TIN TỨC

Mảnh trăng tinh tấn hàng cau trổ buồng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-01-27 07:06:01
mail facebook google pos stwis
1461 lượt xem

VÕ THỊ NHƯ MAI

(Cảm nhận về tập thơ SỰ MẤT NGỦ CỦA LỬA, tác giả Nguyễn Quang Thiều, NXB Lao Động ấn hành 1992, NXB HNV tái bản lần thứ nhất 2015)

Lời thưa:

Trong chuyến về Đà Lạt, tôi tình cờ tìm thấy cuốn sách Sự Mất Ngủ Của Lửa của Nguyễn Quang Thiều (NXB HNV). Khi ngồi trên máy bay, tôi đã lướt qua vài trang, nhưng chỉ là đọc mà chưa thực sự cảm nhận. Cuốn sách nhỏ nhắn, xinh xắn với 88 trang, trong đó có hơn 20 trang được gọi là “văn bản của hội họa”. Tập thơ gồm 24 bài và 11 khúc cảm, với giấy xốp ngà, không quá mỏng manh nhưng lại mang đến cảm giác thanh thoát, dễ chịu. Tôi để cuốn sách ở kệ đầu giường, không chỉ vì sự bắt mắt và trình bày đẹp đẽ, mà còn vì ý định sẽ đọc lại khi có dịp. Sự Mất Ngủ Của Lửa ra mắt lần đầu vào năm 1993, tái bản vào năm 2015, và giờ đã là 2024. Sau ngần ấy năm, cuốn sách vẫn giữ được vẻ đẹp đằm thắm, duyên dáng và không hề cũ đi, chứa đựng biết bao điều để chúng ta khám phá và ngưỡng mộ.


Nhà thơ, dịch giả Võ Thị Như Mai - Thạc sĩ văn học, giáo viên tại Tây Úc; Tân hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh.

Tôi tự nhận mình là một người yêu thơ, say đắm và mê mệt với từng câu chữ. Tôi không ngừng tìm đọc thơ bạn bè, thơ trên Facebook, đủ các thể loại, đến mức bạn bè tôi cũng phải lắc đầu ngao ngán. Chính vì thế, khi hôm nay tôi chọn một cuốn thơ của một tác giả “được nhiều người trong giới văn nghệ biết đến,” mong các bạn hiểu rằng đây chỉ là một dịp để tôi đắm chìm vào thế giới thơ ca mà thôi. Điều tôi yêu thích nhất trong tập thơ này chính là lối văn phong giản dị, sáng rõ nhưng lại chứa đựng những tầng ý ẩn dụ sâu sắc và chủ đề phong phú. Toàn bộ tập thơ được viết với phong cách nhất quán, vững chãi, thể hiện sự chắt lọc tinh tế và sự gắn bó xuyên suốt về tư tưởng.

Theo Matthew Arnold, nhà phê bình văn học người Anh thế kỷ 19, sứ mệnh cao cả của thơ ca là giải nghĩa cuộc sống, an ủi và duy trì bản thân mình trong đó cảm xúc chân thật là điều tối quan trọng, cũng như sự nghiêm túc của  chủ đề, nội dung và chất liệu của thơ ca kết hợp với phong cách và nhịp điệu. Ngày càng nhiều người sẽ nhận ra rằng, thơ ca là nơi chúng ta tìm đến để giải mã cuộc sống, an ủi và nâng đỡ chúng ta. Thơ ca có sức mạnh làm phong phú và nuôi dưỡng tâm hồn ta. Thơ ca là một hình thức giao tiếp nghệ thuật. Những bài thơ có thể sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu để truyền tải những ý tưởng rõ ràng, hoặc cũng có thể dùng ngôn ngữ phức tạp, mơ hồ để diễn đạt những khái niệm mơ hồ, thậm chí không chắc chắn. Giống như âm nhạc, thơ ca có khả năng độc đáo để làm đầy tâm trí người đọc bằng hình ảnh và lấp đầy trái tim bằng cảm xúc. “Bóng tối đêm dần sáng như một con mèo nhung khổng lồ bước đi uyển chuyển/ Cái đuôi mềm của nó chạm vào tôi làm tôi tỉnh giấc/ Tôi cựa mình như búp non mở lá/ Ý nghĩ mỉm cười trong vắt trước ban mai”; “Những con sóng hoàng hôn xõa tóc trắng chạy về/ Phút cuối cùng kêu lên đập ngực mình vào đá/ Những con sóng triệu năm điên cuồng, mệt mỏi/ Ta không sao cứu nổi/ Cái chết những con sóng buồn ngay ở trước chân ta

Với tư cách là một công cụ giao tiếp, thơ ca mở rộng ngôn ngữ, cho phép nhà thơ giao tiếp theo cách mà các hình thức viết khác, như cuộc trò chuyện thông thường hay thậm chí là những câu chuyện, không thể mang lại. Chúng ta có thể sử dụng hình ảnh và cảm giác để đạt được một cấp độ giao tiếp sâu sắc hơn, ngay cả khi bài thơ của chúng ta không chứa đựng ý nghĩa bí ẩn hay thông điệp ẩn giấu. Chúng ta không thể luôn biết được bài thơ của mình sẽ gây tiếng vang như thế nào với độc giả. Một câu thơ ngắn về cây cối có thể hiện lên trong tâm trí một độc giả như là một khu rừng hoang vắng, trong khi với người khác lại là một công viên ngoại ô. Trong một số trường hợp, chúng ta muốn làm nổi bật hình ảnh cụ thể, nhưng thường thì, chúng ta muốn để lại khoảng trống để độc giả tự mình lấp đầy những khoảng trống đó bằng trí tưởng tượng của họ. Đó là phép màu của thơ ca, và của tất cả các hình thức nghệ thuật. Sở dĩ tôi nhắc đến điều này là do trong “Lời mở sách” tác giả nhắc đến nhiều phản ứng tích cực và tiêu cực trong thời điểm cuốn sách ra đời.

Lang thang dạo qua các diễn đàn và trang mạng, tôi nhận thấy SỰ MẤT NGỦ CỦA LỬA đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà phê bình, được nhắc đến qua không ít bài viết, thậm chí còn xuất hiện trong một số luận văn nghiên cứu. Những điểm nhấn mà tôi nhớ nhất là: “dấu mốc đổi mới thơ ca Việt Nam hiện đại,” “góc nhìn sinh thái với khát vọng trốn lo âu về lại cánh đồng,” hay “trên hành trình tha hương và những va đập ồn ào phố thị, cố hương bỗng trở thành nơi nương náu tinh thần,” bên cạnh các chủ đề về “thân phận tha hương và sự tách biệt với tự nhiên,” “trầm tích của quê hương,” và “tâm thức hoài hương.” Theo tôi, một tập thơ chứa đựng tư tưởng lớn và đan xen nhiều vấn đề của cuộc sống như vậy chắc chắn sẽ mở ra vô vàn góc độ để chiêm nghiệm. Với tư cách một người đọc yêu thơ và làm thơ, tôi xin phép chia sẻ đôi điều giản dị về những gì mà bản thân tâm đắc từ tác phẩm này.

 

1.

Nỗi nhớ là một cảm xúc mạnh mẽ thường dẫn dắt ta trở về những kỷ niệm xưa, cho phép ta sống lại những khoảnh khắc từ quá khứ. Các nhà thơ từ lâu đã say mê với vẻ đẹp và nỗi u buồn của sự hoài niệm, và họ đã đặt bút để tạo nên những câu thơ gợi lên cảm giác mong nhớ và suy tư. Nguyễn Quang Thiều đã viết về nỗi nhớ, hoài niệm và sự day dứt về quê hương trong nhiều bài thơ của mình, đặc biệt là trong tập thơ SỰ MẤT NGỦ CỦA LỬA. Tập thơ này đi sâu vào những cảm xúc về thời gian, ký ức tuổi thơ, và thân phận người xa xứ, gắn liền với cảnh sắc làng quê, thiên nhiên và những hình ảnh đầy tính ẩn dụ về cuộc đời. “Những chiều xa quê tôi mong dòng sông dâng lên ngang trời cho tôi được nhìn thấy
Cho đôi mắt nhớ thương của tôi như hai hốc đất ven bờ, nơi những chú bống đến làm tổ được giàn dụa nước mưa sông.
Đó là nỗi nhớ hướng về dòng sông quê hương nơi lưu giữ tuổi thơ và tình cảm gia đình. Mẹ trong mắt người con xa xứ như dòng sông đượm buồn chảy mãi không ngừng. Dòng sông  không chỉ là nơi chốn cụ thể, mà còn là nơi lưu giữ những ký ức, những tình cảm giản dị nhưng bền bỉ. Hình ảnh này khơi gợi cho người đọc sự hoài niệm về một thời gian đã qua, nơi tình yêu của mẹ như dòng sông bất tận, không phô trương nhưng sâu nặng. “Chiếc bánh xe trâu một nửa đã qua đêm/ Một nửa thùng cỏ tươi còn trong bóng tối/ Và sau tiếng huầy ơ như tiếng người chợt thức/ Những ngọn ban mai mơn mởn rướn mình.” Đó là nỗi nhớ về một buổi sáng bình yên trên cánh đồng làng quê, quen thuộc và dịu dàng trong tiếng thời gian trôi. Không có sự kiện cụ thể nào xảy ra, chỉ là cảnh vật tĩnh lặng nhẹ nhàng tươi mới như ta thức dậy sau một giấc ngủ dài, một sự khởi đầu mới mẻ an vui từ những ngày tháng xưa cũ hoài niệm dịu dàng. Đêm hoang sơ chỉ có đôi ta/ Không cơm áo cửa nhà ngồi ôm nhau run rẩy/ Ta sẽ bắt đầu điều gì khi bình minh thức dậy/ Đi về phía biển khơi hay trở lại rừng. Có phải thời gian là hư vô, cô đơn và vô tận? Người yêu ngồi ngắm sao trời nhưng không thể với tay chạm vào cũng như ký ức quý giá nhưng xa tầm tay với. Hư vô và bất lực trước dòng thời gian khiến nỗi nhớ trở nên da diết, đau đáu. Quá khứ có bao giờ quay lại nhưng kỷ niệm u buồn cứ khắc sâu vào tâm khảm, như những ngôi sao nhấp nháy xa xăm ta chỉ có thể ngắm từ xa. Quê hương/ Khuất khuất sau mây/ Quê hương âm âm trong gió/ Ta không thể dâng tay gạt hết mưa chiều/ Để nhìn cho tỏ mặt/ Chỉ mùi khói phân trâu khô bên đường bén lửa/ Ngăn ngắt đắng vào giấc ngủ kẻ tha phương. Nỗi đau của kẻ tha hương và lạc lối trong thế giới mới đầy lạ lẫm, ký ức quê nhà dần trở thành một phần của nỗi buồn, nỗi nhớ khó có thể lấp đầy, nhớ về mái nhà, mùi khói quê và những gì thuộc về nơi chốn thân thương.

Những nhà thơ có tầm nhìn, chiều sâu cảm xúc và nhiều trải nghiệm, dù họ là ai, thuộc phương Đông hay phương Tây, thì họ phần nào đó cũng có những điểm tương đồng. Robert Hayden  trong NHỮNG CHỦ NHẬT MÙA ĐÔNG ẤY viết về kỷ niệm cha con và những hi sinh của người cha trong thời thơ ấu của thi sĩ. Bằng hình ảnh giàu sức gợi và ký ức đau đáu, Hayden đưa chúng ta về những buổi sáng mùa đông lạnh giá cùng những hành động yêu thương âm thầm thường bị bỏ qua. Qua lời thơ của Hayden, chúng ta được nhắc nhở về những cử chỉ chăm sóc nhỏ nhặt nhưng sâu sắc trong cuộc sống, những điều âm thầm tạo nên những kỷ niệm bền lâu. Cũng như thế, CON GÁI ƠI (cho con gái Tuyết Ngân) của Nguyễn Quang Thiều có những câu thơ yêu thương thấm đãm như vầy:Con mặc chiếc váy mỏng như khâu bằng những cánh hoa tầm xuân/ Con đi đôi giày nhỏ như làm bằng hai chiếc kén tằm vàng/ Trên con đường trước nhà ta đầy đá/ Con chạy ra đón cha/ Hai bên đường những cánh bướm còn non/ Bay như dính vào không gian/ Đó là chim bồ câu tí hon/ Trong miền riêng của con trong trắng; Niềm xúc động trong cha dâng lên đến tận cùng/ Làm buốt chân tóc trên đỉnh đầu cha/ Những sợi tóc tơ con ròng ròng từng sợi nước/ Mát rượi chảy chàn từng ống xương cha”. John Keats là bậc thầy của thơ lãng mạn cũng đã khắc hoạ một cách đẹp đẽ tinh thần ngọt ngào và tiếc nuối của nỗi nhớ trong bài thơ ODE TO AUTUMN. Qua những miêu tả sống động và hình ảnh giàu sức gợi, Keats tôn vinh vẻ đẹp của mùa thu, đồng thời ngầm nhắc đến sự ngắn ngủi của thời gian. Nhịp điệu nhẹ nhàng và sự miêu tả dịu dàng của mùa thu khiến ta nhớ đến sự tuần hoàn của cuộc sống, thôi thúc chúng ta trân trọng hiện tại và đồng thời mong nhớ quá khứ.

 

2.

Trân quý từng khoảnh khắc: Trong nhịp sống nhanh chóng ngày nay, thật dễ để bị cuốn vào những bộn bề hàng ngày, bỏ qua những khoảnh khắc quý giá mà ta không nhận ra. Tuy nhiên, có những nhà thơ đã khéo léo gói ghém vẻ đẹp của việc trân trọng từng khoảnh khắc vào trong từng câu thơ của họ, nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc tận hưởng mọi trải nghiệm, trân quý những giây phút ngắn ngủi nhưng đầy ý nghĩa. Mary Oliver (bài thơ NGÀY HÈ) tinh tế trong từng quan sát về thiên nhiên, thúc giục chúng ta biết dừng lại và cảm nhận sự kỳ điệu quanh mình, mở lòng ra tận hưởng từng giây phút ngắn ngủi của cuộc sống và tìm thấy được mục đích trong sự tồn tại của mình. Margaret Atwood (bài thơ MỘT KHOẢNH KHẮC) nhắc ta hãy sống như hôm nay là ngày cuối cùng vì cuộc sống dù gì cũng rất chóng vánh. Bài thơ như một lời thức tỉnh, thúc giục chúng ta đừng bao giờ coi nhẹ bất cứ điều gì và hãy giữ chặt những khoảnh khắc thoáng qua nhưng đầy ý nghĩa của cuộc sống, ta hãy dành thời gian để nhìn lại những thành tựu của mình, trân trọng sự cố gắng và cống hiến đã đưa ta đến vị trí hiện tại. Bằng việc trân trọng những khoảnh khắc này, Atwood mời gọi ta hãy biết ơn hành trình mà ta đã trải qua cùng với niềm tự hào và sự sở hữu đó. Một số dòng thơ của Nguyễn Quang Thiều vang lên như lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của từng khoảnh khắc trong cuộc sống. “Đêm nay là đêm thứ bao nhiêu rồi ta chẳng còn biết nữa / Ta như hai đứa trẻ non mềm vừa mới sinh ra / Với hơi thở của người vừa ốm dậy / Ta ôm nhau ngước mắt gọi sao trời,” Thiều khắc họa hình ảnh về sự hiện hữu trong khoảnh khắc - giây phút mà ta và người thương như trở lại thuở ban sơ, yếu đuối nhưng ngập tràn yêu thương, cùng ngước nhìn trời sao bao la. Bằng cách sống trọn vẹn trong hiện tại, từng hơi thở, từng ánh sao, từng phút giây đều trở nên quý giá, thiêng liêng. “Ta thức giấc khi mặt trời chạm vào mặt biển / Và ngoi lên mặt nước / Vây tóc ta bạc trắng / Ta cất tiếng gọi bến bờ của ta bằng tiếng cá” tiếp tục khơi gợi cảm giác về dòng chảy thời gian và sự thức tỉnh khi ta đối diện với hoàng hôn màu huyết dụ. Thiều vẽ nên khung cảnh hùng vĩ của biển trời và ánh mặt trời lặn, để gợi nhắc rằng từng khoảnh khắc là một phần quý báu, là khúc nhạc của đời người. Những hình ảnh ấy khiến ta nhận ra rằng thời gian không đợi chờ, và chỉ khi ta biết trân trọng từng giây phút hiện tại, ta mới thực sự sống trọn vẹn. Qua những câu thơ ấy, Nguyễn Quang Thiều mời gọi chúng ta đón nhận từng khoảnh khắc như là một điều đáng quý. Hành trình cuộc đời chỉ trở nên ý nghĩa khi ta sống hết mình cho từng phút giây giản dị, bình yên – đó là khi ý nghĩa thực sự của cuộc sống và của chính ta được sáng tỏ. Cũng như Robert Herrick (bài thơ GỬI CÁC NÀNG TRINH NỮ HÃY BIẾT QUÝ THỜI GIAN) cũng nổi bậc một lời nhắc nhở vượt thời gian về sự ngắn ngủi của cuộc sống. Herrick khuyến khích chúng ta sống hết mình và trân quý hiện tại, vì thời gian không chờ đợi ai. Qua hình ảnh sống động và phép ẩn dụ nổi bật, Herrick nhấn mạnh rằng những giây phút quý giá của cuộc sống là hữu hạn và cần được trân trọng.

3.

Khám phá vẻ đẹp trong những vật dụng hàng ngày mang giá trị tinh thần hoặc kỷ niệm đặc biệt. Thông qua ngôn ngữ thơ ca, những vật dụng hằng ngày, dù đơn giản, có thể trở nên quý giá và ý nghĩa, phản ánh vẻ đẹp tiềm ẩn trong cuộc sống đời thường và trở thành nguồn cảm hứng suy tư. Các nhà thơ có khả năng phi thường khi nắm bắt được tinh túy của những món đồ tưởng như tầm thường, thổi vào đó những ý nghĩa sâu sắc. Những bài thơ này mời gọi chúng ta dừng lại, suy ngẫm về ý nghĩa của những vật dụng dường như giản đơn nhưng lại có vị trí đặc biệt trong trái tim ta. Pablo Neruda (bài thơ ODE TO A TEACUP), một tách trà khiêm nhường chứa đựng nhiều nỗi niềm, được nhà thơ nâng lên thành biểu tượng của sự an ui, như một người bạn đồng hành và những phút trân quý trong cô tịch. William Carlos Williams (bài thơ CHIẾC XE RÙA ĐỎ) nắm bắt những đồ vật quen thuộc và ý nghĩa của từng chi tiết nhỏ bé chỉ qua mười sáu từ. Sara Teasdale (bài thơ CHIẾC CHÌA KHÓA) khắc họa sâu sắc những ký ức và nỗi khát khao, chiếc chìa khóa được sử dụng như một phép ẩn dụ cho những cánh của nối ta với quá khứ, có tầm quan trọng và sức nặng cảm xúc vượt lên trên hình thức vật chất của chúng. Đọc thơ Nguyễn Quang Thiều tôi rất chú ý đến những điểm này,  những vật dụng quen thuộc trong đời sống thường ngày của ông cũng trở thành biểu tượng, mang theo chiều sâu của nỗi nhớ, của hoài niệm và cuộc đời. Bằng tài năng quan sát và ngòi bút tinh tế, Thiều biến những hình ảnh giản dị thành phương tiện truyền tải những suy tư, những ký ức mà không phải ai viết cũng thành công, nếu không khéo sẽ trở thành liệt kê, kể lể. Những bánh xe no nê lăn vào giấc ngủ/ Mang theo tiếng cười, tiếng khóc và cái chết của rượu/ Mang theo những bàn tay đàn ông/ Bò ngược đùi đàn bà như từng chùm chân dán/ Chỉ còn trên bàn tiệc/ Bát đĩa, cốc chén/ Và những cái chai cạn khô/ Cùng cơn gió lốc quạt trần/ Rền rĩ nỗi buồn đồ vật/ Bầy kiến đen đi qua bàn tiệc/ Như lang thang qua bãi chiến trường/ Đầy mảnh thịt của gia súc/ Đầy xác chết của rau thơm/ Quả ớt đỏ như lá cờ rách nát/ Bầy kiến ôm lên đắng cay nhòa mắt”. Một đàn kiến đen len lỏi qua những chiếc bát đĩa, cốc chén còn sót lại trên bàn tiệc. Sự hiện diện nhỏ bé nhưng bền bỉ của bầy kiến không chỉ là biểu tượng cho sự sống mà còn là những điều nhỏ nhặt, thầm lặng nhưng bền vững, tồn tại sau cơn say của con người. Tác giả  gợi lên sự đối lập giữa phù hoa chóng vánh và sự bền bỉ của những giá trị giản đơn, nhắc nhở người đọc trân trọng những thứ tưởng chừng nhỏ bé nhưng chứa đựng sức sống mãnh liệt. Trong CON GÁI ƠI, chiếc váy tầm xuân của người con gái trở thành biểu tượng của sự tinh khiết và mong manh. Khi người cha đưa tay ôm lấy con, chiếc váy ấy không chỉ là tấm áo đơn sơ mà còn là lớp bảo bọc của yêu thương, là sự gắn kết thiêng liêng giữa cha và con. Nguyễn Quang Thiều đưa người đọc về với tình cảm gia đình giản dị nhưng sâu sắc, nơi mà từng món đồ nhỏ đều chứa đựng bao kỷ niệm và ý nghĩa. Hay CHIẾC NHẪN VÀNG HÀNG XÉN bị bỏ quên như một sự bội phản đâu đó vẫn diễn ra trong xã hội. Đó là vật bé nhỏ nhưng lại mang theo biết bao ký ức cay đắng và ngọt ngào, nhắc nhở người đọc về những khoảnh khắc lãng quên, những điều đã đánh mất trong cuộc đời. Qua thơ Nguyễn Quang Thiều, ta nhận ra rằng mỗi vật dụng dù nhỏ bé cũng chứa đựng những câu chuyện, những lớp nghĩa sâu sắc và gợi lên cảm xúc dạt dào. Những hình ảnh giản dị nhưng mạnh mẽ ấy nhắc nhở chúng ta biết trân trọng từng chi tiết nhỏ của cuộc sống, bởi chúng chính là tấm gương phản chiếu hành trình của mỗi người.

 

4.

Gia đình là sợi dây gắn kết chúng ta. Gia đình là nền tảng của cuộc sống, nơi ta tìm thấy sự hỗ trợ, yêu thương và cảm giác thuộc về. Chính trong gia đình, ta học được những bài học quý giá của cuộc đời, cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn và tìm đến sự an ủi khi cần. Các nhà thơ từ lâu đã nhận ra ý nghĩa sâu sắc của gia đình và qua ngôn từ của họ, những mối quan hệ đáng trân trọng này được khắc họa một cách đẹp đẽ. “Ta khóc vụng một ngày thưa bóng mẹ/ Tiếng gà buồn mổ rỗ mặt hoàng hôn”; “Ta gặp mẹ ta năm người mười bảy/ Những răng lược gỗ mòn cắn ngập mái tóc người/ Ta gặp cha ta năm người hai mươi tuổi/ Dưới những nhát búa cùn/ Từng khúc xoan tươi toác ra tiếng cười của lửa”; “Sông Đáy chảy vào đời tôi/ Như mẹ tôi gánh nặng rẽ vào ngõ sau mỗi buổi chiều đi làm về vất vả”; “Âm thầm vỡ trong tôi, âm thầm vỡ cuối nguồn/ Tỏa mát xuống cơn đau tôi là tóc mẹ bến mòn đứng đợi”; “Sông Đáy ơi, sông Đáy ơi…chiều nay tôi trở lại/ Mẹ tôi đã già như cát bên bờ/ Ôi mùi cát khô, mùi tóc mẹ tôi/ Tôi quì xuống vốc cát ấp vào mặt/ Tôi khóc./ Cát từ mặt tôi chảy xuống dòng dòng.”; “Mẹ con đứng vùi chân trong cát/ Nước mắt buồn bay ướt một triền sông”; “Ta đi qua tháng mười, ta đi qua tiếng gọi buổi chiều của mẹ/ Mây trời vun lên những đống rơm khô”; “Như tấm võng của bà mẹ đỡ đứa con/ Ru êm ái trong ban mai màu ngọc. Tất cả dâng lên thẳm xa, mê đắm/ Mẹ ơi, con nhìn thấy bà nội con sau khói mỉm cười”; “Điếu thuốc cháy từ năm ta mười bốn/ Chiếc roi cha ta quất nát sợi khói mềm/ Trong ký ức ta có một ngày oán hận/ Hốc mắt ta khô dù chỉ khóc một lần”; “- Cha!/ Con có tội một lần một chiều xưa nói dối/ Con mang tội suốt đời lời nói thật sáng nay.”; “Tiếng chó lại rộ lên từ đầu làng về ngõ nhà ta/ Tóc cha trắng một tiếng cười ngửa mặt”; “Con gái của cha ơi/ Cha nghe thấy có tiếng cười lạ/ Cha nghe thấy có tiếng người lạ/ Dẫu không gọi tên con cũng không gọi tên cha/ Mà sao cha sợ run lên/ Cha mở đời cha như mở một tấm lót/ Bọc lấy con và bế con lên. Những câu thơ cảm động quá sức, đằm thắm quá thể, thấm đượm tình cảm gia đình, khắc họa sâu sắc hình ảnh cha mẹ qua những ký ức thân thương, bình dị nhưng đầy cảm xúc. Tình mẹ hiện lên trong những hình ảnh quen thuộc như dòng Sông Đáy chảy dịu dàng, như bóng dáng người mẹ vất vả, âm thầm gánh nặng cuộc sống nhưng luôn hiện hữu để che chở và nâng đỡ cho con. Với người cha, ông thể hiện sự kính trọng và day dứt, khắc sâu những dấu ấn của cha trong cuộc đời: từ hình ảnh chiếc roi, điếu thuốc cháy dở đến nỗi buồn lặng thầm và những tiếng cười u hoài. Gia đình có sự gắn kết bền chặt, trao đổi yêu thương, gia đình trong thơ ông là nơi các thành viên tìm về để chia sẻ, chữa lành và nhận lại sức mạnh từ ký ức. Sự hiện diện của cha mẹ trong thơ Nguyễn Quang Thiều không chỉ là nguồn an ủi mà còn là điểm tựa tinh thần, khắc ghi bài học về giá trị của sự hi sing và tình yêu vô điều kiện mà các thành viên dành cho nhau. Con gái trong thơ được ông gửi gắm tình thương dịu dàng và nỗi lo thầm kín. Người cha ôm ấp bảo vệ con mình như một báu vật quý giá, là kết tinh của tình cha con thiêng lie7ng và nâng niu chở che. Người cha mở rộng vòng tay, bọc lấy con, bảo vệ con tránh khỏi những tổn thương va chạm dẫu không biết rõ con đường tương lai ra sao, dẫu biết rằng có một nỗi lo sợ chất chứa, rằng cha sẽ không thể mãi mãi bên cạnh con như ước muốn. Thậm chí thỉnh thoảng theo dõi Facebook của ông, rất nhiều năm sau khi tập thơ ra đời, ông đã bắt đầu có cháu, và cách ông cháu trò chuyện làm việc với nhau cũng rất gắn kết, đặc biệt và tràn ngập lòng tôn trọng, quý mến yêu thương. Cháu ông vẽ một bức tranh chi tiết, thông minh, kỹ càng, cần mẫn, hay hai ông cháu cùng làm đèn trung thu, cùng thực hiện một cánh diều, cảm động vô cùng.

Nhớ lại một số bài thơ và nhà thơ phương Tây tôi từng đọc qua, Langston Hughes (bài thơ CỘI RỄ) tài hoa khéo léo mô tả vai trò của gia đình trong việc hình thành nên bản sắc của chúng ta. Hughes so sánh mối liên hệ gia đình như những rễ cây ăn sâu, biểu trưng cho sức mạnh và sự kết nối bền vững. Qua hình ảnh sống động và ngôn từ chân thành, ông nhắc nhở rằng di sản và cội nguồn là nguồn sức mạnh và niềm tự hào của mỗi người. Một lần khác, (bài thơ MẸ NÓI VỚI CON) ông khắc họa một cách tuyệt đẹp tình yêu vô điều kiện, sự hướng dẫn và lòng kiên cường trong gia đình. Qua giọng nói của người mẹ, Hughes dùng những ẩn dụ sống động để khích lệ con mình kiên cường vượt qua khó khăn, nhắc nhở rằng dù cuộc sống có khắc nghiệt đến đâu, gia đình luôn là điểm tựa, luôn ủng hộ và nâng đỡ. Với nhà thơ Li-Young Lee (bài thơ MÓN QUÀ), anh viết về tình yêu thương của người cha, hồi tưởng về sự hiện diện của ông và kỷ niệm quý báu giữa hai cha con. Lee thể hiện một cách tinh tế rằng những khoảnh khắc kết nối đó đã giúp anh hiểu về tình yêu, gia đình và giá trị của những sợi dây gắn kết thiêng liêng này. Bài thơ CUỘC ĐOÀN TỤ GIA ĐÌNH của Nikki Giovanni ca ngợi sự vui vẻ và đôi khi hỗn loạn trong những dịp sum họp gia đình. Bài thơ khắc họa sinh động năng lượng tràn đầy, tình yêu thương và cảm giác gần gũi mà mỗi cuộc đoàn tụ mang lại. Bằng ngôn ngữ sống động và hình ảnh giàu cảm xúc, Giovanni vẽ nên bức tranh ấm áp và gợi nhớ về giá trị quan trọng của những kết nối gia đình. Không thể phủ nhận tầm quan trọng của gia đình, vì gia đình đóng vai trò không thể thiếu trong việc hình thành cuộc sống và mang lại cho chúng ta cảm giác thuộc về. Qua sức mạnh của thơ ca, những tác phẩm tuyệt mỹ này đã nắm bắt được bản chất của các mối dây gắn kết trong gia đình, nhắc nhở ta về sự bền vững và tình yêu vô điều kiện từ gia đình. Dù là ca ngợi nguồn cội hay tái hiện những khoảnh khắc quý giá bên người thân, những bài thơ này là lời nhắc nhở sâu sắc về tầm quan trọng của gia đình trong cuộc sống chúng ta.

 

Thay lời kết:

SỰ MẤT NGỦ CỦA LỬA  là một tựa đề đầy cuốn hút cho một tập thơ, gợi lên hình ảnh của ngọn lửa như một sức mạnh bồn chồn, không ngừng nghỉ và không thể dập tắt. Mất ngủ là trạng thái luôn tỉnh thức, một ngọn lửa cháy mãi với cảm xúc mãnh liệt và dai dẳng, khát khao hay những trăn trở không nguôi. Bản thân lửa thường gắn với đam mê, sự hủy diệt, sự chuyển hóa, hay thậm chí là sự khai sáng, vì vậy khi được mô tả là mất ngủ, nó có thể mang ý nghĩa của một nỗi khao khát không ngừng hay một động lực mãnh liệt, không thể dập tắt trong dòng suy tư của thi sĩ. Tựa đề này cũng làm cho chúng ta liên tưởng đến những đêm thao thức với suy tư, xúc cảm dâng trào, hay sự biểu đạt sáng tạo, nơi tâm trí và trái tim đều bùng cháy, không thể yên nghỉ. Đọc tựa đề giúp chúng ta có thể khai thác các chủ đề về xung đột nội tâm, đam mê, sự kiên cường và cuộc tìm kiếm ý nghĩa không ngừng, như thể tâm hồn của người thi sĩ đang rực cháy trong dòng suy tư và cảm xúc không thể dập tắt. Ngoài những điểm thú vị mà tôi phát hiện ra trên đây, tập thơ còn mang rất nhiều thông điệp làng quê, nghịch cảnh, tình yêu, trở trăn, đất nước, kẻ tha hương, hội họa, tôi xin phép được nhường lại cho bạn đọc và mong đợi những khám phá mới và những cuộc đàm đạo mới về SỰ MẤT NGỦ CỦA LỬA. Xin dành mấy câu thơ của mình tặng cho thi phẩm này và tác giả Nguyễn Quang Thiều: Ngày xưa ngoại thắp vườn trầu/ Mảnh trăng tinh tấn hàng cau trổ buồng/ Ngày nay vườn đành yêu suông/ Dặn nhau tri kỷ khởi nguồn. Như nhiên!. Với mảnh trăng tinh tấn chiếu rọi, tập thơ như một ngọn lửa bất tận, soi sáng từng ngõ ngách tâm hồn, gieo hạt cho những khát khao thao thức bung nhụy và tỏa hương trong lòng người đọc.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm