TIN TỨC

Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-17 13:23:11
mail facebook google pos stwis
358 lượt xem

NGUYỄN PHƯƠNG HÀ 

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.

 

Nhà văn Minh Chuyên

 

1. Tận cùng nỗi đau

Chúng ta không thể quên bao chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh, bao thành phố, làng quê bị bom đạn tàn phá, huỷ diệt trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc thắng lợi, đất nước hoà bình, thống nhất nhưng nỗi đau thương, mất mát vẫn còn nhức nhối trên cơ thể đất nước, trong cuộc đời và số phận của biết bao cựu chiến binh, thương binh, gia đình liệt sĩ và cả những lớp trẻ em sinh ra sau chiến tranh. Truyện Đứa con màu da thú kể về bi kịch của cựu binh Nguyễn Văn Thắng - người từng tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam và chiến trường Campuchia. Anh bị nhiễm chất độc dioxin lúc nào không rõ. Sau chiến tranh, anh Thắng trở về lập gia đình với  với người yêu là Khoa. Hạnh phúc đang đến thì bi kịch cũng ập đến khi hai đứa con lần lượt ra đời đều tật nguyền, dị dạng. Đứa con gái đầu của anh là một “hình nhân da thú”, “đen óng, lông lá phủ đầy người. Trên lưng đứa bé nổi lên những cục sần to bằng quả cà, quả táo, đỏ chót, ri rỉ nước vàng. Bên cạnh những cục sần ấy là những chòm lông đen tua tủa, dày đặc”. Đứa con thứ hai cũng là một dị nhân: “Con nó hơi dị hình nhưng có nhiều nét rất giống người. Da không dày lông đen kịt như chị nó”. Mười năm trời không lương bổng, phụ cấp, vợ làm phụ hồ, chồng đạp xích lô, anh chị đã vất vả gian lao nuôi hai đứa con “bất thành nhân”.  Anh cố gắng hết mình nhưng vì nhiễm chất độc da cam, bệnh tật tái phát đã làm anh kiệt sức và gục ngã.

Biết bao đứa trẻ sinh ra không được làm người. Em lại Thị Hà (Truyện: Chiếc cũi trần gian) là một trường hợp như thế. Bé Hà sinh ra với hình hài dị dạng và gần như vô thức. Em không biết nói, ăn mọi thứ như côn trùng, chuột chết, nhổ cả tóc mình ăn và thích ngâm nước. Để bảo vệ con trước những nguy cơ rình rập, vợ chồng chị Ngoãn (bố mẹ Hà) phải nuôi con trong chiếc cũi tre suốt 15 năm trời: “Chiếc cũi hình chữ nhật, xung quanh là những chắn song tròn làm bằng tre. Bên dưới ghép dày hơn kiểu ghép lát giường”. Nguyên nhân nỗi đau của bé Hà và bi kịch gia đình chị Ngoãn từ anh Lại Đình Hằng (bố của bé Hà) đã nhiễm chất độc chết người khi là chiễn sĩ Đại đội 5, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 204 thuộc Bộ Tư lệnh 315 chiến đấu ở chiến trường Đông Nam bộ và những cánh rừng ở nước bạn Lào trong thời kỳ chống Mỹ. Chất độc da cam đã thấm vào cốt tuỷ và máu của anh, truyền sang vợ anh để tạo nên cái thai bất thường trong bụng vợ. Đứa con ra đời “đội lốt mặt người” nhưng tâm tính thì của loài hoang thú.

Truyện Con tôi không phải là người kể về cựu binh Lê Văn Lớp, quê ở xã Hoà Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (cũ). Trở về sau chiến tranh, anh Lớp cùng vợ là chị Nguyễn Thị Dung đã trải qua chín lần sinh nở, mà những đứa trẻ sinh ra đều là những “quái thai” không thành người. Mỗi lần sinh nở cũng là lần vợ chồng anh lặng lẽ gói đứa con đem chôn với nỗi đau xé lòng. Trong nỗi đau tận cùng, chị Dung trở thành người tâm thần, vô thức, đi khắp nơi tìm con. Khi tỉnh táo trở lại, chị Dung đã đi hỏi vợ mới cho chồng, mong có được đứa con lành lặn. Nhưng đứa con của người vợ thứ hai sinh ra cũng là một sinh linh không phải là người: “Cháu nó giống như con mèo vậy, lông lá mọc kín người, lại chẳng có mắt, có mũi gì hết. Vừa lọt lòng, nó đã tắt thở rồi”.

 

Ảnh bìa sách "Sau cuộc chiến là cuộc đời"

 

Truyện Vào chùa gặp lại, kể về cuộc gặp gỡ giữa tác giả (nhà văn Minh Chuyên) và nữ tu sĩ Lương Thị Thân, tu ở chùa Đông Am, xã Quang Bình. Bà nguyên là sĩ quan Quân y Đường dây 559, nay là thương binh trở về địa phương. Rong ruổi qua 27 ngôi chùa ở tỉnh Thái Bình (cũ), tác giả đã gặp gỡ 29 Sư thầy, sư bác, qua đó chúng ta hiểu được hoàn cảnh éo le và con đường đến với cửa Phật của bà Lương Thị Thân cũng như nhiều nữ cựu binh, thanh niên xung phong trở về sau chiến tranh. Vì nhiễm chất độc da cam, sức khoẻ giảm sút bởi vết thương hoặc bệnh cũ tái phát, hay lỡ thì quá lứa, họ đã tìm đến tu ở các chùa với những việc làm đầy tình người và ý nghĩa nhân văn. Đó là sư bà Đỗ Thị Mến, một cựu thanh niên xung phong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ trở về sau chiến tranh. Bà đã góp nhiều công sức cùng bạn bè, người thân xây dựng Đền thờ Bác Hồ ngay trên mảnh đất của mình và tực tiếp trông coi hương đèn nơi đền thờ đó. Sư bác Trương Thị Minh, nguyên là Đảng viên, chiến sĩ thông tin Trung đoàn Sao Đỏ, sau chiến tranh đã vào “đèn nhang” ở chùa Tân Thanh. Sư thầy Nguyễn Thị Phương là nạn nhân chất độc da cam, thương binh hạng 4/4. Bà đã gửi thân nơi cửa Phật vì không muốn sinh ra những đứa con tật nguyền, dị dạng, vv… Chiến tranh đi qua, nỗi đau còn ở lại,  vẫn còn đó bao những cảnh đời đau thương, những số phận nghiệt ngã, những đứa trẻ sinh ra không được làm người. Nỗi đớn đau dai dẳng, xé từng khúc ruột tưởng không thể chịu đựng nổi, nỗi đau của hàng triệu người còn diễn ra mấy chục năm sau chiến tranh. Chiến tranh là thảm hoạ khủng khiếp nhất của con người, là bi kịch lớn nhất của nhân loại, lại do chính con người gây ra. Tác giả không lớn tiếng tố cáo nhưng những hình ảnh đau thương đầy ám ảnh đó đã nói lên được nhiều điều có ý nghĩa sâu sắc.

Chiến tranh còn tạo ra những hoàn cảnh éo le, đầy bi kịch của người lính trở về sau cuộc chiến. Đó là câu chuyện cảm động, xót xa và đầy uẩn ức của cựu binh Trần Quyết Định - một người lính từng được báo tử rồi đột ngột sống sót trở về, và hành trình gian nan kéo dài gần ba mươi năm chỉ để “làm thủ tục” của một người chưa chết (Thủ tục làm người còn sống). Trần Quyết Định quê ở xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, tham gia quân đội, chiến đấu ở chiến trường biên giới Tây Nam. Anh được đơn vị báo tử ngày 20/ 12/ 1978 nhưng thật bất ngờ khi chín tháng sau, anh đột ngột khoác ba lô trở về gia đình. Thực ra, trong trận đánh chiếm lại điểm cao 62 ở địa phận Tân Biên, tỉnh Tây Ninh bị quân Pôn Pốt lấn chiếm, Định bị thương nặng, máu ra nhiều nên đơn vị tưởng anh đã hy sinh. Anh được đưa đi điều trị nhiều ngày ở các Quân y viện, được cấp giấy chứng thương. Rời Quân y viện, Trần Quyết Định đi tìm đơn vị nhưng đơn vị anh đã chuyển sang chiến đấu ở Campuchia, anh không thể tìm được, đành trở về quê. Niềm vui đoàn tụ chưa trọn vẹn, Định và gia đình đã rơi vào hoàn cảnh khó khăn, đời sống nghèo đói, đông con, vết thương tái phát, sốt rét trở lại hành hạ với những cơn đau nhức nhối. Chế độ gia đình liệt sĩ bị cắt nhưng chế độ thương binh và thủ tục của một người sống không làm được. Định làm đơn đi khắp các “cửa quan” từ xã, huyện lên tỉnh. Huyện đội giới thiệu lên Phòng Thương binh. Phòng Thương binh chuyển đơn sang Huyện đội. Huyện đội giới thiệu lên Sở, Sở đề nghị sang Ban Chính sách hậu phương. Hồ sơ của Định gửi lên Hà Nội, đến Cục Tổ chức động viên của Bộ Tổng Tham mưu, ở đây lại giới thiệu về đơn vị giải quyết. Cứ thế, nơi nào, đơn vị, tổ chức nào cũng hứa hẹn, an ủi nhưng không ai giúp đỡ được. Trần Quyết Định được sự giúp đỡ nhiệt tình của một nhà báo (tác giả Minh Chuyên). Hai ngườ lặn lội khắp trong Nam, ngoài Bắc nhiều chuyến, nhiều năm trời, có lúc bị kẻ cắp lấy mất cả hành lý, tiền bạc phải đi xin để có tiền trở về quê, thế nhưng cũng không giải quyết được. Có lúc anh Định đã thấy bất lực, tuyệt vọng với khó khăn và hoàn cảnh trớ trêu của mình: “Em chả thiết sống nữa…hẳn như phải nằm dưới mộ ở nghĩa trang Thạch Tây, thì gia đình em lại được vẻ vang, anh em mình cũng đâu đến nỗi  chịu khổ nhục thế này”. Thời kỳ trước Đổi mới, điều kiện kinh tế khó khăn, hệ thống quản lý hành chính quan liêu thời bao cấp, văn bản chính sách bất cập, phức tạp, chồng chéo, nhiều cán bộ các cấp yếu kém về năng lực, thiếu trách nhiệm và tiêu cực, tham nhũng vặt tràn lan. Nhiều trường hợp, họ đùn đẩy trách nhiệm hoặc gây khó khăn để nạn nhân phải chi tiền hối lộ, gây nhiều, phiền toái khổ sở cho người dân. Đúng như lời nhân vật Duyến đã nói: “Giấy tờ, thật giả, bây giờ người ta có quan tâm lắm đâu. Cứ có cái khoản kia là xong tất. Còn không á, có khi thật lại hoá giả”. Những người có hoàn cảnh đặc biệt như Trần Quyết Định là không nhiều nhưng cũng không hiếm những cảnh khốn khó của người dân khi phải tìm đến các cơ quan công quyền để giải quyết những thủ tục hành chính phức tạp.

2. Tình người toả sáng

Nhà văn Minh Chuyên không chỉ thể hiện nỗi đau khổ, bi kịch đến tận cùng của con người sau chiến tranh mà còn ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của những cựu chiến binh, ngợi ca tình tình yêu thương, sức chịu đựng và lòng vị tha cao cả của người Việt Nam thể hiện trong những hoàn cảnh bi kịch ấy. Chiến tranh đã lùi xa, bao người chiến sĩ đã trở về đoàn tụ với gia đình nhưng cựu binh Thắng vẫn bặt vô âm tính (Trở lại kiếp người). Chiến sĩ Thắng trên đường đi công tác lẻ, bị địch phục kích, bị thương nặng, được đàn vượn lấy lá thuốc chữa vết thương. Cũng từ đó anh bị bệnh tâm thần, mất trí nhớ và sống cùng đàn vượn trong rừng hoang ở tỉnh Đắk Lắk suốt 10 năm trời. Người yêu của Thắng là Trang cùng Dũng - một đồng đội cũ của Thắng, đã trải qua hành trình với bao gian lao, vất vả, hy vọng và thất vọng để tìm kiếm anh. Có khi họ đã tìm thấy Thắng, nhưng đàn vượn rừng lại đưa anh đi vào rừng sâu. Cuối cùng, nhờ tình yêu, lòng nhiệt tình và quả cảm của Trang, tình đồng đội của Dũng, họ đã tìm thấy anh Thắng, đưa về Quân y viện điều trị và đoàn tụ với gia đình ở khu kinh tế mới tỉnh Đắk Lắk. Đó là tấm lòng nhân hậu, tình người cao cả của ông bà Châu và chị Dung ở khu tập thể Thủ Lệ 1, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Ông bà đã cưu mang, chăm sóc một người tâm thần lang thang ăn xin đầu đường cuối phố có tên là “Kích sẹo” (Người không cô đơn). “Kích sẹo” chính là cựu binh Nguyễn Đình Thúc, người chiến sĩ đã được báo tử nhưng thực ra anh chỉ bị thương nặng, lạc đơn vị. Vì bị bệnh tâm thần, khi đang điều trị ở Quân y viện, anh Thức tìm đường về quê là bị lạc lối ở Hà Nội. Anh lang thang nhiều nơi rồi trôi dạt về Cầu Giấy. Trải qua bao biến cố, bao vất vả nhọc nhằn, nhờ sự tận tâm chăm sóc, tình yêu thương thông cảm của ông bà Châu và chị Dung, anh Thúc đã được trở về đoàn tụ với gia đình ở tỉnh Thái Bình (cũ). Truyện Linh hồn Việt Cộng là câu chuyện đầy tính nhân văn về hành trình chuộc lỗi của cựu binh Mỹ - Homer Steedy nhiều năm sau cuộc chiến. Homer đã bắn chết chiến sĩ Giải phóng quân Hoàng Ngọc Đảm tại chiến trường Tây Nguyên, ngày 18/ 3/ 1969. Điều đó làm ông ân hận mấy chục năm trời sau chiến tranh: “Sau cái phút kinh hoàng ấy, hình ảnh người lính Việt  Cộng đã khắc sâu vào tim tôi. Và linh hồn của anh ấy đã ám ảnh tôi suốt hơn 30 năm qua”. Ông đã đưa chiếc ba lô và những kỷ vật khác của người lính Hoàng Ngọc Đảm nhờ mẹ cất giữ trên bàn thờ của gia đình mình ở Mỹ. Nhờ sự giúp đỡ của bạn bè và các cơ quan hữu trách, ngày 13/ 5/ 2008, Homer đã đến Việt Nam, thăm lại chiến trường xưa, đưa hài cốt của liệt sĩ Đảm về quê nhà an táng trong niềm xúc động nghẹn ngào. Ông cũng đưa những di vật của Hoàng Ngọc Đảm mà ông đã cất giữ nhiều năm như một phần “linh hồn” của người lính. Hận thù đã được hoá giải, nỗi đau đang được chữa lành sau những mất mát đau thương…

 

Tác giả Nguyễn Phương Hà

 

Ẩn hiện trong những trang văn là hình ảnh nhân vật “Tôi” - người kể chuyện: Nhà báo, nhà văn Minh Chuyên. Từ một người lính trở về sau chiến tranh, Minh Chuyên thấm thía nỗi mất mát, đau thương, bất hạnh của những nạn nhân chiến tranh và bi kịch của gia đình họ. Ông trăn trở, thao thức vì hoàn cảnh đau thương của người lính thời hậu chiến nhưng không biểu hiện tình thương bằng những lời cảm thán mà bằng những hành động cụ thể, những việc làm thiết thực đầy nghĩa tình với đồng đội và nạn nhân chiến tranh. Nhà văn đã đến nhiều nơi, tìm gặp những mảnh đời bất hạnh, những em bé tật nguyền - nạn nhân chất độc da cam, lòng quặn thắt chứng kiến những cơn đau cháy xé da thịt các em từng dây, từng phút. Bước chân nhà văn đã cùng nhân vật của mình vào Nam ra Bắc, vượt qua núi rừng hiểm trở đến những chiến trường cũ xa xôi, đến cơ quan này, nhân chứng kia để tìm sự thật, đòi lại công bằng, quyền lợi chính đáng cho những cựu binh bất hạnh. Nhà văn đau nỗi đau xé lòng của nạn nhân chiến tranh, chia sẻ những nhọc nhằn và cả những rủi ro, hiểm nguy của họ trong hành trình tìm lại giá trị của cuộc sống. Phải là một người lính có tình đồng đội ca cả, lòng yêu thương và đồng cảm sâu sắc với nạn nhân chiến tranh thì mới có lòng nhiệt tình và dấn thân như vậy.

Nhà văn Minh Chuyên có lối kể chuyện chân thật, tự nhiên, không dùng những thủ pháp nghệ thuật cầu kỳ, phức tạp. Kết cấu đơn giản, hợp lý theo mạch sự kiện và nhân vật, dễ tiếp nhận đối với công chúng người đọc. Tác phẩm Sau cuộc chiến là cuộc đời chinh phục lòng người bởi những câu chuyên cảm động và chi tiết chân thật, sinh động; bởi  giá trị hiện thực, giá trị nhân văn cao cả toả sáng. Ngôn ngữ văn xuôi tự sự hoà quyện với ngôn ngữ đậm chất báo chí, vừa giản dị, trong sáng, tự nhiên, góp phần tạo nên phong cách độc đáo của tác giả. Bằng ngòi bút yêu thương và trách nhiệm, nhà văn Minh Chuyên đã thể hiện nỗi đau khổ, bất hạnh tột cùng của những nạn nhân chiến tranh, từ đó dẫn gợi sự đồng cảm, sẻ chia của nhân loại và cất lên tiếng nói tố cáo sự khốc liệt, tàn bạo của chiến tranh xâm lược.

Bài được viết nhân dịp tác giả đọc: Sau cuộc chiến là cuộc đời, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2025)

N.P.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm