TIN TỨC

Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-06-17 17:05:46
mail facebook google pos stwis
686 lượt xem

Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.

 

Chân dung nhà văn Sơn Nam tại nhà lưu niệm. Ảnh: Hy Mã Lạp Sơn.

 

Nhà văn Sơn Nam không chỉ là nhà văn, mà còn là nhà báo, nhà khảo cứu – một trí thức bình dân suốt đời gắn bó với đất và người phương Nam.

Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà văn nào mà mỗi trang viết lại chuyên chở trọn vẹn hơi thở một vùng đất, lớp trầm tích văn hóa và ký ức cộng đồng sâu dày như Sơn Nam. Ông không chỉ là nhà văn, mà còn là nhà báo, nhà khảo cứu – một trí thức bình dân suốt đời gắn bó với đất và người phương Nam.

Bằng lối văn đậm hương rừng, mặn vị phù sa, Sơn Nam đã “chép sử” cho Nam Bộ theo cách riêng: không bằng những biên niên khô cứng, mà qua các câu chuyện đời thường và những phận người bình dị. Hành trình chữ nghĩa bền bỉ của ông chính là quá trình gìn giữ ký ức tiền nhân giữa dòng chảy hiện đại, để từ đó hiện lên hình ảnh một chứng nhân lịch sử và “thư ký của đất rừng phương Nam”.

 

Từ bưng biền Miệt Thứ đến bản sắc Nam Bộ

Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.

Tuổi thơ của ông gắn bó với ruộng đồng, với những câu chuyện dân gian và ký ức truyền miệng của lớp người đi khai hoang. Đó là thứ “sử miệng” không có trong sách vở chính thống nhưng bền bỉ trong trí nhớ cộng đồng, trở thành chất liệu cốt lõi cho toàn bộ sáng tác sau này.

Bút danh Sơn Nam mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc: tưởng nhớ người phụ nữ Khmer từng nuôi dưỡng ông thuở nhỏ. “Sơn” là họ lớn của người Khmer, “Nam” nhắc đến nguồn cội phương Nam – một lựa chọn cho thấy sự gắn bó với mạch giao thoa văn hóa, lịch sử và tộc người của vùng đất này.

Con đường học vấn của Sơn Nam không dài theo lối hàn lâm. Sau khi học tiểu học ở quê và trung học tại Cần Thơ, ông sớm tham gia cách mạng. Năm 1945, ông gia nhập Thanh niên Tiền phong, rồi công tác tại Hội Văn hóa cứu quốc tỉnh, Phòng Chính trị Quân khu và Phòng Văn nghệ Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ.

Những năm tháng ấy giúp ông sống sâu trong đời sống nhân dân, trực tiếp chứng kiến biến động lịch sử và tích lũy vốn sống phong phú cho sự nghiệp văn chương sau này.

 

Nhà văn Sơn Nam để lại gia tài tác phẩm đồ sộ. Ảnh: NXB Trẻ

 

Văn chương như một hình thức “chép sử” sống động

Sơn Nam bắt đầu sáng tác khá sớm với tập thơ Lúa reo (1948), sau đó là các truyện ngắn Bên rừng Cù Lao Dung, Tây đầu đỏ. Tuy nhiên, phải đến năm 1962, khi Hương rừng Cà Mau ra đời, ông mới thực sự khẳng định vị trí riêng trong văn học Việt Nam.

Với dung lượng hơn 900 trang, Hương rừng Cà Mau không chỉ là tập truyện ngắn mà còn là kho tư liệu văn học phong phú về vùng Tây Nam Bộ thời khẩn hoang. Lịch sử trong tác phẩm không được kể bằng niên đại, mà hiện lên qua những phận người bình dị: người mở đất, dân giang hồ, nông dân, thầy thuốc, nghĩa sĩ, kẻ phiêu bạt. Mỗi câu chuyện là một mảnh ghép, góp phần dựng nên bức tranh đời sống phương Nam sinh động.

Không gian tác phẩm vừa dữ dội vừa cuốn hút, với những hình ảnh thiên nhiên khắc nghiệt như “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”. Thiên nhiên trở thành thử thách, buộc con người phải lanh trí, hiệp nghĩa và gắn bó cộng đồng. Con người Nam Bộ trong trang viết của ông hiện lên chân thực, bình dị, có lúc ngang tàng, khác thường nhưng luôn hồn hậu.

Giọng văn Sơn Nam thong dong, chậm rãi, đậm chất kể chuyện dân gian. Ông không trực tiếp luận bàn triết lý, nhưng qua từng câu chữ vẫn toát lên những quan niệm sống đặc trưng của người Nam Bộ: thuận theo tự nhiên, trọng nghĩa khinh tài và chấp nhận gian khó như một phần của cuộc đời.

Tấm bản đồ văn hóa của miền đất phương Nam

Sau Hương rừng Cà Mau, Sơn Nam tiếp tục mở rộng thế giới văn chương với nhiều tác phẩm như Chim quyên xuống đất, Hình bóng cũ, Vạch một chân trời, Hai cõi U Minh, Vọc nước giỡn trăng, Bà Chúa Hòn… Mỗi tác phẩm là một lát cắt đời sống, góp phần hoàn thiện bức tranh văn hóa Nam Bộ trong văn học Việt Nam.

Trong Mùa len trâu, ông khai thác chu kỳ sinh tồn của người nông dân mùa nước nổi. Tác phẩm không chỉ kể chuyện mưu sinh mà còn thể hiện triết lý sống hòa hợp với thiên nhiên: con người không đối đầu với nước mà thích nghi, sống chung và tận dụng nguồn lợi tự nhiên – một tư duy sinh thái hình thành từ kinh nghiệm dân gian.

Ở mảng khảo cứu – bút ký, các tác phẩm như Gia Định xưa, Người Sài Gòn cho thấy một Sơn Nam của đời sống đô thị. Sài Gòn trong trang viết của ông hiện lên như không gian văn hóa nhiều lớp, nơi ký ức khẩn hoang, thương hồ, di dân và sự giao thoa Đông – Tây cùng tồn tại.

Những ghi chép tỉ mỉ về phong tục, ngành nghề, sinh hoạt đô thị đã biến tác phẩm thành những “hồ sơ ký ức” giàu giá trị, giúp ông được đánh giá cao như một nhà Nam Bộ học. Nhà nghiên cứu Võ Văn Sơn nhận định, sáng tác của ông vừa mang giá trị văn chương vừa có ý nghĩa tư liệu lịch sử – văn hóa, đặc biệt gần gũi với người bình dân.

Diễn giả – nhà nghiên cứu Pascal Bourdeaux (Viện Viễn Đông Bác cổ tại TPHCM) cũng cho rằng Sơn Nam là “pho từ điển sống về Đồng bằng sông Cửu Long”. Dù chủ yếu làm việc bằng trải nghiệm hơn là phương pháp hàn lâm, chính điều đó đã tạo nên sức sống bền bỉ cho tác phẩm, biến văn chương của ông thành con đường tự nhiên để tìm hiểu văn minh sông nước miền Tây.

 

Những bức ký họa chân dung nhà văn Sơn Nam tại nhà lưu niệm. Ảnh: Hy Mã Lạp Sơn.

 

Không gian ký ức của một đời chữ nghĩa

Sơn Nam không viết để trở thành huyền thoại, mà viết để đất không quên người, người không quên đất. Bằng văn chương đậm hương rừng, mật đất, ông lặng lẽ ghi chép lịch sử Nam Bộ qua những trang viết bình dị nhưng bền bỉ. Trong dòng chảy hiện đại, tác phẩm của ông vẫn giữ nguyên sức sống, nhắc nhớ về cội nguồn và ký ức tiền nhân.

Sau khi ông qua đời năm 2008, Khu lưu niệm nhà văn Sơn Nam tại xã Đạo Thạnh, TP Mỹ Tho, Tiền Giang (cũ) – nay thuộc tỉnh Đồng Tháp – được xây dựng như không gian lưu giữ ký ức. Công trình do con gái ông, bà Đào Thúy Hằng, cùng gia đình thực hiện năm 2009 và khánh thành đúng dịp giỗ đầu, như một cách tiếp nối mạch đời và mạch chữ nghĩa.

Ngôi nhà ba gian mái ngói mang kiến trúc truyền thống Nam Bộ, giản dị mà vững chãi, phản ánh tinh thần sống và viết của ông. Lối đi lát 82 khối đá ong tượng trưng cho 82 năm đời người; bên trái là phù điêu chân dung bằng đá, bên phải là bức đá khắc thủ bút bài thơ Hương rừng Cà Mau. Không gian ven sông trồng sú, vẹt, bần, dừa nước – những loài cây gắn bó với sinh thái Nam Bộ mà ông dành cả đời ghi chép.

Trong gian chính là bàn thờ giản dị cùng những vật dụng quen thuộc như máy đánh chữ cũ, áo sờn, bút bi, đồng hồ, mắt kính… Hàng trăm cuốn sách, thủ bút và tư liệu quý được lưu giữ, khiến nơi đây không chỉ là điểm tưởng niệm mà còn là một “thư viện ký ức” về Nam Bộ. Ngày nay, khu lưu niệm trở thành điểm đến quen thuộc của học sinh, sinh viên, nhà nghiên cứu và những người yêu văn chương.

Nhân kỷ niệm 15 năm ngày mất của nhà văn Sơn Nam (2008–2023), Nhà xuất bản Trẻ giới thiệu hai ấn phẩm: Sơn Nam – Những góc đời riêng lạ và Sơn Nam – Đi và ghi nhớ. Trong đó, Sơn Nam – Những góc đời riêng lạ tập hợp những bài viết chân thực, gần gũi của bà Đào Thúy Hằng – con gái lớn của ông – về người cha nổi tiếng với biệt danh “ông già Nam Bộ”.

Cuốn sách mở ra góc nhìn đời thường, giản dị và giàu yêu thương, giúp người đọc cảm nhận rõ hình ảnh Sơn Nam không chỉ là nhà văn tài hoa mà còn là người cha, người ông gần gũi, chân chất, giàu tình cảm gia đình. Qua những ký ức mộc mạc, chân dung ông hiện lên đa diện – từ một trí thức uyên thâm đến con người bình dị giữa đời sống phương Nam.

Sơn Nam để lại gia tài văn chương đồ sộ với nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, biên khảo lịch sử – văn hóa, hồi ký và khảo cứu. Nổi bật ở mảng truyện và tiểu thuyết có “Hương rừng Cà Mau” (1962), “Chim quyên xuống đất” (1963), “Bà chúa Hòn” (1969) – tiểu thuyết lịch sử về Hà Tiên xưa, “Hai cõi U Minh”, “Vọc nước giỡn trăng”.

Ở mảng biên khảo, nghiên cứu văn hóa có “Lịch sử khẩn hoang miền Nam” (1973) – công trình quan trọng về quá trình mở cõi, “Văn minh miệt vườn” (1970), “Đất Gia Định xưa” (1984), “Người Sài Gòn” (1990), “Cá tính miền Nam” (2000).

Hồi ký gồm “Hồi ký Sơn Nam” (4 tập, 2001–2002) ghi chép hành trình đời người và sự nghiệp, “Từ U Minh đến Cần Thơ” (2000). Ngoài ra còn có “Dạo chơi tuổi già” (1994–1997), “Theo chân người tình” (1990), “Tìm hiểu đất Hậu Giang” (1959) – một trong những công trình khảo sát sớm của ông. Các tác phẩm không chỉ mang giá trị văn học mà còn là nguồn tư liệu quý về lịch sử, văn hóa, phong tục và tâm hồn người Nam Bộ từ thời khẩn hoang đến hiện đại.

Lê Nam

Nguồn: Giáo dục và Thời đại

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hà Nội và nỗi niềm hoa sữa – Tản văn Đào Thị Thu Hiền
Nhớ đến những mùa hoa Hà Nội, những người yêu mảnh đất này không thể không nhắc đến mùa hoa sữa. Đó là một mùa hoa nhưng cũng có thể gọi về cả mùa thơ, mùa nhạc khiến cho đất trời thủ đô khoảnh khắc cuối thu chầm chậm sang đông bỗng trở nên rạo rực, thao thức, nồng nàn với những vấn vương bởi cái hương thơm ngọt ngào, đằm sâu, quyến rũ đang dịu dàng gửi vào trong gió. Mùi hương ấy làm cho bao bước chân qua không khỏi ngập ngừng như thể đang bị níu lại. Có lẽ vì thế mà loài hoa này, từ lâu, đã được xem là tình yêu và nỗi nhớ của người Hà Nội.
Xem thêm
Kiến nghị lấy ngày 27/7 làm ngày Quốc giỗ
Tôi quan niệm rằng sự hy sinh của những người con đất Việt không bị giới hạn bởi một thời đại, một cuộc chiến tranh hay một thế hệ. Tất cả những người đã hy sinh vì độc lập, tự do và sự trường tồn của đất nước đều xứng đáng được các thế hệ hôm nay và mai sau tưởng nhớ. Bởi vậy, khi bàn về Ngày Quốc giỗ, cần phân biệt rõ giữa việc lựa chọn một ngày tưởng niệm chung và việc bảo đảm sự tri ân đối với từng đối tượng, từng giai đoạn lịch sử. Hai việc này không nhất thiết loại trừ nhau.
Xem thêm
Những người đi qua Trường Sơn – 55 năm một lời hẹn
Bài đăng Đặc san của Hội Nhà báo TPHCM chào mừng Đại hội Hội Nhà báo TPHCM
Xem thêm
Về bến Lộc An
Bài đăng báo Cựu chiến binh Việt Nam
Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm