TIN TỨC

Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-07-18 06:36:20
mail facebook google pos stwis
693 lượt xem

Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi. 

Trong hành trình “Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình”, đoàn văn nghệ sĩ TP.HCM đã dừng chân ở những nơi thiêng ấy – để thắp nén hương tri ân, để nghe tiếng đất gọi từ ngàn xưa, và để một lần nữa lặng người trước sự hy sinh vô bờ của những con người đã hóa thân vào đất mẹ, để đất nước được hồi sinh trong bình yên hôm nay.
 

TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG TRI ÂN

Ký của NGUYÊN HÙNG

Giữa Trường Sơn – tiếng thì thầm của ngàn linh hồn

Mỗi chuyến trở lại Trường Sơn với tôi đều là một lần đi trong thiêng liêng.

Ngọn núi xanh xao ấy, con đường đỏ đất ấy, hàng cây và những triền dốc ấy… tất cả đều dường như biết nói, biết thở, biết rưng rưng cùng tôi.

Tôi còn nhớ như in buổi hoàng hôn đầu tiên đặt chân đến Nghĩa trang Trường Sơn – khi mặt trời đã chìm xuống phía tây dãy núi, chỉ còn vạt nắng loang trên những bia mộ lặng im. Cả không gian đượm mùi trầm, hương khói bảng lảng. Hàng hàng lớp lớp mộ chí – mỗi tấm bia là một cái tên, một năm sinh, một năm hy sinh. Nhiều ngôi mộ không tên không tuổi, chỉ có mấy chữ khô khan “Liệt sĩ chưa biết tên”, nhưng trong tôi, tất cả đều là anh, là em, là đồng đội của dân tộc này.

Tôi đã viết khi ấy, trong khoảnh khắc ấy:

Khi ngã xuống, các anh còn rất trẻ

Chưa một ngày vui, chưa một mối tình...

 

Các anh nằm giữa núi rừng, lặng lẽ

Vai kề vai trong đội ngũ điệp trùng

Các anh nằm giữa thương đau Đất Mẹ

Bao nỗi niềm bia đá cũng rưng rưng.

Những câu thơ viết vội trong làn sương tím, mà đến nay đọc lại vẫn khiến tim tôi run.
Vì trong hình dung, tôi thấy họ – những chàng trai mười tám, đôi mươi, bước đi giữa rừng già, mang theo nụ cười non trẻ, chưa kịp hẹn một mùa yêu. Họ nằm lại giữa rừng, vai kề vai trong đội ngũ điệp trùng, giữa những lớp đất đã hóa thành màu xương cốt. Còn Đất Mẹ – vĩ đại và bao dung – ôm trọn họ trong lòng như ôm những đứa con yêu dấu.


Trong từng khu của Nghĩa trang Trường Sơn, những hàng mộ đều tăm tắp như đội hình sẵn sàng xuất kích. Tôi thấy các anh vẫn chưa “nghỉ”, vẫn đứng trong tư thế chiến đấu, chỉ là bây giờ im lặng. Và chính sự im lặng ấy lại ngân lên thành bản trường ca bất tận – bản hùng ca của máu và hoa.

Tôi đã trở lại nơi đây nhiều lần, cùng các đồng môn, cùng bạn bè, cùng những người con của hai miền Nam – Bắc. Mỗi lần đi ngang qua nghĩa trang, tôi đều cảm thấy như có hàng ngàn ánh mắt dõi theo. Trường Sơn chưa bao giờ tắt tiếng gọi.
 

Về Khe Sanh – nơi đất còn giữ hơi người

Trên cung đường Đường 9 – Nam Lào, xe chúng tôi lăn bánh trong chiều sương dày. Hai bên đường, tôi hình dung “cây nhiệt đới” năm xưa chạm cả vào thùng xe, cành khua lách cách như lời chào của rừng. Tôi lại nhớ đến bài thơ mình từng viết:

Một chiều thăm lại Khe Sanh

Nghe trong ruột đất chiến tranh thét gào...

Đất ở Khe Sanh chưa bao giờ ngủ yên. Dưới lớp cỏ xanh kia, biết bao vết thương còn đang mưng máu. Tôi nghe tiếng đất vọng lên, tiếng những người lính đã ngã xuống mà vẫn canh chừng từng thước đất quê hương.

Ở Làng Vây, nơi từng diễn ra những trận đánh ác liệt, tôi nghe các cô gái Vân Kiều cất tiếng hát múa xòe. Trong tiếng cười ấy, vẫn ẩn nỗi buồn, vẫn còn đâu đó hơi thở của những người đi không trở lại. Khe Sanh ngày nay đã rợp xanh cây cà phê, hồ tiêu, nhưng hơi đất vẫn mằn mặn vị đạn bom. Cái vị ấy, dẫu có ngàn năm, vẫn không tan.

Một cụ già ở gần đó kể với chúng tôi: “Hồi xưa, mỗi tấc đất này đều có xương người. Trồng cây, đào lên thấy cả bi đông, mảnh pháo. Bây giờ, chúng tôi sống trên máu xương của con cháu mình, nên càng phải giữ làng, giữ đất”.

Tôi nghe mà nghẹn. Trong câu nói ấy có cả một triết lý dân tộc: những gì dựng nên hôm nay, đều được trả giá bằng xương máu của ngày hôm qua.
 

Quảng Trị – dòng sông Thạch Hãn vẫn chảy màu đỏ

Nhắc đến Thành cổ Quảng Trị, trong tôi luôn trào dâng hai chữ: thiêng liêng. Nơi ấy, 81 ngày đêm của mùa hè năm 1972 đã trở thành biểu tượng bất tử. Trên mỗi viên gạch, mỗi tấc cỏ, đều có vết tích của đạn pháo, của máu, của nước mắt.

Khi đoàn chúng tôi đến, tiếng chuông nhà tưởng niệm vừa ngân. Tôi đứng lặng bên dòng Thạch Hãn, nghe nước róc rách như tiếng thầm thì của hàng vạn linh hồn. Bên kia bờ, cây bàng còn sót lại – lá đã ngả màu – như một nhân chứng im lặng cho những ngày thành cháy.

Tôi nhớ đến những lá thư cuối cùng của các chiến sĩ giữ thành: “Nếu anh không về, em đừng buồn. Anh sẽ hóa thành sông Thạch Hãn, để soi bóng em mỗi sớm mỗi chiều”.

Một lời trăng trối mà hóa thành bất tử.
 

Đoàn VNS TP. Hồ Chí Minh bên sông Thạch Hãn.

Sau phim “Mưa Đỏ”, nhiều người mới biết đến sự khốc liệt của 81 ngày đêm ấy. Nhưng với những ai đã đặt chân đến từng bức tường, từng góc thành, từng mảnh gạch – đều hiểu rằng, có những điều chỉ đất và máu mới nói được.

Tôi thả xuống dòng sông một đóa hoa. Nước cuốn đi. Dòng Thạch Hãn vẫn chảy – nhưng trong tôi, dòng máu ấy không bao giờ ngừng.
 

Vĩnh Mốc – bản anh hùng ca trong lòng đất

Từ Quảng Trị ra Vĩnh Linh, chỉ hơn trăm cây số, nhưng mỗi bước chân là một trang sử.

Nếu Trường Sơn là “rừng của những người nằm lại”, thì Vĩnh Mốc là “lòng đất của những người không chịu khuất phục”.

Địa đạo Vĩnh Mốc – kỳ tích của trí tuệ và lòng kiên cường – nơi hàng trăm người dân vừa sống, vừa chiến đấu trong suốt những năm tháng mưa bom bão đạn. Khi bước xuống lòng địa đạo, tôi nghe tiếng tim mình đập hòa cùng tiếng đất. Đường hầm chật hẹp, ẩm ướt, chỉ vừa cho một người cúi lom khom mà đi, nhưng trong bóng tối ấy là cả một ánh sáng – ánh sáng của niềm tin, của sự sống bất diệt.

Cô hướng dẫn viên nói: “Ở đây, trong bom đạn, vẫn có những em bé được sinh ra. Có em chưa kịp nhìn thấy bầu trời”.

Những đứa trẻ sinh ra trong lòng đất ấy – bây giờ đã là ông, là bà – mang trong mình dấu vết của chiến tranh và tinh thần kiên cường của cha ông.

Khi trở lên mặt đất, ngay trước mặt là biển, tôi ngước nhìn trời, thấy bầu trời xanh hơn bao giờ hết. Và tôi hiểu: nhờ những người trong lòng đất, chúng ta hôm nay mới được nhìn thấy bầu trời tự do.
 

Các VNS vừa chui từ địa đạo lên - phía trước mặt là biển - Ảnh: Kha Đạt.
 

Dáng Mẹ Suốt bên sông Nhật Lệ

Tác giả và nhạc sĩ Khánh Vinh bên tượng đài Mẹ Suốt


Đến Quảng Bình, dưới tượng đài Mẹ Suốt, tôi lặng nhìn dòng Nhật Lệ lững lờ trôi giữa nắng chiều. Gió sông vẫn hun hút, những con sóng nhỏ vẫn thì thầm như còn giữ nhịp chèo năm xưa.

Người phụ nữ Quảng Bình tuổi ngoài năm mươi ấy đã chèo hơn 1.400 chuyến đò giữa mưa bom bão đạn, đưa bộ đội, thương binh, vũ khí qua sông — và cũng là qua ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết.

Nhớ lời thơ Tố Hữu viết giữa năm 1965: “Sợ chi sóng gió tàu bay/ Tây kia mình đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua!”

Một câu thơ giản dị mà rực lửa, như nói thay khí phách của người mẹ “lá cờ đầu” giữa dòng Nhật Lệ.

Năm 1968, trong một trận oanh kích của máy bay Mỹ, Mẹ Suốt đã ngã xuống, nhưng từ đó, con sông càng thêm linh thiêng. Dòng Nhật Lệ không chỉ chảy ra biển, mà còn chảy vào lòng dân tộc – nơi một người mẹ bình dị đã hóa thân thành mái chèo bất tử của niềm tin và khát vọng Việt Nam.

Và hôm nay, bên tượng người mẹ anh hùng, tôi đã viết:

Gió vờn Nhật Lệ miên man nắng

Dáng Mẹ hiên ngang chạm mây trời

Mái chèo năm ấy còn khua sóng

Theo mỗi bước chân, mỗi hồn người.
 

Hành trình của ký ức – hành trình của lòng biết ơn

Trở lại những chiến trường xưa, tôi càng thấm thía hai chữ hòa bình. Càng hiểu rằng, sự sống hôm nay là phần được gửi lại từ cái chết của bao người. Họ ngã xuống để đất nước đứng dậy, để tiếng cười trẻ thơ vang trên bờ biển, để lúa trổ bông trên ruộng đồng, để chúng ta được nói hai chữ “quê hương” mà không phải cúi đầu.

Có bạn thơ chân tình chia sẻ: “Chúng ta cứ đi viết về chiến tranh, về đau thương mất mát, liệu có nặng nề không?”. Không, tôi không thấy nặng nề, trái lại cảm thấy nhẹ nhõm hơn – vì viết là một cách trả ơn, là cách để lòng mình được yên. Bởi tôi tin rằng:

Mỗi ngọn gió thổi qua Trường Sơn đều có hơi thở của những người lính trẻ.

Mỗi giọt nước sông Thạch Hãn đều là dòng máu của một người anh hùng.

Mỗi nụ mai trước tượng đài Mẹ Suốt đều là giọt nước mắt hóa thành hoa.
 

Lời của đất – lời của mẹ

Đêm về, tôi lại nhớ những nghĩa trang, những hàng bia, những con đường đất đỏ. Nhớ tiếng chuông chùa giữa Trường Sơn vang lên giữa mênh mông núi rừng – âm thanh như tiếng đất gọi con về.

Tôi ngồi viết những dòng này, nghe như có ai đang đọc thầm bên tai. Có thể là người lính nằm lại bên đường, là bà mẹ Vĩnh Linh vẫn đan áo trong lòng đất, cũng có thể là Mẹ Suốt đang chèo đò giữa sông đêm. Họ không nói gì, nhưng tôi hiểu: họ muốn chúng ta sống sao cho xứng đáng.

Hành trình “Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình” đã đưa chúng tôi qua nhiều miền đất, nhưng hành trình đến những nơi thấm máu đồng bào lại là hành trình sâu nhất của tâm hồn. Hành trình tri ân chưa bao giờ dừng lại. Bởi khi còn biết cúi đầu trước những nấm mộ chưa biết tên, ta vẫn còn giữ được linh hồn của dân tộc.

Những con đường tôi đi qua – Trường Sơn, Khe Sanh, Thạch Hãn, Vĩnh Mốc – không chỉ là mạch đất, mà là mạch máu của ký ức. Và tôi tin: chỉ khi biết tri ân, con người mới có thể sống xứng đáng với những người đã khuất.

N.H.
(Tháng 10 -2025, sau hành trình “Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình”)

Mời đọc chùm bài liên quan:

 



CHÙM VIDEOCLIP HÀNH TRÌNH TRI ÂN VÀ SÁNG TẠO CỦA ĐOÀN VĂN NGHỆ SĨ TP. HỒ CHÍ MINH


VNS TP. Hồ Chí Minh về thăm chiến trường xưa


 

Văn nghệ sĩ TP. Hồ Chí Minh viếng mộ Đại tướng và...


 

Văn nghệ sĩ TP. Hồ Chí Minh về thăm "bến xưa" của Bác Hồ

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm