TIN TỨC

“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-09-26 12:29:45
mail facebook google pos stwis
71 lượt xem

HỒ THẾ HÀ

Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.

Sau gần một ngày lênh đênh bằng thuyền máy trên mênh mông sông nước tuyệt đẹp nơi đây, chúng tôi có dịp dừng lại nơi bến đò Vĩnh Tu, làng Thuỷ Diện, được đến thăm ngôi nhà Chồ - ngôi nhà duy nhất còn sót lại sau cơn bão lớn năm 1999. Còn các ngôi nhà khác đều bị bão lốc cuốn bay, xoá sạch ngôi làng nổi trên mặt nước. Tôi nghe các bạn văn nói đây là ngôi nhà của mẹ cha Phan Trung Thành. Từ ngôi nhà này, anh được sống trong yêu thương, bao bọc, chở che của mẹ cha và lớn lên, học hành để sau đó, anh trở thành sinh viên Khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Huế.

PGS-TS Hồ Thế Hà và nhà thơ Phan Trung Thành tại buổi ra mắt sách "Nước trên lá", Phong Quảng (Huế), 19/9/2026.

Tốt nghiệp cư nhân văn học, anh may mắn được công tác tại thành phố Hồ Chí Minh và đảm nhiệm nhiều công việc quan trọng có liên quan đến Báo chí, Xuất bản và Văn chương chữ nghĩa. Rồi như một duyên mệnh, anh trở thành nhà báo, nhà thơ, trở thành hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam với các tác phẩm thơ và trường ca đạt nhiều Giải thưởng quý giá. Từ đó, tôi thường xuyên tìm đọc thơ anh trên báo viết và báo mạng. Những tập thơ của anh như: Vọng sông quê (2001), Mang (2004), Gửi thiên thần (2006), Đồng hồ một kim (2009), Những ngày vắng em (2010), Tiếng chuông trong bão (2019)… được bạn đọc yêu quý đón nhận và viết bài bình luận. Qua đó, tôi càng hiểu thêm về anh và càng yêu quý một hồn thơ luôn tươi xanh, tin yêu và nhân hậu với thiên nhiên, quê hương, người thân và bạn hữu. Và bây giờ, tôi may mắn có trong tay tập thơ mới nhất của anh Nước trên lá (2026) được nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc - Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT thành phố Huế gửi. Đọc tập thơ này, tôi muốn viết một vài cảm nghĩ của tôi về thơ Phan Trung Thành - một người thơ mà từ lâu tôi “văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình”.

Người như thế nào thì thơ như thế ấy. Chúng ta thường nghe câu nói cửa miệng ấy của mọi người khi nghĩ về thơ của một ai đó. Câu nói đó tương thích và đúng hơn cả với những người làm thơ. Với Nguyễn Trung Thành cũng thế. Nghĩ về việc cầm bút, anh tâm sự: “Viết thật với chính mình, mô tả đời sống xã hội và không khí thời mình sống. Chia sẻ niềm vui với mọi người qua từng con chữ, câu thơ và hành động sống”. Là nhà thơ chuyên nghiệp, anh luôn âu lo và ngẫm suy về việc lao động chữ và trách nhiệm của người cầm bút. Ngôn từ thơ - hình tượng thơ - tư tưởng thơ luôn là mục đích sáng tạo nên một bài thơ hay, có sức lay động lòng người. Muốn vậy, nhà thơ luôn là người phu chữ và tạo ra nhiều bóng chữ bất ngờ, mới lạ như cách nói của Lê Đạt. Quan niệm vừa nêu trên của Phan Trung Thành, suy cho cùng cũng thế. Qua diễn đạt bằng thơ, anh suy nghiệm về quá trình sáng tạo rất lạ và ảo ẩn: “Chữ là đám quân vô kỷ luật/ Chúng ùa đến mọi lối/ Đừng hy vọng sai khiến mỹ từ/ Chữ tấu hài khi xác chưa vùi dưới huyệt/ Giấy, quan tòa của chính bạn đấy thôi”. Nghe qua, tưởng khó hiểu và vô lý, nhưng ngẫm lại thì hợp lý vì người làm thơ phải thức bao đêm cho chữ và truy tìm bao ngày cho nghĩa để tứ thơ lần tách vỏ trong ngôi nhà tâm hồn khi ngôn ngữ đã hiện sinh tư tưởng, khi tình yêu đánh thức tình người và nỗi nhọc nhằn cay đắng:

Hiện trường là bát nước xáo toàn chữ

Nhúng bất cứ thứ gì cũng không thoát vị cay đắng

Trừ, ánh mắt của em!

                                          (Viết lúc thơ hành)

Tất cả là từ chữ, nhưng chữ đó phải qua bao trở trăn, mơ mộng và lãng du qua những âu lo, buồn khổ của cõi người để tạo ra những giọt nghĩ trong đêm qua bộ lọc của thời gian và tâm hồn luôn tôn thờ cái đẹp, cái thật và cái có ích của thi sĩ nhằm tạo ra những “vùng thức” cho thơ để thơ hiện lên hương vị ngọt ngào và đắng như hạnh phúc từ con chữ và bóng chữ: “Không kì cọ chữ sạch từ trí não/ xuất hiện, chúng là những con đường/ Dưỡng sinh tâm hồn bằng sẻ chia/ mà vị đắng là đấng tối cao bí mật”. Mọi nhà thơ lớn, theo Phan Trung Thành, là nhà thơ đã chết sau khi tác phẩm của họ ra đời. Điều này cũng được nhà triết học và phê bình văn học tài danh người Pháp Roland Barthes nói trong Tiểu luận Cái chết của tác giả (La Mort de L’Auteur). Nghĩa là sau khi hoàn thành bài thơ, coi như tác giả đã chết, không còn dính liếu gì nữa với đứa con tinh thấn của mình. Khi ấy, tác phẩm phó mặc cho người đọc đánh giá. Vì vậy mà các nhà lý luận thuộc trường phái Mỹ học tiếp nhận cho rằng tác phẩm chỉ tồn tại khi tồn tại người đọc là vậy! Khi ấy, chúng ta “hớn hở chúc mừng!” nhà thơ và tác phẩm của họ vì khi ấy mỗi độc giả sẽ gắn nghĩa và tạo sinh nghĩa mới cho thơ. Vì vậy, sáng tạo được xem là cuộc tái sinh sự viết của tác giả và tái sinh sự đọc của độc giả.

Nhà thơ lớn là nhà thơ chết rồi

đời sống chữ mượn linh hồn chung thủy thời gian.

Nói khác hơn, nhà thơ lớn chỉ là khái niệm đùa vui

mà anh chị đang dự phần cơm áo.

                                                  (Nghĩ về thơ)

Từ những quan niệm về thơ như trên của Phan Trung Thành, tôi muốn lần vào bên sau, bên sâu của câu chữ để mong hiểu một phần nào thơ anh theo cách tiếp nhận của mình. Bạn đọc khác sẽ có cách tiếp cận và cách hiểu khác. Đặt tiêu đề cho tập thơ là Nước trên lá, ngoài ý nghĩa sinh học tự nhiên, hẳn tác giả đã nghĩ và liên hệ đến những gì có liên quan đến nghĩa biểu trưng/ biểu tượng theo tinh thần văn hoá và phong thuỷ phương Đông. Nước trên lá ở đây có thể là nước mưa, nước sông, nước giếng… đọng trên bề mặt chiếc lá hoặc cũng có thể là sự ngưng tụ của hơi nước chuyển thành những giọt sương long lanh trên lá. Trạng thái này còn có ý nghĩa tượng trưng cho sự khởi đầu tinh khôi, tươi mới và sự thanh khiết, mát lành, tạo nên không gian sống yêu thương, yên bình của thiên nhiên trong quan hệ tương tác với con người: “Những gì còn lại trong ta/ Khác chi nước mát trên tòa lá sen/ Cùng về soi bóng thân quen/ Tấm gương mặt nước còn nguyên ảnh hình”. Nước rửa sạch và thanh tấy mọi bụi bặm và khô khốc để mang lại sự dịu êm, lóng lánh cho từng chồi non, lộc biếc. Lá còn được liên tưởng và ví như nụ hôn, trái tim và ánh mắt của con người:

Bụi thời gian cũng lặng thinh

Phủ trên lớp sóng chỉ mình em xô

Ngất ngư trận mạc mơ hồ

Rồi yên như nước trên tờ lá rung...

                                      (Nước trên lá)

Vậy là nước và lá tồn tại trong quan hệ giao hoà, tái sinh tươi mát, giúp Phan Trung Thành liên hệ và nghĩ về những gì đồng nghĩa với hiện thực, tâm linh và sự sống thật cuả thiên nhiên và cõi thế, trong đó, có con người sinh học và con người văn hoá - xã hội của anh.

Trước hết là quê hương và mẹ cha mà trong từng dặm dài ly hương, sầu xứ, anh luôn da diết nhớ về. Tất cả vẫn còn đây trong tâm cảm và ngoại cảm gắn với từng ký ức bóng mùa qua: “Trở về/ Sông vẫn sông xưa.../ Mẹ mang áo ấm/ Lên chùa tụng kinh/ Đêm hôm làng xóm yên bình/ Bố ngồi vót đũa/ Truyền hình coi chơi”. Anh luôn thao thức về những thăng trầm, dâu bể nơi làng xưa, bến cũ, không biết người xưa, ai còn ai mất và có còn nhớ đến người con xa xứ này không: “Tính xem mấy chục năm rồi/ Mình đi đâu hỡi/ Mình ngồi nơi đâu/ Trở về không dám về lâu/ Có ai đợi trước chờ sau/ Không mình?”. Trong anh, bao hiện thực và huyền ảo, linh thoại và độc thoại hiện về qua từng cảnh vật và chứng tích u trầm:

Bến đò Ca Cút còn linh

Cầu liền nhịp, sóng gọi tình đêm đêm

Bươi trăng trên động cát mềm

May ra gặp dấu chân em thuở nào...

                              (Viết trước mùa đông)

Cảm thức hoài vãng và vọng xưa luôn xuất hiện trong thơ Phan Trung Thành mà hình ảnh bến sông, con đò thường gắn liền với không gian sông nước trong ngày cuối năm giá rét. Với dáng ngồi thượng cổ, anh âm thầm nghĩ về những vui buồn, ân nghĩa  sau ba mươi năm xa cách: “ngồi lại bên sông một chiều cận Tết/ tháo đôi giày cho gió mát chân/ anh nhớ quê hương đang vào đợt rét/ mới đó mà gần ba mươi năm!”. Anh đành hỏi sông trong tự thoại và tự vấn về những gì hiện hữu song song và đối lập giữa còn và mất, thực tại và giấc mơ, hiện tại và quá vãng, tồn tại và hư vô: “nước sẽ mang đi mọi thứ bọt bèo/ và anh nói những điều có khi không còn nhớ/ đó là cách dòng sông làm mới mình/ bằng tình yêu chuyên chở/ bằng âm thầm mang đi xa thật xa”. Trong anh, hiện lên lây lan và điệp trùng những câu hỏi lạ lùng, mông lung và vô định trước bóng nước dòng sông chợt nhoà chợt hiện:

đành hỏi sông điều gì một đời người mong ngóng

dưới lớp nước là nước, bới hoài dưới nước để gặp giấc mơ xưa

là gì đâu, em hỡi có là gì đâu

khi ta nâng cả buổi chiều mái tóc em như chùm bong bóng

bay lên trời hay sông giữ trong sông?

                                         (Chiều cận Tết với sông)

Từ đó, anh đúc kết và triết lý về bước đi của thời gian và nỗi nhớ bằng chính thời gian và con người sinh học của mình trong trạng thái tịnh thực có đối sánh với tình cảnh chung quanh: “Buổi trưa nằm ngủ ruột không/ Hắt hiu nhớ quá mênh mông cõi này/ Con hạc đứng con bướm bay/ Năm năm tháng tháng ngày ngày...giây giây/ Nhắm rồi mắt của hôm nay/ Mà chân vẫn bước lên ngày hôm qua!” (Tịnh thực).  

Sinh ra và lớn lên nơi có dòng sông và đầm phá mênh mông nên Phan Trung Thành luôn nghĩ về đời mẹ trong đối sánh với đời sông để nghĩ về những gì thiêng liêng, dào dạt nhất mà sông Hằng và sông Hương là biểu tượng cho những gì đồng nghĩa với sự ân huệ, thanh tẩy cùng những đức tin linh cảm và linh ứng: “Dòng Tam Giang chảy trước hiên nhà/ gặp cuối nguồn hòa nhánh sông Hương/ mang phù sa đi chân trời góc bể/ nước sông Hằng trên tóc mẹ bình yên”. Mẹ là sông Hằng dào dạt của đời con với bao đớn đau, chịu thương chịu khó để đến khi hai bàn tay mệt mỏi, mẹ vẫn gượng buồn ôm lấy mảnh đời con: “Mẹ là sông Hằng đời con/ bao đớn đau sóng đằm cuối bãi/ những đứa con rời đi lo bàn tay mẹ mỏi/ tay mẹ trong đời quờ nắm phía con xa”. Con lớn lên và ra đi từ vòng tay chân quê của mẹ để giờ con thành con người khác (the other people/ l’autre personne) mang tầm vóc của sự ra đi và sự trưởng thành: “Mẹ chưa đến sông Hằng mẹ chưa tắm sông Hương/ Mẹ chỉ lội xuống Tam Giang mò trìa bắt hến/ mùa nước lạnh tím sông mẹ bơi qua từng bến/ hái rau sam rau đọt choại mọc hoang”. Con lớn lên và trở thành người kể chuyện cổ tích về mẹ bằng tâm hồn của những dòng sông lớn luôn dào dạt, trong xanh xuôi về biển cả:

Nuôi lòng con từ giọt sữa đầu nguồn

đời khô khát âm thầm thương tay mẹ

con ngồi lắng mây trời qua đất Huế

kể với sông Hằng tóc mẹ mát hơi sương!

                      (Kể chuyện sông Hằng với mẹ)

Vì vậy mà Phan Trung Thanh viết về sông Hương và sông Hằng rất hay và rất minh triết: “sông Hương không nói gì/ cũng như sông Hằng không nói/ sông sinh ra để chờ/ sông sinh ra để tiễn”. Sông là biểu tượng gắn với nước - một cổ mẫu (archétype) mang ý nghĩa trôi chảy, gột rửa và tái sinh bên cạnh những cổ mẫu khác như lửa, đất, mặt trời, mặt trăng để tương sinh và tương hợp giữa con người và mọi sinh vật, sinh thể trên mặt đất: “mặt trời lên đốt lửa trên dòng/mặt trăng lên soi nát trên sông/ ta đã nghe sóng dỗi hờn trong bão/ nhưng không nghe đất đáy thở than/ sông như em giấu hương chờ đợi/ em như sông không nói chỉ ngân nga/ trên mặt nước mọi ảnh hình tan chảy/ có nhau trong đời đâu phải để chia xa?” (Sông Hương vào Đông). Tất cả đều xuất phát từ tình mẫu tử thiêng liêng và tình yêu sông cội nguồn, nguyên uỷ.

Bên cạnh chủ đề hồn quê và tình quê như trên, Nước trên lá còn thể hiện chủ đề tình yêu với nhiều trạng thái và cung bậc gắn với từng không  gian và thời gian cụ thể. Qua đó, anh hiện hữu tình yêu và triết lý khi yêu rất nên thơ và quyến rũ:“Em đã hát trong một ngày mưa/ đã lần bao nhiêu chiếc cúc trong đêm dài hơn đời người/ những dây phơi trên chung cư ngả màu/ treo cả mùa thu nhòe nhoẹt” (Với cơn mưa). Yêu nhau qua từng mùa và qua từng con đường, mái phố với bao kỷ niệm vui buồn hoà điệu cùng hương hoa và cảnh vật: “Phía đông thành phố nơi này em chải tóc/hay trò chuyện cùng lan/ mấy thuở xa rừng ai hát cùng cây mà lá xanh như suối/ qua mãi rừng già trong trẻo rưng rưng”. Để còn đây phía đông thành phố, những dòng tin thao thức nhớ gọi em về: “Nơi mặt trời lên trước bao cánh cửa/ những tia sáng đầu tiên anh dành tặng ban mai/ dòng tin đầy nhớ/ em bay về đông thành phố giữa chập chùng nước mây” (Tin nhắn về phía đông thành phố). Những ban mai tình yêu sau đêm mưa lại hiện lên trời xanh, tiếng ca xanh có lũ chim về ríu ran trên lối mòn, vệ cỏ:

Em thức rồi ta hát tặng sớm mai ríu rít

trời quang chim tìm vạt cỏ

ta tìm nhau trong dòng tin nhớ

đêm áp thấp về trời chắc cũng như anh

(Mưa đêm qua và tiếng ríu rít của sớm mai)

Tình yêu trong thơ Phan Trung Thành bao giờ cũng tựa vào thiên nhiên để tương giao, tương cảm và nhận ra bước đi của thời gian với tiếng gọi tình xôn xao cùng mùa thu lá hát: “Khi ta nhận ra mùa thu/ yêu hết mọi nẻo đường em đi/ thành phố cũng lắng nghe những lời ca hát/ những người yêu nhau hát ca trên mọi nẻo về” (Cùng mùa thu hát). Trong bốn mùa, Nguyễn Trung Thành dành cho mùa thu nhiều luyến lưu, mong nhớ. Mùa đi bằng những chiếc lá vàng rơi trên thảm cỏ dưới cao rộng bầu trời thành xác xác thời gian, làm cho lồng ngực anh bỗng rộng và đầy em nỗi nhớ: “Anh hát trong lồng ngực thanh tao lúc nhớ/ như gió thổi mùa thu qua bước lá/ từng chùm mây xốp rộp trên cao/ anh ngước lên trời đầy em nhớ quá”. Câu thơ “anh ngước lên trời đầy em nhớ quá” là hữu hình hoá cái vô hình rất hay, rất hình tượng Có cả mùa thu tình ly biệt hiện về khiến khoảng trống cõi lòng nén lại thành tình thu qua từng cơn sóng nhớ:

Anh tìm thấy tình yêu thoảng như em

có khoảng trống nào không đan thành sóng nhớ?

anh đặt tên mùa thu, mùa thu không về nữa

mùa thu này biền biệt nén trong nhau!

                                                (Mùa thu không bờ)

Nhưng rồi, Phan Trung Thanh cũng kịp nhận ra trong bi tình chia cách, thời gian lại cố níu giữ những cỗi cằn, bèo bọt để bây giờ xa xót thế này đây: “Không ai biết được vì sao/ ta đã hát những ngày cằn cỗi/ hát trên yêu thương bọt bèo xa hoa/ mà lối về còn ai níu giữ”. Đến như tờ lịch là nhân chứng thời gian mà ta không buồn bóc xé mỗ ngày cũng hờ hững trôi qua, gọi mùa đông về trong lạnh lùng, nuối tiếc: “Không buồn xé tờ lịch thì ngày cũng qua rồi/ ta cứ chạy trên đường để con đường ngơ ngác/ mùa đông trong thành phố này và mùa đông nơi khác/ tiếc thương gì mang lạnh đến nhắc nhau” (Khi mùa đông qua thành phố).

Hình ảnh nước/giọt nước/sông nước xuất hiện nhiều lần và mang nhiều ý nghĩa, tuỳ từng quan hệ bản chất và quan hệ tương tác khác nhau, giúp PhanTrung Thành có cơ hội thể hiện những cung bậc và trạng thái cảm xúc, Qua đó, anh đúc kết những triết lý tình yêu theo kinh nghiệm thực chứng của anh: “nước sẽ mang đi mọi thứ bọt bèo/ và anh nói những điều có khi không còn nhớ/ đó là cách dòng sông làm mới mình/ bằng tình yêu chuyên chở/ bằng âm thầm mang đi xa thật xa”. Từ những thực đơn tri thức tinh thần này, anh rút ra quy luật của con nước và dòng sông theo cách cắt nghĩa của hiện tượng luận (phénoménologie) mà nhà triết học Edmund Husserl đề xuất, giúp anh mô tả hiện thực theo trải nghiệm chủ quan của mình về những gì mà anh ý thức và cảm nhận được: “anh biết lúc này đang nhớ gì thao thiết/ lục bình đã tấp về hướng gió nằm thở cùng bóng cá chiều hôm/những dòng chảy không hờn trách ai/ bởi vì, hạn chế của sông là cạn đáy” (Chiều cận Tết với sông). Dẫu nước có dâng thành thuỷ triều thì cũng có nghĩa gì đâu khi anh và em và mọi sinh thể đều trở thành tro tàn hoang hoải:

Ôi thủy triều, có thấm tháp gì đâu

khi em bồn chồn ta củi mục

chấm một đời vào tro tàn hạnh phúc

em ngước lên trời khi đã hóa sao băng...

                        (Với biển khi anh vắng mặt)

Những đúc kết về hiện sinh đời người và tình yêu xuất hiện rất đa dạng trong thơ Phan Trung Thành, cả trong hiện hữu và viễn tưởng hư vô: “Có lúc trong đời anh đã nghe/ Giọt nước đi trên bóng ngày về/ Thương mình trong quá trong có lẽ/ Đành gửi ân tình sông suối khe/ / Có lúc ta nhầm chiếc sọt hoa/ Chôn toàn di ảnh mới hôm qua/ Đám rước đi rồi dòng kính viếng/ Vô tình đắp mặt kẻ ngôn ngoa!” (Còn sớm phải không Thành). Những kinh nghiệm tự thú và tự bạch bất an như thế đều có nguyên nhân chủ quan và khách quan mà mỗi chủ thể hiện sinh nhận ra trong từng cảm giác bé nhỏ của mình: “Cảm giác bất an giữa đợt sóng/ anh giật mình, thế giới vùn vụt trên chiếc bóng/ lung linh/ khô cạn mấy mùa” (Một bài thơ buồn cho H).

Còn nhiều những bài thơ triết lý hay trong tập thơ Nước trên lá, nhưng tôi không thể minh chứng thêm trong bài viết ngắn này. Qua đây, tôi muốn đồng cảm thêm cùng Phan Trung Thành về thành công và vẻ đẹp triết mỹ trong những bài thơ tự do văn xuôi của anh. Với dạng thơ này, anh đã bắt kịp hệ hình thơ hiện đại trên thế giới và Việt Nam, đặc biệt ở những nhà thơ trẻ khi anh tăng cường phản ánh hiện thực đời sống vào thơ và tự do hoá hình thức câu thơ theo trục kết hợp/ trục cú pháp mà nhà thi học Roman Jakobson đã đúc kết thành nguyên tắc và chức năng thi ca. Những câu thơ, khổ thơ văn xuôi tràn dòng liên kết có ý nghĩa ý nghĩa hoàn chỉnh trong Nước trên lá đều hay và mới, tạo thành những chỉnh thể nghệ thuật hấp dẫn. Bạn đọc tiếp cận toàn bộ tập thơ sẽ tự rút ra những vẻ đẹp và giá trị của từng bài thơ để làm đầy kinh nghiệm sống và kinh nghiệm thẩm mỹ của mình.

***

Vậy là tôi đã lần theo tập thơ Nước trên lá để đồng cảm và sẻ chia tình người, tình yêu và tình thơ với Phan Trung Thành. Một tập thơ nhưng là hội tụ cả một đời vui buồn, chia xa và sum họp, khổ đau và hạnh phúc được viết lúc tác giả đã trải qua những cơn đau thân thể và những trầm tư về đời tư - thế sự khi đang ở ngưỡng tuổi “Ngũ thập nhi tri thiên mệnh” như Khổng Tử xác tín thì tôi tin rằng Phan Trung Thành đã cảm thức được con người sinh học của mình và hiểu được những quy luật của nhân sinh, vũ trụ để bình tâm sáng tạo, bình tâm tín niệm vào tình yêu của mình và sự sống thật của cõi người bao dung, nhân hậu. Và anh đã nương theo nước để tồn tại và hy vọng, để tái sinh thơ và tái sinh từng hồng cầu thắm đỏ: “Hai giờ nữa anh mới được phép uống nước hoặc chất gì đó lỏng mềm để tránh tổn thương, nhưng khi anh viết thì làm gì còn tổn thương nơi nào nữa mà để tránh. Đôi khi, viết là một cuộc tái sinh!” (Bài thơ số thứ tự 05). Chính điều này, Nước trên lá đã truyền sang người đọc lòng yêu thi ca, tình người và cuộc sống. Thơ Nguyễn Trung Thành thuộc mỹ cảm nhân văn và mỹ học của cái đẹp cao cả, như những giọt nước trên lá, luôn long lanh xanh dưới ánh nắng trời để thanh lọc, yêu thương và lan toả./. 

Vỹ Dạ, Đêm 18-9-2026

H . T . H

P/S. Từ ngôi nhà Chồ của gia đình Phan Trung Thành, đêm ấy, tôi cảm tác bài thơ Thắp đêm với nỗi nhớ tiếc những ngôi nhà nổi trên mặt nước của làng Thuỷ Diện giờ không còn nữa, chỉ còn một ngôi nhà Chồ như nhân chứng bi cảm của thời gian. Nhân đây, tôi xin ghi lại bài thơ này để tặng nhà thơ Phan Trung Thành.

 

THẮP ĐÊM

 

Luỵ đò tôi được qua sông

Luỵ chèo tôi lại đi vòng Tam Giang

Nhà Chồ một mái nhớ làng

Nỗi buồn con nước bão tan còn buồn.

 

Đò chiều bến đợi còn nguyên

Mà người biền biệt tận miền di thê

Thắp đêm cho sóng vỗ về

Cho người còn thức, sông quê còn chờ.

 

Người ơi, người ở đừng về

Câu ca níu cả sáu bề nhớ mong

Một vùng đầm phá mênh mông

Con chuồn chuồn nước lượn vòng quanh tôi.

 

Mắt chiều buông nắng về xuôi

Thấy trong cõi lạ một trời hào quang

Nhà Chồ vọng thức trăng tan

Vẳng nghe cõi lặng Tam Giang gọi làng.


MỘT VÀI HÌNH ẢNH TẠI BUỔI RA MẮT SÁCH 'NƯỚC TRÊN LÁ' TẠI PHONG QUẢNG (HUẾ), NGÀY 19-9-2026


Bài viết liên quan

Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm