TIN TỨC

Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-08-20 20:23:44
mail facebook google pos stwis
467 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).

 

Nhà thơ Hàn Mặc Tử

 

Với tuổi đời 28 năm (1912-1940), nhà thơ của kiếp “đau thương” đành khép lại hành trình văn chương như ánh sao băng chưa kịp đi hết quỹ đạo. Theo Nguyễn Hoành Khung: “Hàn Mặc Tử là một tài năng lớn, độc đáo với một hồn thơ mãnh liệt, kỳ dị”, “thơ Hàn Mặc Tử để lại dấu ấn rõ nét trong thơ ca đương thời, đặc biệt, có ảnh hưởng sâu sắc đến một số nhà Thơ mới khi đó...” (Từ điển Văn học, bộ mới, NXB Thế giới, 2003, tr.575).

Sau 86 năm ngày về “ở bên khe nước ngọc”, thơ ca và những câu chuyện cuộc đời của chàng thi sĩ bút danh họ Hàn vẫn “có hàng vạn tấm lòng độc giả đến cùng Hàn Mặc Tử” (Chế Lan Viên, Tuyển tập Hàn Mặc Tử, NXB Văn học, Hà Nội, 1987, tr.15). 

 

Cuộc đời ngắn ngủi: “đau thương mà kỳ dị” (Hoài Thanh) 

Độc giả thường nhớ đến Hàn Mặc Tử khi có duyên với bốn chữ “Bình”: sinh tại Quảng Bình, làm báo Tân Bình (Sài Gòn trước đây), có người yêu ở Bình Thuận (ý chỉ Mộng Cầm) và mất tại Bình Định (nhà thương phong Quy Hòa). Theo Chế Lan Viên (dựa theo tài liệu của bạn bè từng sống với Hàn Mặc Tử), tổ tiên Hàn Mặc Tử là gốc họ Phạm ở Thanh Hóa. Ông cố là Phạm Nhượng bị truy nã về tội quốc sự nên phải di chuyển vào Thừa Thiên - Huế và đổi thành họ Nguyễn. Sau này Tử lấy hiệu Lệ Thanh là ghép hai chữ Lệ ở Lệ Mỹ (Đồng Hới) với Thanh ở Thanh Tân (Thanh Hóa) mà thành.

Hàn Mặc Tử được biết đến với nhiều mối tình, để lại dấu ấn trong văn thơ của ông, như Mộng Cầm (cháu gọi nhà thơ Bích Khê bằng cậu), Hoàng Cúc (người con gái Huế gắn liền với sự ra đời bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ), Mai Đình, Thương Thương, Ngọc Sương... Tuy nhiên, trong số những “bóng hồng” ông đã gặp, có người ông chỉ giao tiếp qua thư từ và có người ông chỉ biết tên. Theo các tài liệu nói trên của Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử yêu Hoàng Cúc trong khoảng thời gian 1932-1933. Và cũng từ khoảng thời gian này, Tử quen và trao đổi thư từ với Mộng Cầm. Năm 1936, Tử và Mộng Cầm đi chơi lầu ông Hoàng (Phan Thiết). Còn Thương Thương (cháu gọi Trần Thanh Địch bằng chú) là chuyện do Trần Thanh Địch “bịa” ra để an ủi Tử. Với Mai Đình thì Tử có trao đổi, gặp mặt (và cả lánh mặt) trong những năm 1937-1938. Các “bóng hồng” khác không thấy Chế Lan Viên nhắc đến. Có thể vì quá mến mộ Hàn Mặc Tử mà nhiều người đã thêu dệt thêm chăng!

Từ nhỏ (1926, 14 tuổi), Hàn Mặc Tử đã làm thơ Đường luật và lấy bút danh là Minh Duệ Thị. Và sau đó nhanh chóng nổi tiếng với bút hiệu Phong Trần, đăng thơ trên các tờ Phụ Nữ Tân Văn, Lời Thăm, được cụ Phan Bội Châu (chủ nhân thi xã Mộng Du) đề cao và họa thơ (từ 1930-1931).

Từ năm 1932 đến tháng khoảng 9-1940, Hàn Mặc Tử cộng tác và phụ trách cho các báo Tiếng Dân, Phụ Nữ Tân Văn, Sài Gòn, Công Luận, Tân Thời, Đông Dương tạp chí... Từ 1934-1935 đổi tên thành Lệ Thanh rồi Hàn Mặc Tử. Những năm tháng làm báo ở Huế và Sài Gòn giúp Tử mở rộng giao lưu với nhiều người nổi tiếng đương thời như Phan Bội Châu, Quách Tấn, Thúc Tề, Hoàng Trọng Miên, Bích Khê, Yến Lan, Hoàng Diệp, Nguyễn Minh Vỹ, Nguyễn Viết Lãm, Chế Lan Viên, Trần Thanh Mại, Trần Thanh Địch, Thanh Nghị...

Nhưng khi tài năng đang độ chín, bi kịch ập đến với chàng thi sĩ Hàn. Từ cuối năm 1936, Hàn Mặc Tử phát hiện mình mắc bệnh phong. Ông chia tay với Mộng Cầm và trở về Quy Nhơn. Từ 1938 đến 1940, Tử phải thay đổi chỗ ở nhiều lần trong thành phố Quy Nhơn để khỏi bị bắt đưa vào trại phong. Năm 1940 (ngày 20 tháng 9) Tử vào trại phong Quy Hòa, bệnh nhân số hiệu 1134. Ngày 11-11-1940, Tử mất tại Quy Hòa, ông được chôn tại Đèo Son. Năm 1959, gia đình Hàn Mặc Tử và nhà thơ Quách Tấn cải táng mộ ông về Gành Ráng, Quy Nhơn.

Bi kịch của cuộc đời ngắn ngủi đầy đau thương trở thành một “chất xúc tác” đặc biệt, khiến Hàn Mặc Tử “bùng nổ” với cường độ sáng tác mãnh liệt chưa từng có. Chỉ trong một thời gian ngắn (1926-1940), Hàn Mặc Tử có số lượng tác phẩm phi thường, gồm: Lệ Thanh thi tập (thơ Đường luật đăng trên các báo), Gái quê (1936), Đau thương (Thơ Điên), Xuân Như Ý, Thượng Thanh Khí, Cẩm Châu Duyên (gồm một số bài thơ và hai vở kịch Duyên Kỳ Ngộ và Quần Tiên Hội - đang viết dở), Chơi giữa mùa trăng (thơ - văn xuôi) và một số bài tạp văn, bài báo phóng sự... Người ta cho “ông là một thi sĩ mà trên thế giới không một thi sĩ nào sánh kịp”, “người ta thấy dưới ngòi bút của ông những bài tuyệt tác” (Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại). 

 

Phong cách độc đáo: mạch thơ vận động từ “trong trẻo” đến “ám ảnh”… 

Ở giai đoạn đầu, thơ Hàn Mặc Tử mang vẻ đẹp trong sáng, giản dị, gần gũi với thiên nhiên và đời sống thôn quê. Tập Gái quê là minh chứng rõ nét cho một tâm hồn yêu đời, tha thiết với cái đẹp trần thế. Những vần thơ lúc này còn nhẹ nhàng, giàu nhạc điệu và đậm chất lãng mạn, không khác nhiều so với dòng chảy chung của phong trào Thơ mới.

Nhưng từ khi mang bệnh, thơ ông bước sang một thế giới khác - thế giới của những cơn đau, của ám ảnh và những giấc mộng kỳ dị. Các tập thơ như Đau thương, Xuân Như Ý  hay Thượng Thanh Khí cho thấy một sự biến đổi lớn: ngôn ngữ trở nên đứt gãy, hình ảnh phi logic, cảm xúc dồn nén đến cực điểm. Những câu thơ như: “Ai mua trăng, tôi bán trăng cho” (Trăng vàng trăng ngọc), “Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu” (Bẽn lẽn)... không còn đơn thuần là hình ảnh trăng, mà trở thành biểu hiện của một tâm trạng nửa tỉnh nửa mê, khi dịu dàng, khi ghê rợn, như một sinh thể sống động hớp hồn... 

 

Điểm làm nên sự độc đáo của Hàn Mặc Tử chính là phong cách nghệ thuật không trộn lẫn. Ở đó có sự phá vỡ khuôn mẫu, đẩy ngôn ngữ đến giới hạn của nó, câu chữ vỡ ra, không còn tuân theo logic thông thường, mà vận hành theo những xung động nội tâm mãnh liệt.

 

Điểm làm nên sự độc đáo của Hàn Mặc Tử chính là phong cách nghệ thuật không trộn lẫn. Ở đó có sự phá vỡ khuôn mẫu, đẩy ngôn ngữ đến giới hạn của nó, câu chữ vỡ ra, không còn tuân theo logic thông thường, mà vận hành theo những xung động nội tâm mãnh liệt. Những hình ảnh mang màu sắc siêu thực và tượng trưng, như trăng, máu, hồn, ánh sáng, thiên đường… xuất hiện dày đặc, đan xen vào nhau tạo thành một không gian vừa huyền ảo vừa ám ảnh.

Một yếu tố quan trọng khác là cảm thức tôn giáo. “Tư duy tôn giáo đã là một công cụ hữu hiệu để nâng cánh cho trực giác nghệ thuật tuyệt vời của thi nhân bay cao, bay xa vào cõi siêu hình” (Đỗ Lai Thúy, Hàn Mặc Tử - một hiện tượng độc đáo trong tư duy thơ Việt Nam, Phê bình Văn học, NXB Văn nghệ, 1993, Tr.67). Trong nhiều bài thơ, người đọc bắt gặp hình ảnh Chúa, thiên đường... như một cách để Tử tìm kiếm ánh sáng giữa bóng tối của bệnh tật và cô đơn.

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Nhưng trên tất cả, thơ Tử là tiếng kêu của một con người khao khát sống. Dù bị dồn vào tận cùng của đau đớn, ông vẫn yêu đời, yêu cái đẹp một cách mãnh liệt. Chính sự giằng co giữa tuyệt vọng và hy vọng ấy đã tạo nên sức căng đặc biệt cho thơ ông. Vì thế Hàn Mặc Tử được xem là một trong những đỉnh cao của phong trào Thơ mới. Chế Lan Viên từng gọi ông là “một nguồn sáng lạ trong thi ca Việt Nam”. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh nhận xét Tử là “một hồn thơ đau thương mà kỳ dị”.

Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu còn nhìn nhận Hàn Mặc Tử như một người tiên phong đưa yếu tố siêu thực và tượng trưng vào ngôn ngữ thi ca hiện đại.

Thới An, TP.HCM, 5/2026

T.N.T

Nguồn: https://tuoitre.vn/giaoduc/han-mac-tu-nha-tho-cua-dau-thuong-va-ky-di

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm