TIN TỨC

Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-06-17 17:05:46
mail facebook google pos stwis
256 lượt xem

Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.

 

Chân dung nhà văn Sơn Nam tại nhà lưu niệm. Ảnh: Hy Mã Lạp Sơn.

 

Nhà văn Sơn Nam không chỉ là nhà văn, mà còn là nhà báo, nhà khảo cứu – một trí thức bình dân suốt đời gắn bó với đất và người phương Nam.

Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà văn nào mà mỗi trang viết lại chuyên chở trọn vẹn hơi thở một vùng đất, lớp trầm tích văn hóa và ký ức cộng đồng sâu dày như Sơn Nam. Ông không chỉ là nhà văn, mà còn là nhà báo, nhà khảo cứu – một trí thức bình dân suốt đời gắn bó với đất và người phương Nam.

Bằng lối văn đậm hương rừng, mặn vị phù sa, Sơn Nam đã “chép sử” cho Nam Bộ theo cách riêng: không bằng những biên niên khô cứng, mà qua các câu chuyện đời thường và những phận người bình dị. Hành trình chữ nghĩa bền bỉ của ông chính là quá trình gìn giữ ký ức tiền nhân giữa dòng chảy hiện đại, để từ đó hiện lên hình ảnh một chứng nhân lịch sử và “thư ký của đất rừng phương Nam”.

 

Từ bưng biền Miệt Thứ đến bản sắc Nam Bộ

Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.

Tuổi thơ của ông gắn bó với ruộng đồng, với những câu chuyện dân gian và ký ức truyền miệng của lớp người đi khai hoang. Đó là thứ “sử miệng” không có trong sách vở chính thống nhưng bền bỉ trong trí nhớ cộng đồng, trở thành chất liệu cốt lõi cho toàn bộ sáng tác sau này.

Bút danh Sơn Nam mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc: tưởng nhớ người phụ nữ Khmer từng nuôi dưỡng ông thuở nhỏ. “Sơn” là họ lớn của người Khmer, “Nam” nhắc đến nguồn cội phương Nam – một lựa chọn cho thấy sự gắn bó với mạch giao thoa văn hóa, lịch sử và tộc người của vùng đất này.

Con đường học vấn của Sơn Nam không dài theo lối hàn lâm. Sau khi học tiểu học ở quê và trung học tại Cần Thơ, ông sớm tham gia cách mạng. Năm 1945, ông gia nhập Thanh niên Tiền phong, rồi công tác tại Hội Văn hóa cứu quốc tỉnh, Phòng Chính trị Quân khu và Phòng Văn nghệ Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ.

Những năm tháng ấy giúp ông sống sâu trong đời sống nhân dân, trực tiếp chứng kiến biến động lịch sử và tích lũy vốn sống phong phú cho sự nghiệp văn chương sau này.

 

Nhà văn Sơn Nam để lại gia tài tác phẩm đồ sộ. Ảnh: NXB Trẻ

 

Văn chương như một hình thức “chép sử” sống động

Sơn Nam bắt đầu sáng tác khá sớm với tập thơ Lúa reo (1948), sau đó là các truyện ngắn Bên rừng Cù Lao Dung, Tây đầu đỏ. Tuy nhiên, phải đến năm 1962, khi Hương rừng Cà Mau ra đời, ông mới thực sự khẳng định vị trí riêng trong văn học Việt Nam.

Với dung lượng hơn 900 trang, Hương rừng Cà Mau không chỉ là tập truyện ngắn mà còn là kho tư liệu văn học phong phú về vùng Tây Nam Bộ thời khẩn hoang. Lịch sử trong tác phẩm không được kể bằng niên đại, mà hiện lên qua những phận người bình dị: người mở đất, dân giang hồ, nông dân, thầy thuốc, nghĩa sĩ, kẻ phiêu bạt. Mỗi câu chuyện là một mảnh ghép, góp phần dựng nên bức tranh đời sống phương Nam sinh động.

Không gian tác phẩm vừa dữ dội vừa cuốn hút, với những hình ảnh thiên nhiên khắc nghiệt như “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”. Thiên nhiên trở thành thử thách, buộc con người phải lanh trí, hiệp nghĩa và gắn bó cộng đồng. Con người Nam Bộ trong trang viết của ông hiện lên chân thực, bình dị, có lúc ngang tàng, khác thường nhưng luôn hồn hậu.

Giọng văn Sơn Nam thong dong, chậm rãi, đậm chất kể chuyện dân gian. Ông không trực tiếp luận bàn triết lý, nhưng qua từng câu chữ vẫn toát lên những quan niệm sống đặc trưng của người Nam Bộ: thuận theo tự nhiên, trọng nghĩa khinh tài và chấp nhận gian khó như một phần của cuộc đời.

Tấm bản đồ văn hóa của miền đất phương Nam

Sau Hương rừng Cà Mau, Sơn Nam tiếp tục mở rộng thế giới văn chương với nhiều tác phẩm như Chim quyên xuống đất, Hình bóng cũ, Vạch một chân trời, Hai cõi U Minh, Vọc nước giỡn trăng, Bà Chúa Hòn… Mỗi tác phẩm là một lát cắt đời sống, góp phần hoàn thiện bức tranh văn hóa Nam Bộ trong văn học Việt Nam.

Trong Mùa len trâu, ông khai thác chu kỳ sinh tồn của người nông dân mùa nước nổi. Tác phẩm không chỉ kể chuyện mưu sinh mà còn thể hiện triết lý sống hòa hợp với thiên nhiên: con người không đối đầu với nước mà thích nghi, sống chung và tận dụng nguồn lợi tự nhiên – một tư duy sinh thái hình thành từ kinh nghiệm dân gian.

Ở mảng khảo cứu – bút ký, các tác phẩm như Gia Định xưa, Người Sài Gòn cho thấy một Sơn Nam của đời sống đô thị. Sài Gòn trong trang viết của ông hiện lên như không gian văn hóa nhiều lớp, nơi ký ức khẩn hoang, thương hồ, di dân và sự giao thoa Đông – Tây cùng tồn tại.

Những ghi chép tỉ mỉ về phong tục, ngành nghề, sinh hoạt đô thị đã biến tác phẩm thành những “hồ sơ ký ức” giàu giá trị, giúp ông được đánh giá cao như một nhà Nam Bộ học. Nhà nghiên cứu Võ Văn Sơn nhận định, sáng tác của ông vừa mang giá trị văn chương vừa có ý nghĩa tư liệu lịch sử – văn hóa, đặc biệt gần gũi với người bình dân.

Diễn giả – nhà nghiên cứu Pascal Bourdeaux (Viện Viễn Đông Bác cổ tại TPHCM) cũng cho rằng Sơn Nam là “pho từ điển sống về Đồng bằng sông Cửu Long”. Dù chủ yếu làm việc bằng trải nghiệm hơn là phương pháp hàn lâm, chính điều đó đã tạo nên sức sống bền bỉ cho tác phẩm, biến văn chương của ông thành con đường tự nhiên để tìm hiểu văn minh sông nước miền Tây.

 

Những bức ký họa chân dung nhà văn Sơn Nam tại nhà lưu niệm. Ảnh: Hy Mã Lạp Sơn.

 

Không gian ký ức của một đời chữ nghĩa

Sơn Nam không viết để trở thành huyền thoại, mà viết để đất không quên người, người không quên đất. Bằng văn chương đậm hương rừng, mật đất, ông lặng lẽ ghi chép lịch sử Nam Bộ qua những trang viết bình dị nhưng bền bỉ. Trong dòng chảy hiện đại, tác phẩm của ông vẫn giữ nguyên sức sống, nhắc nhớ về cội nguồn và ký ức tiền nhân.

Sau khi ông qua đời năm 2008, Khu lưu niệm nhà văn Sơn Nam tại xã Đạo Thạnh, TP Mỹ Tho, Tiền Giang (cũ) – nay thuộc tỉnh Đồng Tháp – được xây dựng như không gian lưu giữ ký ức. Công trình do con gái ông, bà Đào Thúy Hằng, cùng gia đình thực hiện năm 2009 và khánh thành đúng dịp giỗ đầu, như một cách tiếp nối mạch đời và mạch chữ nghĩa.

Ngôi nhà ba gian mái ngói mang kiến trúc truyền thống Nam Bộ, giản dị mà vững chãi, phản ánh tinh thần sống và viết của ông. Lối đi lát 82 khối đá ong tượng trưng cho 82 năm đời người; bên trái là phù điêu chân dung bằng đá, bên phải là bức đá khắc thủ bút bài thơ Hương rừng Cà Mau. Không gian ven sông trồng sú, vẹt, bần, dừa nước – những loài cây gắn bó với sinh thái Nam Bộ mà ông dành cả đời ghi chép.

Trong gian chính là bàn thờ giản dị cùng những vật dụng quen thuộc như máy đánh chữ cũ, áo sờn, bút bi, đồng hồ, mắt kính… Hàng trăm cuốn sách, thủ bút và tư liệu quý được lưu giữ, khiến nơi đây không chỉ là điểm tưởng niệm mà còn là một “thư viện ký ức” về Nam Bộ. Ngày nay, khu lưu niệm trở thành điểm đến quen thuộc của học sinh, sinh viên, nhà nghiên cứu và những người yêu văn chương.

Nhân kỷ niệm 15 năm ngày mất của nhà văn Sơn Nam (2008–2023), Nhà xuất bản Trẻ giới thiệu hai ấn phẩm: Sơn Nam – Những góc đời riêng lạ và Sơn Nam – Đi và ghi nhớ. Trong đó, Sơn Nam – Những góc đời riêng lạ tập hợp những bài viết chân thực, gần gũi của bà Đào Thúy Hằng – con gái lớn của ông – về người cha nổi tiếng với biệt danh “ông già Nam Bộ”.

Cuốn sách mở ra góc nhìn đời thường, giản dị và giàu yêu thương, giúp người đọc cảm nhận rõ hình ảnh Sơn Nam không chỉ là nhà văn tài hoa mà còn là người cha, người ông gần gũi, chân chất, giàu tình cảm gia đình. Qua những ký ức mộc mạc, chân dung ông hiện lên đa diện – từ một trí thức uyên thâm đến con người bình dị giữa đời sống phương Nam.

Sơn Nam để lại gia tài văn chương đồ sộ với nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, biên khảo lịch sử – văn hóa, hồi ký và khảo cứu. Nổi bật ở mảng truyện và tiểu thuyết có “Hương rừng Cà Mau” (1962), “Chim quyên xuống đất” (1963), “Bà chúa Hòn” (1969) – tiểu thuyết lịch sử về Hà Tiên xưa, “Hai cõi U Minh”, “Vọc nước giỡn trăng”.

Ở mảng biên khảo, nghiên cứu văn hóa có “Lịch sử khẩn hoang miền Nam” (1973) – công trình quan trọng về quá trình mở cõi, “Văn minh miệt vườn” (1970), “Đất Gia Định xưa” (1984), “Người Sài Gòn” (1990), “Cá tính miền Nam” (2000).

Hồi ký gồm “Hồi ký Sơn Nam” (4 tập, 2001–2002) ghi chép hành trình đời người và sự nghiệp, “Từ U Minh đến Cần Thơ” (2000). Ngoài ra còn có “Dạo chơi tuổi già” (1994–1997), “Theo chân người tình” (1990), “Tìm hiểu đất Hậu Giang” (1959) – một trong những công trình khảo sát sớm của ông. Các tác phẩm không chỉ mang giá trị văn học mà còn là nguồn tư liệu quý về lịch sử, văn hóa, phong tục và tâm hồn người Nam Bộ từ thời khẩn hoang đến hiện đại.

Lê Nam

Nguồn: Giáo dục và Thời đại

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm
Nấm Dẩn, một sinh thái trong lành – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Chiều buông, rời bước ra khỏi bãi đá cổ, lòng tôi cứ bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa hoang dại, vừa tôn nghiêm của vùng cao biên giới Nấm Dẩn. Những địa danh như đèo Gió, thác Tiên, hay bãi đá cổ Nấm Chanh giờ đây không còn là những cái tên vô danh giữa đại ngàn heo hút mà đã được định danh trên bản đồ di sản nước nhà. Di tích Bãi đá cổ bản Nấm Chanh ở xã Nấm Dẩn đã được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 2008 và khu danh lam thác Tiên - đèo Gió cũng được xếp hạng thắng cảnh quốc gia vào năm 2009. Nhưng rồi lại nghĩ, bản đồ du lịch ở Nấm Dẩn đã mở ra nhưng giao thông và hạ tầng ở đây còn chưa theo kịp. Muốn nhiều người biết hơn nữa về những thắng cảnh và di sản ở Nấm Dẩn đường đi và các dịch vụ chắc chắn phải đi trước một bước để đón chân du khách. Nghĩ thế, rồi lại nhìn sang những vùng đất khác. Du lịch mở ra và bản sắc văn hoá cứ mất dần vì làn sóng thương mại hóa. Bất giác, tôi giật mình và tự hỏi: liệu một mai, khi rộn rã thanh âm của những bước chân du lịch, Nấm Dẩn có còn giữ nổi cho mình là một sinh thái trong lành nữa hay không?
Xem thêm