qua 27 ngôi chùa ở tỉnh Thái Bình (cũ), tác giả đã gặp gỡ 29 Sư thầy, sư bác, qua đó chúng ta hiểu được hoàn cảnh éo le và con đường đến với cửa Phật của bà Lương Thị Thân cũng như nhiều nữ cựu binh, thanh niên xung phong trở về sau chiến tranh. Vì nhiễm chất độc da cam, sức khoẻ giảm sút bởi vết thương hoặc bệnh cũ tái phát, hay lỡ thì quá lứa, họ đã tìm đến tu ở các chùa với những việc làm đầy tình người và ý nghĩa nhân văn. Đó là sư bà Đỗ Thị Mến, một cựu thanh niên xung phong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ trở về sau chiến tranh. Bà đã góp nhiều công sức cùng bạn bè, người thân xây dựng Đền thờ Bác Hồ ngay trên mảnh đất của mình và tực tiếp trông coi hương đèn nơi đền thờ đó. Sư bác Trương Thị Minh, nguyên là Đảng viên, chiến sĩ thông tin Trung đoàn Sao Đỏ, sau chiến tranh đã vào “đèn nhang” ở chùa Tân Thanh. Sư thầy Nguyễn Thị Phương là nạn nhân chất độc da cam, thương binh hạng 4/4. Bà đã gửi thân nơi cửa Phật vì không muốn sinh ra những đứa con tật nguyền, dị dạng, vv… Chiến tranh đi qua, nỗi đau còn ở lại,  vẫn còn đó bao những cảnh đời đau thương, những số phận nghiệt ngã, những đứa trẻ sinh ra không được làm người. Nỗi đớn đau dai dẳng, xé từng khúc ruột tưởng không thể chịu đựng nổi, nỗi đau của hàng triệu người còn diễn ra mấy chục năm sau chiến tranh. Chiến tranh là thảm hoạ khủng khiếp nhất của con người, là bi kịch lớn nhất của nhân loại, lại do chính con người gây ra. Tác giả không lớn tiếng tố cáo nhưng những hình ảnh đau thương đầy ám ảnh đó đã nói lên được nhiều điều có ý nghĩa sâu sắc.

Chiến tranh còn tạo ra những hoàn cảnh éo le, đầy bi kịch của người lính trở về sau cuộc chiến. Đó là câu chuyện cảm động, xót xa và đầy uẩn ức của cựu binh Trần Quyết Định - một người lính từng được báo tử rồi đột ngột sống sót trở về, và hành trình gian nan kéo dài gần ba mươi năm chỉ để “làm thủ tục” của một người chưa chết (Thủ tục làm người còn sống). Trần Quyết Định quê ở xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, tham gia quân đội, chiến đấu ở chiến trường biên giới Tây Nam. Anh được đơn vị báo tử ngày 20/ 12/ 1978 nhưng thật bất ngờ khi chín tháng sau, anh đột ngột khoác ba lô trở về gia đình. Thực ra, trong trận đánh chiếm lại điểm cao 62 ở địa phận Tân Biên, tỉnh Tây Ninh bị quân Pôn Pốt lấn chiếm, Định bị thương nặng, máu ra nhiều nên đơn vị tưởng anh đã hy sinh. Anh được đưa đi điều trị nhiều ngày ở các Quân y viện, được cấp giấy chứng thương. Rời Quân y viện, Trần Quyết Định đi tìm đơn vị nhưng đơn vị anh đã chuyển sang chiến đấu ở Campuchia, anh không thể tìm được, đành trở về quê. Niềm vui đoàn tụ chưa trọn vẹn, Định và gia đình đã rơi vào hoàn cảnh khó khăn, đời sống nghèo đói, đông con, vết thương tái phát, sốt rét trở lại hành hạ với những cơn đau nhức nhối. Chế độ gia đình liệt sĩ bị cắt nhưng chế độ thương binh và thủ tục của một người sống không làm được. Định làm đơn đi khắp các “cửa quan” từ xã, huyện lên tỉnh. Huyện đội giới thiệu lên Phòng Thương binh. Phòng Thương binh chuyển đơn sang Huyện đội. Huyện đội giới thiệu lên Sở, Sở đề nghị sang Ban Chính sách hậu phương. Hồ sơ của Định gửi lên Hà Nội, đến Cục Tổ chức động viên của Bộ Tổng Tham mưu, ở đây lại giới thiệu về đơn vị giải quyết. Cứ thế, nơi nào, đơn vị, tổ chức nào cũng hứa hẹn, an ủi nhưng không ai giúp đỡ được. Trần Quyết Định được sự giúp đỡ nhiệt tình của một nhà báo (tác giả Minh Chuyên). Hai ngườ lặn lội khắp trong Nam, ngoài Bắc nhiều chuyến, nhiều năm trời, có lúc bị kẻ cắp lấy mất cả hành lý, tiền bạc phải đi xin để có tiền trở về quê, thế nhưng cũng không giải quyết được. Có lúc anh Định đã thấy bất lực, tuyệt vọng với khó khăn và hoàn cảnh trớ trêu của mình: “Em chả thiết sống nữa…hẳn như phải nằm dưới mộ ở nghĩa trang Thạch Tây, thì gia đình em lại được vẻ vang, anh em mình cũng đâu đến nỗi  chịu khổ nhục thế này”. Thời kỳ trước Đổi mới, điều kiện kinh tế khó khăn, hệ thống quản lý hành chính quan liêu thời bao cấp, văn bản chính sách bất cập, phức tạp, chồng chéo, nhiều cán bộ các cấp yếu kém về năng lực, thiếu trách nhiệm và tiêu cực, tham nhũng vặt tràn lan. Nhiều trường hợp, họ đùn đẩy trách nhiệm hoặc gây khó khăn để nạn nhân phải chi tiền hối lộ, gây nhiều, phiền toái khổ sở cho người dân. Đúng như lời nhân vật Duyến đã nói: “Giấy tờ, thật giả, bây giờ người ta có quan tâm lắm đâu. Cứ có cái khoản kia là xong tất. Còn không á, có khi thật lại hoá giả”. Những người có hoàn cảnh đặc biệt như Trần Quyết Định là không nhiều nhưng cũng không hiếm những cảnh khốn khó của người dân khi phải tìm đến các cơ quan công quyền để giải quyết những thủ tục hành chính phức tạp.

2. Tình người toả sáng

Nhà văn Minh Chuyên không chỉ thể hiện nỗi đau khổ, bi kịch đến tận cùng của con người sau chiến tranh mà còn ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của những cựu chiến binh, ngợi ca tình tình yêu thương, sức chịu đựng và lòng vị tha cao cả của người Việt Nam thể hiện trong những hoàn cảnh bi kịch ấy. Chiến tranh đã lùi xa, bao người chiến sĩ đã trở về đoàn tụ với gia đình nhưng cựu binh Thắng vẫn bặt vô âm tính (Trở lại kiếp người). Chiến sĩ Thắng trên đường đi công tác lẻ, bị địch phục kích, bị thương nặng, được đàn vượn lấy lá thuốc chữa vết thương. Cũng từ đó anh bị bệnh tâm thần, mất trí nhớ và sống cùng đàn vượn trong rừng hoang ở tỉnh Đắk Lắk suốt 10 năm trời. Người yêu của Thắng là Trang cùng Dũng - một đồng đội cũ của Thắng, đã trải qua hành trình với bao gian lao, vất vả, hy vọng và thất vọng để tìm kiếm anh. Có khi họ đã tìm thấy Thắng, nhưng đàn vượn rừng lại đưa anh đi vào rừng sâu. Cuối cùng, nhờ tình yêu, lòng nhiệt tình và quả cảm của Trang, tình đồng đội của Dũng, họ đã tìm thấy anh Thắng, đưa về Quân y viện điều trị và đoàn tụ với gia đình ở khu kinh tế mới tỉnh Đắk Lắk. Đó là tấm lòng nhân hậu, tình người cao cả của ông bà Châu và chị Dung ở khu tập thể Thủ Lệ 1, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Ông bà đã cưu mang, chăm sóc một người tâm thần lang thang ăn xin đầu đường cuối phố có tên là “Kích sẹo” (Người không cô đơn). “Kích sẹo” chính là cựu binh Nguyễn Đình Thúc, người chiến sĩ đã được báo tử nhưng thực ra anh chỉ bị thương nặng, lạc đơn vị. Vì bị bệnh tâm thần, khi đang điều trị ở Quân y viện, anh Thức tìm đường về quê là bị lạc lối ở Hà Nội. Anh lang thang nhiều nơi rồi trôi dạt về Cầu Giấy. Trải qua bao biến cố, bao vất vả nhọc nhằn, nhờ sự tận tâm chăm sóc, tình yêu thương thông cảm của ông bà Châu và chị Dung, anh Thúc đã được trở về đoàn tụ với gia đình ở tỉnh Thái Bình (cũ). Truyện Linh hồn Việt Cộng là câu chuyện đầy tính nhân văn về hành trình chuộc lỗi của cựu binh Mỹ - Homer Steedy nhiều năm sau cuộc chiến. Homer đã bắn chết chiến sĩ Giải phóng quân Hoàng Ngọc Đảm tại chiến trường Tây Nguyên, ngày 18/ 3/ 1969. Điều đó làm ông ân hận mấy chục năm trời sau chiến tranh: “Sau cái phút kinh hoàng ấy, hình ảnh người lính Việt  Cộng đã khắc sâu vào tim tôi. Và linh hồn của anh ấy đã ám ảnh tôi suốt hơn 30 năm qua”. Ông đã đưa chiếc ba lô và những kỷ vật khác của người lính Hoàng Ngọc Đảm nhờ mẹ cất giữ trên bàn thờ của gia đình mình ở Mỹ. Nhờ sự giúp đỡ của bạn bè và các cơ quan hữu trách, ngày 13/ 5/ 2008, Homer đã đến Việt Nam, thăm lại chiến trường xưa, đưa hài cốt của liệt sĩ Đảm về quê nhà an táng trong niềm xúc động nghẹn ngào. Ông cũng đưa những di vật của Hoàng Ngọc Đảm mà ông đã cất giữ nhiều năm như một phần “linh hồn” của người lính. Hận thù đã được hoá giải, nỗi đau đang được chữa lành sau những mất mát đau thương…

 

Tác giả Nguyễn Phương Hà

 

Ẩn hiện trong những trang văn là hình ảnh nhân vật “Tôi” - người kể chuyện: Nhà báo, nhà văn Minh Chuyên. Từ một người lính trở về sau chiến tranh, Minh Chuyên thấm thía nỗi mất mát, đau thương, bất hạnh của những nạn nhân chiến tranh và bi kịch của gia đình họ. Ông trăn trở, thao thức vì hoàn cảnh đau thương của người lính thời hậu chiến nhưng không biểu hiện tình thương bằng những lời cảm thán mà bằng những hành động cụ thể, những việc làm thiết thực đầy nghĩa tình với đồng đội và nạn nhân chiến tranh. Nhà văn đã đến nhiều nơi, tìm gặp những mảnh đời bất hạnh, những em bé tật nguyền - nạn nhân chất độc da cam, lòng quặn thắt chứng kiến những cơn đau cháy xé da thịt các em từng dây, từng phút. Bước chân nhà văn đã cùng nhân vật của mình vào Nam ra Bắc, vượt qua núi rừng hiểm trở đến những chiến trường cũ xa xôi, đến cơ quan này, nhân chứng kia để tìm sự thật, đòi lại công bằng, quyền lợi chính đáng cho những cựu binh bất hạnh. Nhà văn đau nỗi đau xé lòng của nạn nhân chiến tranh, chia sẻ những nhọc nhằn và cả những rủi ro, hiểm nguy của họ trong hành trình tìm lại giá trị của cuộc sống. Phải là một người lính có tình đồng đội ca cả, lòng yêu thương và đồng cảm sâu sắc với nạn nhân chiến tranh thì mới có lòng nhiệt tình và dấn thân như vậy.

Nhà văn Minh Chuyên có lối kể chuyện chân thật, tự nhiên, không dùng những thủ pháp nghệ thuật cầu kỳ, phức tạp. Kết cấu đơn giản, hợp lý theo mạch sự kiện và nhân vật, dễ tiếp nhận đối với công chúng người đọc. Tác phẩm Sau cuộc chiến là cuộc đời chinh phục lòng người bởi những câu chuyên cảm động và chi tiết chân thật, sinh động; bởi  giá trị hiện thực, giá trị nhân văn cao cả toả sáng. Ngôn ngữ văn xuôi tự sự hoà quyện với ngôn ngữ đậm chất báo chí, vừa giản dị, trong sáng, tự nhiên, góp phần tạo nên phong cách độc đáo của tác giả. Bằng ngòi bút yêu thương và trách nhiệm, nhà văn Minh Chuyên đã thể hiện nỗi đau khổ, bất hạnh tột cùng của những nạn nhân chiến tranh, từ đó dẫn gợi sự đồng cảm, sẻ chia của nhân loại và cất lên tiếng nói tố cáo sự khốc liệt, tàn bạo của chiến tranh xâm lược.

Bài được viết nhân dịp tác giả đọc: Sau cuộc chiến là cuộc đời, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2025)

N.P.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm