TIN TỨC

Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-17 13:23:11
mail facebook google pos stwis
715 lượt xem

NGUYỄN PHƯƠNG HÀ 

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.

 

Nhà văn Minh Chuyên

 

1. Tận cùng nỗi đau

Chúng ta không thể quên bao chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh, bao thành phố, làng quê bị bom đạn tàn phá, huỷ diệt trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc thắng lợi, đất nước hoà bình, thống nhất nhưng nỗi đau thương, mất mát vẫn còn nhức nhối trên cơ thể đất nước, trong cuộc đời và số phận của biết bao cựu chiến binh, thương binh, gia đình liệt sĩ và cả những lớp trẻ em sinh ra sau chiến tranh. Truyện Đứa con màu da thú kể về bi kịch của cựu binh Nguyễn Văn Thắng - người từng tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam và chiến trường Campuchia. Anh bị nhiễm chất độc dioxin lúc nào không rõ. Sau chiến tranh, anh Thắng trở về lập gia đình với  với người yêu là Khoa. Hạnh phúc đang đến thì bi kịch cũng ập đến khi hai đứa con lần lượt ra đời đều tật nguyền, dị dạng. Đứa con gái đầu của anh là một “hình nhân da thú”, “đen óng, lông lá phủ đầy người. Trên lưng đứa bé nổi lên những cục sần to bằng quả cà, quả táo, đỏ chót, ri rỉ nước vàng. Bên cạnh những cục sần ấy là những chòm lông đen tua tủa, dày đặc”. Đứa con thứ hai cũng là một dị nhân: “Con nó hơi dị hình nhưng có nhiều nét rất giống người. Da không dày lông đen kịt như chị nó”. Mười năm trời không lương bổng, phụ cấp, vợ làm phụ hồ, chồng đạp xích lô, anh chị đã vất vả gian lao nuôi hai đứa con “bất thành nhân”.  Anh cố gắng hết mình nhưng vì nhiễm chất độc da cam, bệnh tật tái phát đã làm anh kiệt sức và gục ngã.

Biết bao đứa trẻ sinh ra không được làm người. Em lại Thị Hà (Truyện: Chiếc cũi trần gian) là một trường hợp như thế. Bé Hà sinh ra với hình hài dị dạng và gần như vô thức. Em không biết nói, ăn mọi thứ như côn trùng, chuột chết, nhổ cả tóc mình ăn và thích ngâm nước. Để bảo vệ con trước những nguy cơ rình rập, vợ chồng chị Ngoãn (bố mẹ Hà) phải nuôi con trong chiếc cũi tre suốt 15 năm trời: “Chiếc cũi hình chữ nhật, xung quanh là những chắn song tròn làm bằng tre. Bên dưới ghép dày hơn kiểu ghép lát giường”. Nguyên nhân nỗi đau của bé Hà và bi kịch gia đình chị Ngoãn từ anh Lại Đình Hằng (bố của bé Hà) đã nhiễm chất độc chết người khi là chiễn sĩ Đại đội 5, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 204 thuộc Bộ Tư lệnh 315 chiến đấu ở chiến trường Đông Nam bộ và những cánh rừng ở nước bạn Lào trong thời kỳ chống Mỹ. Chất độc da cam đã thấm vào cốt tuỷ và máu của anh, truyền sang vợ anh để tạo nên cái thai bất thường trong bụng vợ. Đứa con ra đời “đội lốt mặt người” nhưng tâm tính thì của loài hoang thú.

Truyện Con tôi không phải là người kể về cựu binh Lê Văn Lớp, quê ở xã Hoà Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (cũ). Trở về sau chiến tranh, anh Lớp cùng vợ là chị Nguyễn Thị Dung đã trải qua chín lần sinh nở, mà những đứa trẻ sinh ra đều là những “quái thai” không thành người. Mỗi lần sinh nở cũng là lần vợ chồng anh lặng lẽ gói đứa con đem chôn với nỗi đau xé lòng. Trong nỗi đau tận cùng, chị Dung trở thành người tâm thần, vô thức, đi khắp nơi tìm con. Khi tỉnh táo trở lại, chị Dung đã đi hỏi vợ mới cho chồng, mong có được đứa con lành lặn. Nhưng đứa con của người vợ thứ hai sinh ra cũng là một sinh linh không phải là người: “Cháu nó giống như con mèo vậy, lông lá mọc kín người, lại chẳng có mắt, có mũi gì hết. Vừa lọt lòng, nó đã tắt thở rồi”.

 

Ảnh bìa sách "Sau cuộc chiến là cuộc đời"

 

Truyện Vào chùa gặp lại, kể về cuộc gặp gỡ giữa tác giả (nhà văn Minh Chuyên) và nữ tu sĩ Lương Thị Thân, tu ở chùa Đông Am, xã Quang Bình. Bà nguyên là sĩ quan Quân y Đường dây 559, nay là thương binh trở về địa phương. Rong ruổi qua 27 ngôi chùa ở tỉnh Thái Bình (cũ), tác giả đã gặp gỡ 29 Sư thầy, sư bác, qua đó chúng ta hiểu được hoàn cảnh éo le và con đường đến với cửa Phật của bà Lương Thị Thân cũng như nhiều nữ cựu binh, thanh niên xung phong trở về sau chiến tranh. Vì nhiễm chất độc da cam, sức khoẻ giảm sút bởi vết thương hoặc bệnh cũ tái phát, hay lỡ thì quá lứa, họ đã tìm đến tu ở các chùa với những việc làm đầy tình người và ý nghĩa nhân văn. Đó là sư bà Đỗ Thị Mến, một cựu thanh niên xung phong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ trở về sau chiến tranh. Bà đã góp nhiều công sức cùng bạn bè, người thân xây dựng Đền thờ Bác Hồ ngay trên mảnh đất của mình và tực tiếp trông coi hương đèn nơi đền thờ đó. Sư bác Trương Thị Minh, nguyên là Đảng viên, chiến sĩ thông tin Trung đoàn Sao Đỏ, sau chiến tranh đã vào “đèn nhang” ở chùa Tân Thanh. Sư thầy Nguyễn Thị Phương là nạn nhân chất độc da cam, thương binh hạng 4/4. Bà đã gửi thân nơi cửa Phật vì không muốn sinh ra những đứa con tật nguyền, dị dạng, vv… Chiến tranh đi qua, nỗi đau còn ở lại,  vẫn còn đó bao những cảnh đời đau thương, những số phận nghiệt ngã, những đứa trẻ sinh ra không được làm người. Nỗi đớn đau dai dẳng, xé từng khúc ruột tưởng không thể chịu đựng nổi, nỗi đau của hàng triệu người còn diễn ra mấy chục năm sau chiến tranh. Chiến tranh là thảm hoạ khủng khiếp nhất của con người, là bi kịch lớn nhất của nhân loại, lại do chính con người gây ra. Tác giả không lớn tiếng tố cáo nhưng những hình ảnh đau thương đầy ám ảnh đó đã nói lên được nhiều điều có ý nghĩa sâu sắc.

Chiến tranh còn tạo ra những hoàn cảnh éo le, đầy bi kịch của người lính trở về sau cuộc chiến. Đó là câu chuyện cảm động, xót xa và đầy uẩn ức của cựu binh Trần Quyết Định - một người lính từng được báo tử rồi đột ngột sống sót trở về, và hành trình gian nan kéo dài gần ba mươi năm chỉ để “làm thủ tục” của một người chưa chết (Thủ tục làm người còn sống). Trần Quyết Định quê ở xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, tham gia quân đội, chiến đấu ở chiến trường biên giới Tây Nam. Anh được đơn vị báo tử ngày 20/ 12/ 1978 nhưng thật bất ngờ khi chín tháng sau, anh đột ngột khoác ba lô trở về gia đình. Thực ra, trong trận đánh chiếm lại điểm cao 62 ở địa phận Tân Biên, tỉnh Tây Ninh bị quân Pôn Pốt lấn chiếm, Định bị thương nặng, máu ra nhiều nên đơn vị tưởng anh đã hy sinh. Anh được đưa đi điều trị nhiều ngày ở các Quân y viện, được cấp giấy chứng thương. Rời Quân y viện, Trần Quyết Định đi tìm đơn vị nhưng đơn vị anh đã chuyển sang chiến đấu ở Campuchia, anh không thể tìm được, đành trở về quê. Niềm vui đoàn tụ chưa trọn vẹn, Định và gia đình đã rơi vào hoàn cảnh khó khăn, đời sống nghèo đói, đông con, vết thương tái phát, sốt rét trở lại hành hạ với những cơn đau nhức nhối. Chế độ gia đình liệt sĩ bị cắt nhưng chế độ thương binh và thủ tục của một người sống không làm được. Định làm đơn đi khắp các “cửa quan” từ xã, huyện lên tỉnh. Huyện đội giới thiệu lên Phòng Thương binh. Phòng Thương binh chuyển đơn sang Huyện đội. Huyện đội giới thiệu lên Sở, Sở đề nghị sang Ban Chính sách hậu phương. Hồ sơ của Định gửi lên Hà Nội, đến Cục Tổ chức động viên của Bộ Tổng Tham mưu, ở đây lại giới thiệu về đơn vị giải quyết. Cứ thế, nơi nào, đơn vị, tổ chức nào cũng hứa hẹn, an ủi nhưng không ai giúp đỡ được. Trần Quyết Định được sự giúp đỡ nhiệt tình của một nhà báo (tác giả Minh Chuyên). Hai ngườ lặn lội khắp trong Nam, ngoài Bắc nhiều chuyến, nhiều năm trời, có lúc bị kẻ cắp lấy mất cả hành lý, tiền bạc phải đi xin để có tiền trở về quê, thế nhưng cũng không giải quyết được. Có lúc anh Định đã thấy bất lực, tuyệt vọng với khó khăn và hoàn cảnh trớ trêu của mình: “Em chả thiết sống nữa…hẳn như phải nằm dưới mộ ở nghĩa trang Thạch Tây, thì gia đình em lại được vẻ vang, anh em mình cũng đâu đến nỗi  chịu khổ nhục thế này”. Thời kỳ trước Đổi mới, điều kiện kinh tế khó khăn, hệ thống quản lý hành chính quan liêu thời bao cấp, văn bản chính sách bất cập, phức tạp, chồng chéo, nhiều cán bộ các cấp yếu kém về năng lực, thiếu trách nhiệm và tiêu cực, tham nhũng vặt tràn lan. Nhiều trường hợp, họ đùn đẩy trách nhiệm hoặc gây khó khăn để nạn nhân phải chi tiền hối lộ, gây nhiều, phiền toái khổ sở cho người dân. Đúng như lời nhân vật Duyến đã nói: “Giấy tờ, thật giả, bây giờ người ta có quan tâm lắm đâu. Cứ có cái khoản kia là xong tất. Còn không á, có khi thật lại hoá giả”. Những người có hoàn cảnh đặc biệt như Trần Quyết Định là không nhiều nhưng cũng không hiếm những cảnh khốn khó của người dân khi phải tìm đến các cơ quan công quyền để giải quyết những thủ tục hành chính phức tạp.

2. Tình người toả sáng

Nhà văn Minh Chuyên không chỉ thể hiện nỗi đau khổ, bi kịch đến tận cùng của con người sau chiến tranh mà còn ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của những cựu chiến binh, ngợi ca tình tình yêu thương, sức chịu đựng và lòng vị tha cao cả của người Việt Nam thể hiện trong những hoàn cảnh bi kịch ấy. Chiến tranh đã lùi xa, bao người chiến sĩ đã trở về đoàn tụ với gia đình nhưng cựu binh Thắng vẫn bặt vô âm tính (Trở lại kiếp người). Chiến sĩ Thắng trên đường đi công tác lẻ, bị địch phục kích, bị thương nặng, được đàn vượn lấy lá thuốc chữa vết thương. Cũng từ đó anh bị bệnh tâm thần, mất trí nhớ và sống cùng đàn vượn trong rừng hoang ở tỉnh Đắk Lắk suốt 10 năm trời. Người yêu của Thắng là Trang cùng Dũng - một đồng đội cũ của Thắng, đã trải qua hành trình với bao gian lao, vất vả, hy vọng và thất vọng để tìm kiếm anh. Có khi họ đã tìm thấy Thắng, nhưng đàn vượn rừng lại đưa anh đi vào rừng sâu. Cuối cùng, nhờ tình yêu, lòng nhiệt tình và quả cảm của Trang, tình đồng đội của Dũng, họ đã tìm thấy anh Thắng, đưa về Quân y viện điều trị và đoàn tụ với gia đình ở khu kinh tế mới tỉnh Đắk Lắk. Đó là tấm lòng nhân hậu, tình người cao cả của ông bà Châu và chị Dung ở khu tập thể Thủ Lệ 1, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Ông bà đã cưu mang, chăm sóc một người tâm thần lang thang ăn xin đầu đường cuối phố có tên là “Kích sẹo” (Người không cô đơn). “Kích sẹo” chính là cựu binh Nguyễn Đình Thúc, người chiến sĩ đã được báo tử nhưng thực ra anh chỉ bị thương nặng, lạc đơn vị. Vì bị bệnh tâm thần, khi đang điều trị ở Quân y viện, anh Thức tìm đường về quê là bị lạc lối ở Hà Nội. Anh lang thang nhiều nơi rồi trôi dạt về Cầu Giấy. Trải qua bao biến cố, bao vất vả nhọc nhằn, nhờ sự tận tâm chăm sóc, tình yêu thương thông cảm của ông bà Châu và chị Dung, anh Thúc đã được trở về đoàn tụ với gia đình ở tỉnh Thái Bình (cũ). Truyện Linh hồn Việt Cộng là câu chuyện đầy tính nhân văn về hành trình chuộc lỗi của cựu binh Mỹ - Homer Steedy nhiều năm sau cuộc chiến. Homer đã bắn chết chiến sĩ Giải phóng quân Hoàng Ngọc Đảm tại chiến trường Tây Nguyên, ngày 18/ 3/ 1969. Điều đó làm ông ân hận mấy chục năm trời sau chiến tranh: “Sau cái phút kinh hoàng ấy, hình ảnh người lính Việt  Cộng đã khắc sâu vào tim tôi. Và linh hồn của anh ấy đã ám ảnh tôi suốt hơn 30 năm qua”. Ông đã đưa chiếc ba lô và những kỷ vật khác của người lính Hoàng Ngọc Đảm nhờ mẹ cất giữ trên bàn thờ của gia đình mình ở Mỹ. Nhờ sự giúp đỡ của bạn bè và các cơ quan hữu trách, ngày 13/ 5/ 2008, Homer đã đến Việt Nam, thăm lại chiến trường xưa, đưa hài cốt của liệt sĩ Đảm về quê nhà an táng trong niềm xúc động nghẹn ngào. Ông cũng đưa những di vật của Hoàng Ngọc Đảm mà ông đã cất giữ nhiều năm như một phần “linh hồn” của người lính. Hận thù đã được hoá giải, nỗi đau đang được chữa lành sau những mất mát đau thương…

 

Tác giả Nguyễn Phương Hà

 

Ẩn hiện trong những trang văn là hình ảnh nhân vật “Tôi” - người kể chuyện: Nhà báo, nhà văn Minh Chuyên. Từ một người lính trở về sau chiến tranh, Minh Chuyên thấm thía nỗi mất mát, đau thương, bất hạnh của những nạn nhân chiến tranh và bi kịch của gia đình họ. Ông trăn trở, thao thức vì hoàn cảnh đau thương của người lính thời hậu chiến nhưng không biểu hiện tình thương bằng những lời cảm thán mà bằng những hành động cụ thể, những việc làm thiết thực đầy nghĩa tình với đồng đội và nạn nhân chiến tranh. Nhà văn đã đến nhiều nơi, tìm gặp những mảnh đời bất hạnh, những em bé tật nguyền - nạn nhân chất độc da cam, lòng quặn thắt chứng kiến những cơn đau cháy xé da thịt các em từng dây, từng phút. Bước chân nhà văn đã cùng nhân vật của mình vào Nam ra Bắc, vượt qua núi rừng hiểm trở đến những chiến trường cũ xa xôi, đến cơ quan này, nhân chứng kia để tìm sự thật, đòi lại công bằng, quyền lợi chính đáng cho những cựu binh bất hạnh. Nhà văn đau nỗi đau xé lòng của nạn nhân chiến tranh, chia sẻ những nhọc nhằn và cả những rủi ro, hiểm nguy của họ trong hành trình tìm lại giá trị của cuộc sống. Phải là một người lính có tình đồng đội ca cả, lòng yêu thương và đồng cảm sâu sắc với nạn nhân chiến tranh thì mới có lòng nhiệt tình và dấn thân như vậy.

Nhà văn Minh Chuyên có lối kể chuyện chân thật, tự nhiên, không dùng những thủ pháp nghệ thuật cầu kỳ, phức tạp. Kết cấu đơn giản, hợp lý theo mạch sự kiện và nhân vật, dễ tiếp nhận đối với công chúng người đọc. Tác phẩm Sau cuộc chiến là cuộc đời chinh phục lòng người bởi những câu chuyên cảm động và chi tiết chân thật, sinh động; bởi  giá trị hiện thực, giá trị nhân văn cao cả toả sáng. Ngôn ngữ văn xuôi tự sự hoà quyện với ngôn ngữ đậm chất báo chí, vừa giản dị, trong sáng, tự nhiên, góp phần tạo nên phong cách độc đáo của tác giả. Bằng ngòi bút yêu thương và trách nhiệm, nhà văn Minh Chuyên đã thể hiện nỗi đau khổ, bất hạnh tột cùng của những nạn nhân chiến tranh, từ đó dẫn gợi sự đồng cảm, sẻ chia của nhân loại và cất lên tiếng nói tố cáo sự khốc liệt, tàn bạo của chiến tranh xâm lược.

Bài được viết nhân dịp tác giả đọc: Sau cuộc chiến là cuộc đời, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2025)

N.P.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm