TIN TỨC

Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-08-22 15:38:20
mail facebook google pos stwis
316 lượt xem

NGUYỄN VIỆT CHIẾN

Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.

 

Tiểu thuyết Thép dưới cỏ. Ảnh nguồn Tạp Chí Người Hà Nội

 

Trong lời thưa của tác giả ở đầu cuốn sách, nhà thơ Hữu Thỉnh nhấn mạnh: “Gần 60 năm qua, kể từ Chiến dịch Tà Mây - Làng Vây, Binh chủng Tăng - Thiết giáp đã làm nên bao nhiêu chiến công hiển hách, tiêu biểu là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Gần 60 năm ấy, biết bao sự kiện đã xảy ra, kéo theo rất nhiều thay đổi về tầm nhìn, về thị hiếu, về cách cảm, cách nghĩ. Viết về Làng Vây phải thỏa mãn những nhu cầu của ngày hôm nay. Người ta không chỉ muốn biết những bí mật của Làng Vây mà muốn giải mã về nó.

Người ta không chỉ bằng lòng về một sự kiện mà còn muốn biết số phận những con người làm nên sự kiện đó sau chiến tranh ra sao. Không còn nhớ gần 60 năm trước, tôi đã viết những gì. Không một trang bản thảo nào của ngày ấy được giữ lại. Tôi bắt đầu bằng hai bàn tay trắng như các nhà văn vẫn thường làm. Trong cuốn “Lịch sử Binh chủng Tăng - Thiết giáp”, Quân đội nhân dân Việt Nam, Chiến dịch Tà Mây - Làng Vây chỉ được viết chưa đến năm trang đánh máy. Tôi xem đó là cái khung để tưởng tượng và hư cấu ra ngoài cái khung đó. Có một số nguyên mẫu được văn học hóa để làm tô đậm dấu ấn lịch sử, còn hầu hết các sự kiện và nhân vật đều là sản phẩm của sáng tạo. “Thép dưới cỏ” viết về Làng Vây, nhưng nó là Làng Vây của văn học, không phải là bản sao của lịch sử. Tôi đã dốc vào đây tất cả tình cảm của tôi qua 13 năm sống và phục vụ trong Binh chủng Tăng - Thiết giáp và xem đây như sự trả một món nợ lớn đối với cái nôi đã nuôi dưỡng tôi trưởng thành”.

Chính vì thế, “Thép dưới cỏ” không đơn thuần là một cuốn tiểu thuyết chiến tranh theo nghĩa kể lại một trận đánh. Điều đáng chú ý hơn là Hữu Thỉnh đặt trong câu chuyện Làng Vây những câu hỏi lớn: điều gì làm nên sức mạnh của người lính Việt Nam, giúp một binh chủng còn rất trẻ vượt qua muôn vàn gian khó để làm nên chiến thắng; và sau chiến tranh, những con người ấy mang theo những ký ức, vết thương, phẩm giá và niềm tin ra sao? Bởi vậy, chủ đề tư tưởng nổi bật của Thép dưới cỏ là sự tôn vinh người lính trong chiến tranh hiện đại. Hữu Thỉnh không xây dựng họ như những biểu tượng chung chung mà đặt vào những tình huống cụ thể, nơi phẩm chất được thử thách và khẳng định bằng hành động.

Tác phẩm cho thấy chiến thắng Làng Vây không phải kết quả của cảm hứng nhất thời mà là thành quả của trí tuệ tập thể. Những cuộc họp sở chỉ huy, những tranh luận giữa công binh, pháo binh, xe tăng, tham mưu, hậu cần, địa phương, những cân nhắc về hướng tấn công, phương án vượt sông Sê Pôn, cách sử dụng xe tăng bơi, cách đánh bóc vỏ, cách chống địch tái chiếm... tất cả cho thấy chiến tranh không chỉ là thử thách của lòng dũng cảm mà còn là thử thách của trí tuệ tổ chức và năng lực chỉ huy. Cách tiếp cận ấy khiến chiến thắng trong tác phẩm có cơ sở hiện thực, tránh được sự đơn giản hóa hay huyền thoại hóa.

Tuy vậy, “Thép dưới cỏ” không khô cứng như một bản tổng kết chiến dịch. Sức sống của tác phẩm nằm ở chỗ Hữu Thỉnh luôn kéo lịch sử về với số phận con người. Sau những quyết định quân sự là những người lính thiếu ngủ, sốt rét, nhớ nhà, nhớ người yêu, viết nhật ký, đọc sách, làm thơ, đùa vui giữa gian khổ, thèm một bát rau giá hay một chén nước gạo rang. Họ mang theo gia đình, quê hương và những ước mơ rất đời thường vào chiến trường. Chính điều ấy làm cho tác phẩm có hơi ấm đời sống. Người lính không bị hóa thành công cụ chiến đấu. Họ vẫn là những con người đang sống trọn vẹn, yêu thương trọn vẹn và chiến đấu trọn vẹn.

Dù viết tiểu thuyết nhưng Hữu Thỉnh vẫn giữ được chất thơ trong văn xuôi. Chất thơ không nằm ở việc làm mềm chiến tranh, mà nằm ở cách ông nhìn sự vật. Một hang đá sở chỉ huy có thể gợi ý nghĩ “lịch sử bắt đầu với sự hoang dã”. Một đội hình xe tăng lao qua khói lửa có thể được cảm như “con rồng đất”. Một cảnh hành quân mưa rừng, một bữa chia tay, một tiếng gọi mẹ giữa trận địa tan hoang, một đàn chim bay lên cuối sách đều mang âm hưởng trữ tình. Văn xuôi của Hữu Thỉnh vì thế vừa có tính kể, vừa có tính gợi.

 

Tiểu thuyết Thép dưới cỏ. Ảnh nguồn Tạp Chí Người Hà Nội


Một thành công khác là giọng điệu và ngôn ngữ. “Thép dưới cỏ” mang âm hưởng sử thi nhưng không lên gân. Tác phẩm ca ngợi chiến thắng nhưng không che giấu mất mát; tôn vinh người lính nhưng vẫn giữ nguyên vẻ bình dị của họ. Ngôn ngữ trong “Thép dưới cỏ” đan xen giữa ngôn ngữ quân sự và ngôn ngữ đời thường. Khi viết về hội nghị tác chiến, ngôn ngữ rành mạch, nhiều thuật ngữ, nhiều phương án, nhiều mệnh lệnh. Khi viết về đời sống đồng đội, ngôn ngữ trở nên tự nhiên, hóm hỉnh, thô ráp mà thân mật. Những lời đối thoại giữa bạn bè làm cho không khí tiểu thuyết bớt trang nghiêm đơn điệu. Hữu Thỉnh hiểu rằng người lính không chỉ sống bằng khẩu hiệu. Họ sống bằng tiếng cười, bằng tình bạn, bằng sự bông đùa, bằng khả năng làm nhẹ cái khốc liệt.

Một điểm đáng chú ý của “Thép dưới cỏ” là kết cấu. Tác phẩm không đi theo một đường thẳng đơn giản từ chuẩn bị đến chiến đấu rồi kết thúc. Nó đan xen nhiều lớp với cách kết cấu làm cho Làng Vây không chỉ là một trận đánh mà là một trường ký ức. Mỗi nhân vật mang theo một đường đời riêng, một quá khứ riêng, một vết thương riêng. Nhờ đó, lịch sử được nhìn như tổng hòa của nhiều phận người.

Phong cách xây dựng nhân vật của Hữu Thỉnh thiên về hành động và tình huống hơn là những đoạn phân tích tâm lý dài. Nhân vật bộc lộ qua cách xử lý công việc, đối diện hiểm nguy, chăm sóc đồng đội, nhớ gia đình hay gìn giữ phẩm giá trong hoàn cảnh khốc liệt. Điều này phù hợp với không khí quân đội và chiến tranh, nơi nhân cách được đo bằng hành động. Tuy vậy, nhà văn vẫn dành những khoảng lặng giàu chất trữ tình để khắc họa thế giới nội tâm: nỗi nhớ mẹ, nhớ người yêu, nỗi đau trước sự hy sinh của đồng đội hay niềm xúc động khi nghe thơ mình qua sóng phát thanh. Chính những chi tiết ấy giúp nhân vật giữ được vẻ chân thực, không trở thành những tượng đài khô cứng.

Tác phẩm cũng làm nổi bật mối quan hệ quân dân như một nguồn sức mạnh của chiến thắng. Đồng bào Vân Kiều, nhân dân Hướng Hóa, những cô gái chèo thuyền đuôi én, những người dẫn đường, giao liên, dân công, y tá, anh nuôi... đều góp phần vào thành công của chiến dịch. Hữu Thỉnh nhìn chiến tranh không chỉ từ góc độ quân sự mà còn từ góc độ xã hội. Một trận đánh không chỉ do người lính ngoài mặt trận tạo nên, mà còn do những con người thầm lặng phía sau như dân công, giao liên, y tá, anh nuôi, công binh, địa phương, những người mẹ, người vợ, người yêu ở hậu phương. Vì thế, chiến thắng trong “Thép dưới cỏ” mang đậm ý nghĩa cộng đồng và sức mạnh của khối đại đoàn kết.

Một chủ đề quan trọng khác là ký ức chiến tranh sau chiến tranh. Phần cuối tác phẩm mở rộng không gian và thời gian, đưa câu chuyện Làng Vây vượt ra khỏi khoảnh khắc trận đánh để nhìn vào những dư âm kéo dài nhiều thập kỷ. Những người lính trở về đời thường, gặp lại nhau, kể lại chuyện cũ, đối diện với ký ức và cả những người từng ở bên kia chiến tuyến. Chi tiết cuộc gặp với Jean Pao - nguyên cố vấn tại Làng Vây cho thấy Hữu Thỉnh không xem lịch sử là điều đã khép lại. Làng Vây tiếp tục sống trong ký ức của người thắng, người thua, người chứng kiến, người viết và các thế hệ sau. Có kẻ không thoát khỏi thù hận, có người tìm đến sự thật, có người giải mã quá khứ bằng tinh thần nhân văn...

Về nghệ thuật, thành công nổi bật của cuốn tiểu thuyết là sự kết hợp hài hòa giữa tư liệu lịch sử và hư cấu văn học. Tác giả ý thức rõ mình không sao chép lịch sử mà sáng tạo trên nền tảng lịch sử. Tư liệu đem lại độ tin cậy và không khí của một chiến dịch có thật; hư cấu tạo nên số phận nhân vật, chiều sâu tâm lý và sức sống của tác phẩm. Đây là hướng đi phù hợp với tiểu thuyết lịch sử - chiến tranh: lịch sử là cái khung, nhưng văn học phải tạo ra linh hồn.

So với nhiều tiểu thuyết Việt Nam đương đại viết về chiến tranh và hậu chiến, “Thép dưới cỏ” có vị trí khá riêng. Tác phẩm tập trung phục dựng một chiến dịch lịch sử cụ thể là Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp. Hữu Thỉnh dành nhiều trang viết cho công tác chuẩn bị, tổ chức, hiệp đồng binh chủng và phẩm chất của người lính, nhưng không dừng ở việc ca ngợi chiến công. Ông vẫn đặt trong chiến thắng những câu hỏi về số phận, đạo đức, tình đồng đội và ký ức hậu chiến. Bởi vậy, tác phẩm vừa mang âm hưởng sử thi, vừa có chiều sâu nhân bản.

Nhìn tổng thể, “Thép dưới cỏ” là một tiểu thuyết chiến tranh giàu ý nghĩa, khẳng định sức mạnh của con người Việt Nam trong chiến tranh hiện đại qua lòng yêu nước, trí tuệ tập thể, tình đồng đội, quan hệ quân dân và niềm tin vào chính nghĩa. Về nghệ thuật, cuốn sách là sự hòa quyện giữa tư liệu và hư cấu, giữa chất sử thi và đời thường, giữa văn xuôi quân sự với cảm quan thơ. Hữu Thỉnh đã đem vào cuốn tiểu thuyết đầu tay kinh nghiệm của một người lính, sự từng trải của một nhà văn và tâm hồn của một nhà thơ. Ở tuổi 85, ông vẫn cho thấy sức sáng tạo bền bỉ và một tình cảm sâu nặng dành cho đồng đội của mình.

N.V.C

Nguồn: Tạp Chí Người Hà Nội

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm