TIN TỨC

Người thương binh “tàn nhưng không phế”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-08-16 07:11:21
mail facebook google pos stwis
2590 lượt xem

CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

ĐỖ HOÀNG TIỄN

Trần Văn Đừng, thương binh 1/4, trong cuộc chiến tranh chống bọn Pôn Pốt xâm lược biên giới phía Tây nam nước ta năm 1977, anh sinh năm 1951. Hiện sống tại ấp Chòi Mòi, ấp nằm cập biên giới Campuchia của xã Thông Bình, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp. Là thương binh cụt 2 chân, nhưng không ỷ lại hay trông chờ vào nhà nước, luôn tự lực, với đôi tay còn lại, anh cố gắng trụ vững, khẳng định mình trong cuộc sống, tự làm nhiều nghề nuôi vợ con, để xứng đáng với lời dạy của Bác Hồ thương binh “Tàn nhưng không phế”.

Theo bà con nơi đây nói: Anh Trần Văn Đừng là người thương binh mẫu mực trong cuộc sống và đạo đức. Vào năm 1978, trong một lần dò gở mìn của bọn Pôn Pốt gài lại, anh bị thương do nổ trái nát hết đôi chân và các bác sĩ phải cưa đôi chân của anh để cứu người, lúc này anh 26 tuổi. Trở về đời thường với một thân hình không lành lặn, bằng đôi tay và nghị lực, Trần Văn Đừng tạo dựng cuộc sống, nuôi vợ, nuôi con, nay có một cơ ngơi khá tốt, ổn định cuộc sống. Sự đứng vững trong cuộc sống chỉ bằng đôi tay còn lại đã là sự phi thường, anh còn là tấm gương cho thanh niên và các thương, bệnh bênh trong vùng phấn đấu vươn lên.

Anh Đừng đang sửa máy.

Vào một buổi sáng, tôi chạy xe cập theo con kênh Tân Thành - Lò Gạch để tới nhà gặp anh, thấy anh loay hoay bưng bê sắp xếp đồ đạc, 2 tay nắm 2 cái ghế đi thoăn thoắt, gọn gàng, tôi không tưởng tượng nổi một con người 71 tuổi mà thao tác đi lại nhanh nhẹ, gọn lẹ như người bình thường, tôi nhìn anh vừa thương, vừa kính nể. Tôi chào anh, anh cười hiền, thấy anh khỏe mạnh và cường tráng, giá như anh còn đôi chân thì người anh cao to và đẹp trai lắm đây. Tôi hỏi anh về thời trai trẻ của mình, thời anh cùng đồng đội cầm súng chống bọn diệt chủng khát máu Pôn Pốt - Iêng Xari năm 1977-1978 tràn qua biên giới, xâm lược nước ta. Chúng giết sạch, đốt sạch, phá sạch xóm làng, quê hương nước ta, trong đó có xã Tân Thành, huyện Hồng Ngự của anh, biến nhiều làng quê của mình vốn yên bình trở nên tan hoang hết.

Anh trầm ngâm, uống một ngụm trà, đưa mắt nhìn xa xăm, như ôm cả cánh đồng lúa xanh ngát trước cửa nhà vào trong mắt mình, rồi chậm rãi nói với tôi: “Có gì đâu để nói, mình bị thương cụt mất 2 chân, đau khổ lắm, nhưng còn sống, còn có vợ, có con là hạnh phúc nhất rồi. Còn những đồng đội của mình có còn đâu, họ hy sinh, chỉ để lại di ảnh trên bàn thờ. Sự mất mát của đồng chí, đồng đội là lớn lao, tôi có là gì so với họ, nên kể làm gì, viết làm gì, mình chỉ là phần nhỏ nhoi của sự hy sinh đó. Nếu có kể là kể về những đồng đội của tôi, sự hy sinh của họ, để có được Tổ quốc tươi đẹp như ngày hôm nay”. Chúng tôi viết về anh và qua anh để giáo dục thế hệ trẻ biết quý trọng lớp người đi trước, đã hy sinh xương máu của mình để có cuộc sống tươi đẹp như ngày hôm nay, biết yêu quý nền độc lập này, thương yêu Tổ quốc mình.

Tên anh do cha mẹ đặt là Đừng, Trần Văn Đừng, con thứ 3 trong một gia đình 13 anh em. Anh cười và giải thích cái tên mình: “Cha, mẹ đặt cho tôi tên Đừng, với ước nguyện khi con lớn lên, con Đừng làm chuyện sai trái và Đừng từ chối những việc làm đúng, sống phải trung thực, đừng luồn cúi”. Anh giải thích cái tên của mình mộc mạc, do cha mẹ đặt cho như thế. Mà đúng vây, tôi nghiệm lại từ nhỏ, cho đến tận bây giờ, tính tôi thẳng lắm, thấy chuyện sai, chuyện không đúng tôi bất bình không để yên, không thể chịu nổi, phải chống lại sự sai trái.

Quê tôi vùng biên giới giáp với Campuchia, hai bên lâu nay bà con qua lại làm ăn bình thường. Nhưng từ khi 2 đất nước được giải phóng 1975, bọn Pôn Pốt trở mặt, thường xuyên gây hấn biên giới của mình, làm khó nhân dân khi qua lại biên giới làm ăn. Tôi bất bình không thể chịu nổi, tại sao bọn Miên này lại ngang ngược hiếp đáp dân mình đến thế! Năm 1976, tôi quyết định xin vô du kích xã, mong góp chút công sức của mình cho dân cho nước. Vào năm 1978, chúng ngang nhiên xua quân qua Việt Nam ấp Chòi Mòi, xã Tân Thành, huyện Hồng Ngự cướp bóc, giết chóc, đốt nhà, đốt ruộng lúa… Lúc này tôi là ấp đội phó, có trong tay chừng 10 quân, với vài khẩu tiểu liên AR15 của chế độ cũ để lại, tôi nhanh chóng dàn trận đánh bọn Miên đen này và chúng tháo chạy sâu về bên kia biên giới. Trận đánh này làm cho bọn chúng chựng lại, ôm đầu máu chạy về, tưởng bọn này sợ mình, không dám bò qua, nhưng không ngờ bọn này hung hăn, tập trung nhiều quân hơn, cứ đến tối nó bò qua đánh lén ta. Do nắm rõ quy luật đường đi nước bước của bọn này, nên chúng tôi không bị bất ngờ, chủ động tiến công, làm cho chúng ôm đầu máu chạy về. Sau vài ngày tự lực chiến đấu, lực lượng chủ lực của mình tới chi diện. Nhiều ngày sau đó bọn Pôn Pốt bò qua đánh mình tiếp, tôi phối hợp với bộ đội, lôi quân ra chiến đấu... cứ như thế kéo dài cỡ tháng trời. Bọn Pôn Pốt thấy không kham nổi, nó đành rút sâu vô lãnh thổ của chúng và mở đường tấn công ta sang hướng khác.

Tình hình chiến sự tại xã nhà tạm dịu xuống, chúng tôi đi dọn dẹp chiến trường, có thể nói công tác này cam go như trận chiến, vì chúng tôi sống gần bọn Miên này lâu rồi và biết tính nết của nó: Chúng ăn không được thì phá cho hôi, nên khi nó rút đi, nó gài lại nhiều mìn, lựu đạn. Tôi và đồng đội phải làm công việc rà tháo hết mìn của bọn chúng để lại, không may tôi đạp phải trái, tôi bị thương nát hết đôi chân, đưa về tuyến sau trị bệnh. Bác sĩ không còn cách nào khác, phải cưa đôi chân lên khỏi gối để cứu lấy người và tôi trở thành thương binh, thành người tàn phế từ đó. Lúc này tôi vừa tròn 26 tuổi, tuổi tràn đầy sức sống, còn là người cầm súng tung hoành, giờ thành người tàn phế, phải đi bằng 2 tay. Trời đất như đen ngòm trước mặt tôi, tôi căm thù bọn Pôn Pốt.  Lúc này trong tôi nhiều tâm trạng lắm: Mình nên chết đi cho rảnh đời, sống làm gì thân tàn phế như vầy, còn làm được gì cho gia đình và xã hội đây, đi đứng ra sao khi đôi chân không còn… Bao suy nghỉ cứ ùa về làm cho mình muốn điên lên. Nhìn vợ với 2 con thơ, một mái nhà không lành lặn, cơm ăn thiếu trước hụt sau, nhìn đôi chân tàn phế, tôi như người không hồn, lẩn thẩn, lơ ngơ mất phương hướng. Nhiều ngày đêm với một tâm trạng u tối, tôi không biết phải làm như thế nào đây?!

 Vợ tôi hiểu được tâm tư của tôi và luôn động viên: Anh còn sống về với em, với con như thế này là hạnh phúc cho nhà mình, chứ bao người đi chiến đấu cùng anh, hy sinh có về được đâu. Anh cứ sống cho con còn có cha, em còn có anh, cuộc sống của mình từ từ tính, anh đừng quá lo, anh cứ ở nhà coi con, em làm thay anh để nuôi gia đình. Nghe vợ động viên, mặt khác tôi ngẫm câu nói của Bác Hồ “Thương binh tàn những không phế”, nên tạm yên tâm và chịu đựng nỗi đau, vượt qua khó khăn này. Vợ tôi là người đảm đang, lao động không thua đàn ông, chuyện gì cũng làm, nhờ đó mà gia đình tôi đứng vững được. Nhờ vai trò trụ cột của vợ tôi, ba, mẹ và đồng đội động viên, dần dần tôi quên nỗi đau thân xác, vươn lên và tự nhủ: Mình đã cống hiến đời trai cho Tổ quốc, tôi phải quyết đứng lên bằng cách, xua đi sự khiếm khuyết của thân thể, và cố tập cho mình thích nghi với một thân thể không có đôi chân. Không để vợ một mình làm lụng vất vả mãi, vào mùa nước tôi bơi xuồng giăng câu, giăng lưới bắt cá về bán mua gạo ăn. Mùa khô tôi lên bờ cuốc đất trồng rẫy, tôi vô đồng đắp bờ làm ruộng, tôi lặng xuống nước dỡ chà bắt cá, kiếm tiền nuôi vợ con... Lúc đầu tôi làm không quen, những động tác của đôi tay sao nó vụng về, do không có đôi chân nên những nhát cuốc bổ xuống đất như nhấc bổng con người mình lên… Làm cái gì cũng khó và chậm. Thấy tôi buồn, vợ tôi động viên, chia sẻ, tôi lại cố gắng vượt qua, tôi quyết chí làm cho được những công việc cần làm bằng đôi tay còn lại. Trời đất không phụ lòng người, những động tác của đôi tay dần dần thành thạo. Mọi thứ đâu vào đó, tôi lao động tốt như người có đủ tay chân. Mọi người lúc đầu nhìn tôi với con mắt hoài nghi, rồi đến sự nể phục, khen tôi giỏi và vượt khó. Từ sự quyết tâm của bản thân, sự chung tay giúp sức động viên của vợ, cha mẹ, anh em và bà con chung quanh, dần tôi thoát khỏi sự tự ti, mặc cảm và mạnh dạn làm tất cả những công việc có thể làm được để có tiền nuôi vợ, nuôi con. Năm tháng qua tôi sử dụng “thân hình mới” của mình vào cuộc mưu sinh khá tốt, cộng với vợ tôi là người biết tích cóp, biết chăm lo gia đình và con cái, nên gia cảnh của tôi dần ổn định, cất được nhà khá kiên cố, mua thêm ít công ruộng. Hiện tôi có tổng cộng hơn 17 công đất, năm làm 2 vụ lúa, cộng với tiền thương binh và lương cấp dưỡng của vợ tôi cũng tạm đủ sống. Duy có điều khi trái gió trở trời đôi chân cụt và cả người của tôi đau ê ẩm, nay tuổi cao sự đau đó càng tăng lên.

Hiện nay hai con trai, một gái của tôi đều yên bề gia thất, có cuộc sống tương đối ổn định, tuy không giàu hơn ai nhưng con cháu quây quần và luôn rộn tiếng cười là tôi mừng, mãn nguyện rồi.

Thân tôi tuy không lành lặn, nhưng tôi còn sống, có được vợ con, có cháu quây quần, chỉ thương cho đồng đội tôi chiến đấu hy sinh, giờ trở thành các bụi, họ có nhìn được độc lập này đâu. Ngày ngày tôi luôn nguyện sống sao cho xứng đáng với những đồng đội của mình nằm xuống để cho chúng tôi có được nền độc lập này, để cho chúng tôi có một cuộc sống tự do, hạnh phúc hôm nay. Đến giờ tôi không mong gì hơn, chỉ mong cho có sức khỏe để sống cùng con cháu, mong cho nước mình độc lập trường tồn và giàu có hơn lên.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm
Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị
Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Xem thêm
Tết này các anh đã về mái nhà chung
Sau gần 60 năm thân phận còn chìm trong bóng tối lịch sử vì những đặc thù khốc liệt của chiến trường đô thị, 49 chiến sĩ Biệt động Sài Gòn quả cảm năm xưa nay đã chính thức được công nhận là Liệt sĩ.
Xem thêm
Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời
65 bài thơ ứng với 65 mùa xuân đời người, mang dáng dấp của một sự sắp đặt có chủ ý giữa nghệ thuật và đời sống. Tập thơ “Đồng vọng” của Ngô Hoài Chung vì thế vừa là một ấn phẩm kỉ niệm, vừa là một hành trình tinh thần được chưng cất cẩn trọng từ những trải nghiệm dày dặn của một đời người.
Xem thêm
Thèm sách - Bút ký của nhà thơ Thanh Thảo
Những gì mỗi quyển sách đem lại cho ta, chính ta cũng không biết hết, nhớ hết. Nhưng chắc chắn là có. Và cái có ấy, cái được ấy, sẽ còn lại trong ta cho đến cuối cuộc đời.
Xem thêm
Xuân tha hương..
Bao năm sống nơi xứ người, tóc đã thay màu, đôi chân mòn mõi theo từng bước đường lập nghiệp, trái tim kẻ tha hương vẫn quay quắt hướng về mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Giữa nhịp sống ồn ã của trời Tây, nhiều lúc tôi thấy lòng mình chùng xuống, như ai đó vừa gọi khẽ tên mình từ bờ sông tuổi thơ xa lắc.
Xem thêm
Vó ngựa vùng quê - Bút ký Nguyễn Sự
Cù lao Thới Sơn, phường Thới Sơn (tỉnh Đồng Tháp) được khai thác du lịch từ năm 1988. Do đặc thù vùng sông nước, miệt vườn cho nên doanh nghiệp đã liên kết hộ nhà vườn để đầu tư khai thác du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng với nhiều sản phẩm đặc trưng. Đặc biệt, du khách đến đây được đi xe ngựa len lỏi vào các tuyến đường nông thôn, vườn cây ăn trái.
Xem thêm
Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch
Mùa đông về bất chợt, từng làn gió bấc mang theo hơi lạnh luồn vào các hang cùng ngõ hẻm của từng xóm phố. Bầu trời hôm nay phủ kín một màu xám bạc, những chiếc lá vàng cuối cùng còn sót lại trên cành cây đang đung đưa lần cuối trước khi rơi xuống đất, để chờ một mùa mới hồi sinh.
Xem thêm
Những người yêu rùa biển
Bài đăng Văn nghệ TPHCM số Xuân Bính Ngọ 2026
Xem thêm
Nhớ quê trong gió bấc mưa phùn - Tạp bút Nguyễn Gia Long
Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Bắc nước ta, nơi có những tháng mùa đông đi qua đầy khắc nghiệt, với mưa phùn, gió bấc và cái lạnh tái tê như muốn cắt da thịt, nên tuổi thơ tôi có biết bao nhiêu những kỷ niệm với mùa đông và miền quê thân thương ấy. Đó là những buổi ra đồng nhổ mạ, cấy lúa cùng mẹ vào dịp cuối năm, mặc dù thời tiết lạnh căm căm. Đó là những buổi chiều lùa trâu ra đồng chăn thả, kệ cho những cơn gió hun hút tràn về. Hay như những hôm trời u ám với gió bấc, mưa phùn giăng đầy trời vậy mà mẹ vẫn bắt mấy anh chị em chúng tôi ra đồng để kiếm rau mang về nấu cám cho lợn ăn. Rồi nữa, có không ít những chiều đông rét mướt, tôi vẫn cùng những đứa trẻ cùng trang lứa trong xóm ra đồng be bờ tát mương, bắt cua, cá, tôm, ốc…, mang về cải thiện cho bữa cơm sinh hoạt gia đình thêm phần tươm tất.
Xem thêm