TIN TỨC
  • Chân dung & Phỏng vấn
  • Nhà thơ Bruce Weigl: “Không có cách nào đẹp hơn để tôn vinh văn hóa và đất nước mình bằng nghệ thuật và thi ca”

Nhà thơ Bruce Weigl: “Không có cách nào đẹp hơn để tôn vinh văn hóa và đất nước mình bằng nghệ thuật và thi ca”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-06 05:00:01
mail facebook google pos stwis
517 lượt xem

Nhà thơ Bruce Weigl (SN 1949) được biết đến là một nhà thơ đương đại có tầm ảnh hưởng lớn ở Mỹ. Ông cũng là một dịch giả, giáo sư đại học và là tác giả của hàng chục tập thơ riêng và cuốn hồi kí nổi tiếng mang tên “Vòng tròn của Hạnh”. Bruce Weigl là một trong 2 cựu chiến binh Mỹ đã được Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp trao tặng Huân chương Hữu nghị năm 2024, vì sự đóng góp tích cực cho việc quảng bá, giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới và góp phần xây dựng nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Nam và Mỹ.

 

Nhà thơ Bruce Weigl

 

Tham dự Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24 tổ chức tại Quảng Ninh vào ngày 3.3.2026 (tức Rằm tháng Giêng) với chủ đề “Trước biển lớn”, nhà thơ Bruce Weigl đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo và Phát thanh, Truyền hình Quảng Ninh.

* Cảm xúc của ông thế nào khi tham dự Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24?

– Tôi rất vui mừng và hào hứng khi được góp mặt tại Ngày Thơ Việt Nam cùng với rất nhiều nhà thơ lớn, nổi tiếng của Việt Nam với nhiều tác phẩm mà tôi yêu thích. Tôi đã được tham gia vào Ngày Thơ Việt Nam những lần trước đây và tôi rất tự hào khi tối nay sáng tác của tôi được đọc trong đêm thơ cùng với những đồng nghiệp Việt Nam của mình.

* Khi đến Quảng Ninh, ấn tượng của ông là gì?

– Tôi ấn tượng với diện mạo hiện đại, xanh và sạch của Quảng Ninh. Trước đây, tôi từng đến nơi này, nhưng phần lớn thời gian chỉ ở trên tàu du lịch, chưa thực sự trải nghiệm không gian đô thị trên đất liền với những công trình khang trang như vậy. Vì thế, lần trở lại này mang đến cho tôi một cảm nhận hoàn toàn khác.

* Liệu Quảng Ninh có phù hợp cho một nhà thơ đến sống và sáng tác thưa ông?

– Tôi tin rằng cuộc sống ở đây sẽ rất thoải mái. Cảnh quan đẹp, không khí trong lành, nhịp sống dường như hài hòa và dễ chịu. Đặc biệt, Quảng Ninh còn sở hữu một đời sống nghệ thuật phong phú. Nếu được sống tại đây, tôi nghĩ mình sẽ dễ dàng hòa nhập và tìm thấy nguồn cảm hứng cho sáng tạo.

* Được biết ông đã nhận được nhiều giải thưởng văn học lớn ở Mỹ và hai lần vào chung khảo Giải thưởng Pulitzer với tập thơ “Bài hát bom Napalm” (năm 1988) và tập thơ “Sau mưa thôi nã đạn” (năm 2013). Điều đáng chú ý là, cả hai tập thơ này đều viết về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Là một tác giả viết nhiều về Việt Nam, ông mong muốn qua thơ của mình, qua các tác phẩm của mình, độc giả Mỹ và độc giả đọc tiếng Anh sẽ hiểu thế nào về Việt Nam?

– Việt Nam có một nền văn hóa giàu có và lâu đời. Không bao giờ đề tài về mảnh đất này vơi cạn cả. Tôi yêu Việt Nam và tôi yêu cuộc sống ở Hà Nội. Hơn 30 năm qua tôi đã hợp tác với Hội Nhà văn Việt Nam và nhờ đó mà các tác phẩm của tôi tốt hơn. Tôi yêu nhịp sống ở đây, yêu sự trân trọng mà người dân dành cho văn hóa, cho lịch sử và cho tổ tiên của mình và tôi đặc biệt ấn tượng với cách họ cư xử với nhau.

* Chúng tôi có thể cảm nhận được tình yêu mà ông dành cho Việt Nam, ông định nghĩa tình yêu này như thế nào?

– Bạn biết đấy, đã nhiều năm nay, mỗi năm tôi đều dành khoảng 6 tháng để sống ở Việt Nam. Nơi đây với tôi như là quê hương thứ hai. Tôi yêu việc được làm việc và sinh sống tại mảnh đất này. Tôi yêu sự bình yên mà tôi cảm nhận được ở đây. Một đất nước không bị bao trùm bởi tiếng súng.

Với một người lính từng trở về từ chiến trường, cảm giác ấy càng trở nên sâu sắc hơn. Khi súng đạn còn hiện diện nhiều hơn cả con người, đó là một nỗi ám ảnh thực sự, bởi hơn ai hết, người lính hiểu rõ những gì vũ khí có thể gây ra.

Ở Hà Nội, nơi tôi đang sống, tôi có thể đi đến bất cứ đâu mà không phải lo lắng về bạo lực súng đạn. Tôi cảm nhận được sự an toàn và thân thiện trong đời sống thường ngày. Và đôi khi, mọi chuyện chỉ giản dị như một lời mời: “Nào, hãy ngồi xuống uống với tôi một tách trà”.

Với tôi, dường như Việt Nam đã chọn mình. Tôi đặt chân đến đây lần đầu vào năm 1967. Thời điểm đó nó chỉ là sự tình cờ. Nhưng đến lần trở lại thứ hai của tôi, vào thời điểm khi còn rất ít người quay lại, thậm chí trước cả Đổi mới, chuyến đi ấy đã thay đổi cuộc đời tôi mãi mãi.

Khi ấy, tôi từng nghĩ mọi người sẽ căm ghét tôi, bởi tôi là một người lính và tôi đã từng cố gắng hủy hoại đất nước này. Trong quan điểm của thời cuộc lúc bấy giờ, chúng tôi là kẻ thù; chúng tôi đã tham chiến và đứng ở hai phía chiến tuyến. Giờ đây, chiến tranh đã lùi xa. Chúng tôi có thể ngồi lại với nhau, trò chuyện với nhau. Và đó là sự thật.

 

Nhà thơ Bruce Weigl chụp hình lưu niệm tại Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24

* Trong chiến tranh, thơ là nơi người lính gửi gắm tâm hồn mình. Theo ông, sức mạnh và sự khác biệt của thơ là gì?

– Ở Việt Nam, mọi thứ thực sự khác so với nước Mỹ. Việt Nam mang đến cho tôi một cảm nhận rất khác về vị trí của thơ trong đời sống. Tôi đã dịch một tập thơ có tên “Poems from Captured Documents” (Tư liệu từ chiến trường) gồm những bài thơ được tìm thấy trong tài liệu thu giữ, trong ba lô của những người lính đã ngã xuống hoặc bị thương, kể cả từ phía bên kia chiến tuyến. Đó là những bài thơ rất đẹp.

Thời chúng tôi, nếu bạn mở ba lô của một người lính Mỹ, có thể bạn sẽ tìm thấy một cuốn tạp chí Playboy. Nhưng với những người lính Việt Cộng, khi mở ba lô của họ ra, bạn lại thấy thơ. Thơ trở thành nguồn cảm hứng nâng đỡ họ giữa chiến trận, giữa gian khổ và đói khát. Trong những trang viết ấy vẫn hiện lên niềm vui, vẻ đẹp và hy vọng.

* Có bài thơ nào của những liệt sĩ, những chiến sĩ Việt Nam mà ông yêu thích hay ghi nhớ không?

– Một trong những bài thơ tôi yêu thích nhất của Việt Nam là “Núi đôi” của Vũ Cao. Đó là một thi phẩm nổi tiếng, nhưng điều khiến tôi xúc động hơn cả là tính phổ quát của nó. Bài thơ có thể được đọc trong bất cứ thời đại nào, ở bất kỳ cuộc chiến tranh.

“Núi đôi” không chỉ tái hiện một hoàn cảnh cụ thể mà còn chạm tới một trạng thái tâm lý chung của con người trong chiến tranh. Nó khắc họa một trong những phương diện tàn khốc nhất mà chiến tranh gây ra. Đó là sự chia cắt của tình yêu đôi lứa. Khi nói về chiến tranh, chúng ta thường nói nhiều về những vết thương và cái chết. Nhưng còn những cuộc chia ly thì sao? Sự mất mát ấy, buồn lắm chứ!

* Là một nhà thơ, một dịch giả đã gắn bó với thơ Việt Nam hơn 30 năm qua, ông nhận thấy thơ Việt Nam đã có những thay đổi như thế nào?

– Tôi may mắn được chứng kiến sự chuyển mình của thơ Việt Nam trong nhiều thập niên. Theo tôi, thay đổi lớn nhất đến từ sự tiếp xúc ngày càng sâu rộng với văn học phương Tây và văn học các nước trên thế giới.

Những năm đầu khi đọc thơ Việt Nam, tôi hiếm khi bắt gặp cái tôi cá nhân rõ nét; nhiều bài thơ khiến người đọc khó hình dung cụ thể người viết là ai. Nhưng ngày nay, khi đọc thơ, bạn có thể cảm nhận rõ hơn giọng điệu và cá tính của tác giả. Thơ trở nên cá nhân hơn.

Về hình thức, thơ cũng cởi mở hơn rất nhiều. Trước đây, cấu trúc thường khá chặt chẽ, có phần nghiêm ngặt và gắn với những mô thức quen thuộc. Còn hiện nay, thơ tự do đã trở nên phổ biến, dòng thơ mở hơn, cách tổ chức bài thơ linh hoạt hơn.

Có rất nhiều thay đổi đang diễn ra và tôi cho rằng diện mạo mới của thơ Việt Nam thực sự rất thú vị. Tôi cảm thấy hào hứng khi được tiếp tục dịch và đồng hành cùng sự vận động ấy.

 

Nhà thơ Bruce Weigl chia sẻ với phóng viên Báo và PTTH Quảng Ninh.

 

* Nếu được gửi một thông điệp tới những nhà thơ trẻ, những bạn trẻ Việt Nam yêu thơ hôm nay, ông muốn nói điều gì?

– Tôi muốn nói rằng không có cách nào đẹp hơn để tôn vinh văn hóa và đất nước mình bằng nghệ thuật và lao động nghiêm cẩn của thi ca. Thơ là một hành trình đầy đòi hỏi và miệt mài.

Nhưng bạn theo đuổi thơ không phải vì lý do ích kỷ mà để sẻ chia, để giúp người khác nhận ra vẻ đẹp mà với tư cách một nhà thơ, bạn nhìn thấy trong thế giới này. Đó là một đời sống tuyệt vời của đọc, viết và trao truyền.

Tôi luôn khuyến khích những người trẻ hãy kiên trì bền bỉ với con đường mình chọn, bởi thi ca cần rất nhiều năm tháng để trưởng thành. Khi còn trẻ, một nhà thơ nổi tiếng đã đến trường đại học của tôi và nói rằng “phải mất 20 năm để thực sự trở thành một nhà thơ”. Khi ấy tôi nghĩ: “Ồ, chắc mình sẽ không mất đến 20 năm đâu”. Nhưng rồi tôi nhận ra ông ấy đã đúng!

* Xin cảm ơn nhà thơ, dịch giả Bruce Weigl đã dành thời gian chia sẻ với Báo và PTTH Quảng Ninh rất nhiều điều thú vị. Xin được hẹn gặp lại ông vào một ngày gần nhất để có những chuyến đi và hiểu nhiều hơn về Quảng Ninh!

Hoàng Lâm (Thực hiện)

Nguồn: Báo Quảng Ninh

Bài viết liên quan

Xem thêm
Quầng sáng tinh thần trong truyện ngắn Nguyễn Trường
Bài đăng Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 216, ngày 9/7/2026
Xem thêm
Theo năm tháng đi...
Bài viết “Theo năm tháng đi” của nhà thơ Hoàng Quý sẽ giúp bạn đọc hiểu thêm vê miền thơ lấp lánh của Hà Đình Cẩn, mảng sáng tác phong phú nhưng chưa thật nhiều người biết.
Xem thêm
Cầm súng, cầm bút bằng niềm tin, lẽ sống
Nhân chuyến công tác tại Hà Nội, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng, nguyên Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 (hiện sống tại phường Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) dành cho chúng tôi cuộc trò chuyện thú vị. Suốt hơn hai giờ đồng hồ, những câu chuyện của một thời lửa đạn cứ thế ùa về không dứt trong giọng kể trầm ấm và trí nhớ mẫn tiệp của một người lính dày dạn trận mạc đã ở độ tuổi xưa nay hiếm.
Xem thêm
Cố Thượng tướng Phùng Thế Tài được đặt tên đường ở TP. Nha Trang và TP. Lào Cai
Năm 2022, tại TP. Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa), TP. Lào Cai (tỉnh Lào Cai) và một số khu đô thị ở các tỉnh thành khác, các đường phố giao nhau được đặt tên theo một số tướng lĩnh quân đội, trong đó có cố Thượng tướng Phùng Thế Tài.
Xem thêm
Nhạc sư Vĩnh Bảo và hành trình trao truyền gia tài văn hóa Việt
Việc am tường cả âm nhạc Tây phương cùng kinh nghiệm đóng đàn thực tế hơn 60 năm qua đã giúp ông tạo nên những nhạc cụ thương hiệu Vĩnh Bảo độc nhất vô nhị. Mỗi cây đàn do ông làm ra, từ khâu chọn thớ gỗ, xử lý hợp âm đến việc đục khe “thở” đều được tính toán tỉ mỉ như một công trình kiến trúc âm thanh. Chính cố Giáo sư Trần Văn Khê trong hồi ký từng thán phục rằng cây đàn tranh bằng gỗ Kiri mà Nhạc sư Vĩnh Bảo đóng cho ông có âm thanh tuyệt hảo đến mức quá “thượng thừa” mà các chuyên gia âm thanh học người Pháp cũng phải trầm trồ, thán phục.
Xem thêm
Lại Văn Long - Ngòi bút lửa!
Những tháng ngày lăn lộn trong nghề báo nhiều nguy hiểm, nhà văn Lại Văn Long đã trải qua đủ cung bậc cảm xúc. Nhưng anh vẫn yêu nghề mãnh liệt và ước mơ sau này anh sẽ có những cuốn sách, những thước phim phản ánh được cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm rất cam go, nguy hiểm nhưng đầy tính nhân văn của lực lượng Công an Nhân dân. Sau khi tốt nghiệp lớp bồi dưỡng nghiệp vụ 6 tháng ở Đại học An ninh; anh càng tin rằng mình sẽ hoàn thành được ước mơ đó!
Xem thêm
Nhà giáo, nhà thơ Huệ Triệu
Đội ngũ các nhà thơ xuất thân từ nhà giáo từ khắp mọi miền quê đất nước khá đông đảo. Riêng ở Sài Gòn, có thể kể đến các chị: Đặng Nguyệt Anh, Tôn Nữ Thu Thuỷ, Nguyễn Thị Thanh Long, Huệ Triệu… Nét nổi bật trong thơ của các nhà sư phạm phái đẹp là sự đằm sâu, với nhiều tìm tòi mới mẻ, song vẫn giữ được sự điềm đạm, và đầy trách nhiệm công dân.
Xem thêm
Nhà văn Xuân Phượng - Một bản lĩnh “chân cứng đá mềm” trong sáng tạo và trong cuộc đời
Có những cuộc đời mà khi soi vào, chúng ta không chỉ thấy chiều dài của thời gian, mà còn thấy cả chiều sâu của lịch sử, chiều rộng của một tâm hồn và tình yêu vô bờ bến của một trái tim.
Xem thêm
Người đi vắng của văn chương
LTS: Nguyễn Bình Phương là gương mặt đặc biệt của văn chương đương đại, lặng lẽ, kiệm lời, gần như luôn đứng ngoài những ồn ào của văn đàn. Trong cái nhìn của nhà văn Phạm Ngọc Tiến, ông là “người đi vắng” ở các đám đông, nhưng lại hiện diện bền bỉ và khác biệt trong từng trang viết.
Xem thêm
Phạm Thiên Thư: Người đi tìm bụi đỏ đã hóa thân vào “cát bụi” phận người
Chiều tối, lúc 18h24 phút, Báo Giác Ngộ Online - Cơ quan ngôn luận của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh đưa tin về việc “ra đi”, xa lìa cõi tạm của thi sĩ Phạm Thiên Thư với một dòng tin ngắn nhưng trang trọng: “Phạm Thiên Thư tác giả của nhiều thi phẩm nổi tiếng, người “thi hóa kinh Phật” vừa từ trần lúc 6h15 phút, chiều nay, 7/5/2026”.
Xem thêm
Nguyễn Khoa Điềm - Người mang “Đất Nước” vào lòng thi ca
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà thơ nào lại hòa quyện sâu sắc giữa tâm hồn nghệ sĩ và trách nhiệm công dân, giữa khát vọng cách mạng và nỗi niềm truyền thống như Nguyễn Khoa Điềm. Ông không chỉ là một chính khách từng giữ những trọng trách cao của đất nước, mà trước hết và hơn hết, ông là một thi sĩ - người đã khắc họa hình tượng Đất Nước bằng một thứ ngôn ngữ vừa bình dị, gần gũi, vừa thiêng liêng, sâu lắng, đi vào tâm thức của nhiều thế hệ.
Xem thêm
Nguyễn Huy Bang: Một đời làm thầy, làm thợ… làm tớ văn chương
Trong làng văn Việt Nam hôm nay, có những người viết lên từ những gì xa xôi, mộng ảo; nhưng cũng có những người chỉ biết cặm cụi viết bằng xương máu, bằng mồ hôi và cả những vui buồn của một đời lính, một đời làm báo, một đời “làm bà đỡ” cho những tác phẩm của người khác. Đại tá, nhà văn Nguyễn Huy Bang thuộc về dạng thứ hai.
Xem thêm
Đại tá Nguyễn Văn Hồng: Gìn giữ ký ức chiến tranh trên từng trang viết
Dù đã hơn 80 tuổi, 26 năm “gác súng, cầm bút”, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng vẫn luôn tràn đầy năng lượng, lạc quan, yêu đời, khát khao được dùng ngòi bút của mình để gìn giữ ký ức, nhắc nhớ thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình.
Xem thêm
Lâm Bình: Người đàn bà đi nhặt cát giữa biển đời
Lâm Bình từng là người lính văn công Quân Giải phóng, sau đó là nghệ sĩ kịch nói, nữ sĩ Lâm Bình bước vào thi đàn với một tâm hồn đa cảm và đầy khát khao.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - Màu hoa đỏ đã mây bay
Bỗng buổi sáng mùa xuân nay mùng tám tháng tư trĩu nặng dù tiết trời trong mát, cao xanh. Hai vầng hoa đại Nhà số 4 thong thả cánh hoa đậu xuống thềm gạch cổ. Một ngày rất bận rộn khi tôi được giao tiếp đoàn kiểm tra giám sát của Tổng cục Chính trị với Đảng ủy Văn nghệ Quân đội. Sáu Chi bộ với khối lượng công việc khá lớn đan xen nhau thực hiện việc giám sát vốn đòi hỏi phải rất tỉ mỉ, chặt chẽ, đúng quy trình, từng bước một.
Xem thêm
Vân Thanh – Người đầu tiên viết nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt
Ở tuổi 93, nhà văn Vân Thanh là người cuối cùng của thế hệ các nhà văn tiền bối của Văn học thiếu nhi Việt Nam đã từ giã chúng ta để về nơi an nghỉ cuối cùng.Nhớ sao những ngày xưa ấy, một thời vàng son, cả một lớp các nhà văn sáng tác cho trẻ em nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Giỏi, Võ Quảng, Phạm Hổ, Nguyễn Kiên, Định Hải, Phong Thu, Trần Hoài Dương, Hà Ân, Vũ Hùng, Xuân Quỳnh… Tất cả đều sung sức, đều vui tươi, yêu trẻ em và viết cho các em.
Xem thêm
Trịnh Công Sơn - Tiếng hát không cũ trước chiến tranh
Nhân 25 năm ngày Trịnh Công Sơn rời cõi tạm, nhìn lại di sản của ông không chỉ là những ca khúc đi cùng năm tháng, mà còn là một tiếng nói nhân văn chưa bao giờ cũ trước những cuộc chiến vẫn đang hiện hữu.
Xem thêm