TIN TỨC

Người thơ mang áo blouse

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-07-17 18:55:28
mail facebook google pos stwis
1180 lượt xem

"Người thơ mang áo blouse" của Đại tá, nhà văn Nguyễn Minh Ngọc là một chân dung lay động về Đại tá, Thầy thuốc Ưu tú Phạm Đình Phú – một chiến sĩ kiên cường nơi chiến trường, một lương y tận tâm cứu người, và cũng là một văn sĩ tài hoa với tâm hồn bay bổng. Cuộc đời ông là bản trường ca của sự bền bỉ, chính trực và không ngừng vươn lên trước mọi bão giông của số phận lẫn những nghịch lý thời cuộc. Mời quý độc giả cùng Văn chương TPHCM khám phá hành trình phi thường của người bác sĩ cầm bút, để thấy sức mạnh của ý chí và vẻ đẹp của văn chương trong việc làm giàu thêm hồn dân tộc.
 

 NGUYỄN MINH NGỌC

Đó là Thầy thuốc Ưu tú, đại tá bác sĩ chuyên khoa I (CKI) Phạm Đình Phú, quê ở xã Sơn Hà (nay là xã Tân Mỹ Hà), huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Cất tiếng khóc chào đời vào năm Ất Dậu 1945, cuộc đời anh cơ cực ngay từ tấm bé. Tên gọi hồi nhỏ là Rớt, vì mẹ anh đi làm rồi đẻ rơi ngoài đồng. Thân phụ là ông Phạm Khoái, từng chỉ huy Đội tự vệ cảm tử xã từ thời kỳ tiền khởi nghĩa. Là đảng viên, ông Khoái phụ trách Trung đội dân công hỏa tuyến, tham gia chiến dịch Bình Trị Thiên (1949-1950) và hy sinh tại Chiến khu Hòa Mỹ thuộc xã Phong Nguyên (nay là Phong Mỹ), huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế, khi chưa đầy tuổi 30.

Ông nội mất sớm, mồ côi cha, người con độc nhất của liệt sĩ lớn lên trong vòng tay gầy guộc của bà nội. Năm 1956, sau khi mẹ “đi bước nữa”, cậu bé Rớt được đổi tên thành Phú và được người cô ruột đưa ra Nghệ An nuôi. Là đoàn viên thanh niên, nhờ hăng hái tham gia các phong trào của địa phương, 17 tuổi, anh được Đảng ủy xã chọn lên huyện học lớp “Đối tượng Đảng”. Vào đại học, chàng sinh viên tiếp tục được chi bộ nhà trường cử đi học lớp bồi dưỡng lý luận. Dẫu có trong tay chứng chỉ hai lần “Đối tượng Đảng” vậy nhưng con đường phấn đấu của anh lại khá trầy trật, trắc trở.

Tốt nghiệp phổ thông cấp 3, năm 1966, Phạm Đình Phú trúng tuyển vào Đại học Y khoa Hà Nội. Do kham khổ, thiếu chất, còi cọc, 21 tuổi mà anh thấp bé hơn cả đứa cháu ngoại 10 tuổi của mình sau này. Khi chàng trai đạp xe vào thị xã Hà Tĩnh để làm thủ tục cắt chuyển hộ khẩu ra Hà Nội học, người phụ nữ phụ trách hộ tịch đã phải thốt lên vì quá ngạc nhiên. “Có 37 cân 7 mà đòi học bác sĩ, ai nhận?”.

Những năm tháng học tập, rèn luyện tại lớp Y1C ở rừng núi Thái Nguyên, đã trui rèn cho người thầy thuốc tương lai phẩm chất kiên cường, nhẫn nại. Tốt nghiệp ra trường, tháng 10-1971, bác sĩ Phạm Đình Phú nhận lệnh nhập ngũ. Là con liệt sĩ, nhưng anh vẫn không hề nại cớ để xin ưu tiên, mà tự nguyện lên đường như nhiều tráng đinh khác khi đất nước có giặc. Đầu năm 1972, anh về Khoa chấn thương B1, Bệnh viện Quân y dã chiến 112, phục vụ chiến dịch giải phóng Quảng Trị. Bên cạnh nhiệm vụ chuyên môn, bác sĩ Phú còn được giao biên soạn “Cẩm nang cấp cứu, điều trị chấn thương tuyến trước”; anh làm phó bí thư chi đoàn thanh niên, tổ trưởng tổ y sinh, phụ trách khối thương binh nặng. Người bác sĩ trẻ còn được phân công giúp đỡ, cảm hóa hai y tá cá biệt.

Đặc biệt, trong điều kiện cực kỳ khó khăn, thiếu thốn ở nơi giới tuyến, được sự ủng hộ của Ban giám đốc, bác sĩ Phú cùng đồng nghiệp đã táo bạo mổ “vượt cấp” cho một ca rất khó. Bệnh nhân là một cháu gái còn sót lại của người nông dân nghèo ở Vĩnh Linh, cháu bị bỏng từ lúc 3 tháng tuổi, sau trận pháo kích của Mỹ, giết chết mẹ cùng bốn anh chị em của bé. Cháu bị tật hai bàn tay, không cầm được bút, nên chẳng thể đi học. Nghĩ đến ân tình sâu nặng với đồng bào, đồng chí, kíp mổ quyết định giải phóng sẹo bàn tay bằng kỹ thuật cắt sẹo, nới gân, ghép da Wolfkraw… Kết quả, họ đã tạo “bàn tay mới” cho cháu bé, đem lại niềm vui cho người dân tuyến lửa. Vài tháng, một buổi chiều sau cơn mưa, bác nông dân lam lũ dắt con đến giơ tay lên khoe với các bác sĩ quân đội, nụ cười nhòa trong nước mắt. Với bác sĩ Phú, đây là không chỉ là phần thưởng chuyên môn mà còn là tâm đức của người thầy thuốc.

Sau ngày Hiệp định Paris được ký kết, trở ra Bắc tu nghiệp, anh về trường nhận bằng tốt nghiệp, đến tháng 5-1973, thì được đứng chân trong hàng ngũ của Đảng. Tiếp đến, đơn vị chọn cử Phạm Đình Phú đi tu nghiệp ở nước ngoài. Trớ trêu thay, khi về tập trung học ngoại ngữ để chuẩn bị lên đường, thì các học viên được cử đi lao động đắp đê. Lý do “đắp đê cũng quan trọng như đánh giặc. Lũ lụt cũng nguy hiểm như giặc ngoại xâm…”. Sau 2 tháng cật lực lao động, họ trở về đơn vị cũ nhận nhiệm vụ mới.

Cuối năm ấy, bác sĩ Phú nhận quân hàm thiếu úy. Năm sau, anh được cử đi học “Tạo hình chấn thương” tại Bệnh viện 109, trung tâm chấn thương chỉnh hình tuyến cuối của quân đội ở Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc. Học gần xong chương trình thì tin tức từ các chiến trường miền Nam liên tiếp dội về. Với tinh thần tất cả cho cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, anh Phú được triệu về gấp để chuẩn bị lên đường ra mặt trận. Bấy giờ, Bệnh viện dã chiến 112 được thu gọn, đi phục vụ Chiến dịch Hồ Chí Minh. Bác sĩ Phạm Đình Phú đảm nhiệm Phó khoa Ngoại chấn thương B1. Kết thúc chiến dịch, khoa B1 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Bệnh viện 112 được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Năm 1976, tại Bệnh viện Quân y 105, bác sĩ Phú lại được thông báo làm thủ tục đi học nước ngoài. Hoàn cảnh “trên răng, dưới dép”, anh lao vào học, nhưng đến phút 89 thì bị dội gáo nước lạnh “đề tài tạo hình khớp gối, bạn chưa nhận”, thế là đành tiu nghỉu trả valy và vé máy bay, quay về. Mùa thu năm 1977, anh được Ban giám đốc Bệnh viện cho biết “chỉ cử một mình đồng chí” đi học nước ngoài. Lần này thì anh chần chừ, không còn hào hứng. Nhưng là người lính thì nhiệm vụ không thể chối từ.

Sau hơn nửa năm tập trung học tiếng Nga, bác sĩ Phú thi đạt điểm 7. Nhưng sự đời không hề đơn giản, hóa ra điểm “chạy” lại quan trọng hơn rất nhiều điểm thi! Lớp ấy, nhiều vị chỉ được điểm 5, thậm chí có kẻ bị điểm liệt, nhưng không hề hấn gì, thảy họ đều ung dung xuất ngoại ngon lành, còn anh Phú tiếp tục bị loại. Quá tam ba bận, rõ thật là không còn gì để luận bàn.

Non sông liền một dải chưa được bao lâu, nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề còn chưa kịp hồi phục thì đất nước đứng trước nguy cơ xảy ra chiến tranh ở cả hai đầu biên giới. Khi chiến sự nổ ra ở phía Bắc (17-2-1979), vài ngày sau, ở ngoại ô thị xã Sơn Tây, tầm hơn 9 giờ sáng, bác sĩ Phú đang mổ cắt mỏm cụt đùi cho một bệnh nhân bị thương trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Ca mổ sắp hoàn thành thì anh được gọi ra gặp chính ủy Bệnh viện 105, nhận lệnh lên biên giới ngay tắp lự. Mặc dù chẳng được báo trước, cũng không hề đả thông tư tưởng, nhưng không chút chần chừ, bác sĩ Phú tháo găng tay còn dính máu, bàn giao lại ca mổ cho người khác. Anh chạy vội về nhà thu xếp ba lô lên đường, để lại sau lưng người vợ trẻ (thương binh) cùng hai đứa con thơ dại. May sao, vợ anh cũng là một quân y sĩ, làm việc tại khoa A1 của bệnh viện này, nên chị không chỉ chấp nhận mà còn chia sẻ, động viên chồng vững bước. Ra tuyến trước, bác sĩ Phú được giao chức Trưởng khoa Ngoại, đảng ủy viên bệnh viện, kiêm bí thư chi bộ liên khoa. Vượt bao gian khó dưới tầm pháo địch, sau 3 năm hoàn thành tốt nhiệm vụ, con đường trở lại đơn vị cũ công tác cũng hết sức bầm trầy. Từ mặt trận trở về trong tình trạng sức khỏe suy sụp, bác sĩ Phú bị viêm phế quản nặng, biến chứng giãn phế nang, ho ra máu, lờn thuốc. Vậy mà anh được “ưu ái” bố trí sang bộ phận mổ tử thi, từ bỏ chuyên khoa chấn thương, lý do “khoa này không còn chỗ”! Khi người ta muốn chứng tỏ uy quyền độc đoán của mình, thì sự ép buộc và đe dọa luôn đi liền với nhau. Sau gần 4 tháng bền bỉ đấu tranh, anh mới được trở về với khoa “ruột” của mình.

Suốt hơn 10 năm cầm dao kéo, bác sĩ Phạm Đình Phú đã mổ thành công nhiều ca kết-ghép xương phức tạp, đồng thời ông làm chủ đề tài 3 công trình nghiên cứu khoa học, như “Tạo hình khớp gối”, “Cốt tủy viêm đường máu”, “Viêm xương do chín mé”. Từ những kiến thức, kinh nghiệm tạo hình tuyến trên, cộng với sự nỗ lực và khiêm tốn học hỏi, tay nghề của ông ngày càng vững vàng.

Đầu năm 1983, ông được chọn về Học viện Quân y dự lớp đào tạo chuyên ngành bỏng toàn quân đầu tiên. Được thọ giáo bởi những bậc thầy như Giáo sư TSKH. Lê Thế Trung[1], ngoài kiến thức bỏng, các học viên còn được mở rộng thêm các chuyên ngành liên quan của thế giới.

Sau chuyến đi “tiền trạm”, tháng 4-1985, bác sĩ Phạm Đình Phú nhận lệnh điều động về Bệnh viện 175[2]. Thực hiện công cuộc “Nam tiến”, ông phải giải một bài toán khó, lần lượt chuyển vợ con vào, thực hiện việc hợp lý hóa gia đình. Một thời gian sau, vợ ông, đại úy Diệu Mỳ cũng được chuyển về Trung tâm Huyết học phía Nam thuộc Cục Quân y.

Tuy nhiên, “cuộc chiến” trong thời bình xem ra lắm khi còn khốc liệt không kém gì thời bom đạn. Thời kỳ tiền đổi mới, có biết bao chuyện dở khóc, dở cười, bởi thói chuyên quyền độc đoán, lộng hành.

Bản tính lành hiền, đam mê học hỏi và nghiên cứu khoa học, đặc biệt với tâm đức của mình, ở đâu bác sĩ Phú cũng luôn trải lòng chân thật. Nhưng có lẽ vậy mà cuộc đời ông đã gặp không ít tai ương và cả sự quy chụp thô thiển. Năm 1993, Học viện Quân y chiêu sinh lớp Cao học Bỏng đầu tiên, bác sĩ Phú có tên. Tuy nhiên, hoàn cảnh nghèo ngặt, nhà dột, một vợ ba con nheo nhóc, nếu đi học thì thảy cùng khốn khổ. Nào ai hình dung được cảnh sống ở giữa Sài Gòn mà nữ đại úy quân y phải gom quét lá khô về làm chất đốt cơ chứ. Những ngày bác sĩ Phú tập trung dự khóa ở Hà Nội, mấy mẹ con ở nhà, có bữa thức ăn chỉ độc quả trứng luộc chia làm bốn phần, dầm mắm. Ông làm đơn đề nghị vay đơn vị 120.000 đồng để đi học và cam kết hoàn trả đúng hẹn, lương tháng dành cho vợ con, nhưng bị từ chối thẳng thừng. Chẳng còn cách nào khác, bác sĩ Phú đành trình bày xin Học viện cho lùi lại đợt sau. Trở về, vừa công tác, ông vừa tiếp tục hoàn thành 2 đề tài nghiên cứu khoa học còn dở dang: “Bỏng hóa chất” và “Bỏng pháo trong 10 năm điều trị tại Viện 175”.

Từ chuyện ba lần xuất ngoại bất thành, đến con đường học hành nâng cao trình độ chuyên môn của bác sĩ Phú ở trong nước đều trắc trở. Qua một người bạn bác sĩ là cháu gọi Xuân Diệu bằng cậu, Phạm Đình Phú có dịp được diện kiến nhà thơ lớn vài lần. Cảm thương hoàn cảnh của người đồng hương mới quen, nhà thơ Xuân Diệu xúc động viết bài thơ “Nỗi niềm em” khá dài, trong đó có câu: “Con liệt sĩ độc nhất ba lần ra trận. Đường xuất ngoại gập ghềnh đá nhọn”. Đầu năm 1995, Bộ Quốc phòng chiêu sinh khóa “Chuyên khoa II” tại Học viện Quân y. Mặc dù hội đủ các tiêu chí: Ra trường hơn 10 năm, có bằng CKI trên 5 năm, với 4 đề tài khoa học đã được phê duyệt, đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nhưng cuối cùng ông vẫn trượt… vỏ chuối.

Buồn hơn, vị bác sĩ bất ngờ trở thành nạn nhân, bị vô hiệu hóa chức danh, tước quyền đi học, mất việc làm. Suốt 24 năm làm chuyên khoa, 20 năm trực tiếp cầm dao kéo, ông cùng đồng nghiệp thực hiện hàng ngàn ca mổ thành công; đã có không ít ca bệnh hiểm nghèo, bỏng nặng (cấp độ 2 và 3) thương tổn từ 65-75% được cứu chữa thoát chết. Ngần ấy năm công tác, chưa hề sai phạm về y đức, y thuật, chi bộ luôn đạt “Trong sạch vững mạnh” vậy mà trung tá bác sĩ - bí thư chi bộ khoa 49 tuổi đột ngột “được”… nghỉ hưu.

Điều đáng nói là trong lúc bác sĩ Phạm Đình Phú đang thực hiện ca mổ cắt sẹo, ghép da Wolfkraw cho bệnh nhân di chứng bỏng, dự kiến trong 3 tiếng đồng hồ, cuộc mổ còn chưa kết thúc, thì ông được gọi ra gặp lãnh đạo bệnh viện. Tưởng đâu lại chuyện “nước sôi lửa bỏng” như thời nhận lệnh ra mặt trận. Hóa ra không phải vậy, người ta đột ngột ấn quyết định hưu vào tay vị bác sĩ, xem như chuyện đã rồi mà không một lời giải thích. Căn cứ Luật sĩ quan thì phải 3-4 năm nữa, cấp hàm ấy mới đủ tuổi nghỉ. Tuy nhiên, tôn trọng tổ chức, chấp hành “quyết định”, ông điềm tĩnh bàn giao sổ sách, tài liệu chi bộ và công việc chuyên môn, chào giã biệt anh chị em trong khoa, nhưng từ chối dự “liên hoan” chia tay.

Chưa từng có một trường hợp nào cán bộ được học hành đào tạo bài bản, nhưng không hề bị kỷ luật dù nhỏ nhất được giáng nghỉ một cách “bí mật” như vậy cả. Khi nạn nhân không chấp nhận và chất vấn thì họ tránh trớ và giở trò đe nẹt, thậm chí cả thách thức và dọa dẫm, rằng đã cầm quyết định rồi thì phải chấp hành thôi. Không thể thay đổi được! Nực cười một lãnh đạo bệnh viện còn làm ra vẻ quan tâm, thản nhiên hỏi “Phú con duy nhất của liệt sĩ à? Vợ là thương binh?”.

Tìm hiểu, nắm được căn nguyên của vấn đề, té ra người ta muốn nhận về một kẻ quen thân, ra trường nhiều năm nay, dù chưa có bằng chuyên khoa bỏng, nhưng ưu điểm nổi bật là “khỏe mạnh và hát hay”… Để nhận người mới về, tất phải đẩy người cũ đi, dọn chỗ trước. Đó là điều khó chấp nhận, bác sĩ Phú quyết làm cho ra nhẽ. Bên cạnh những kẻ xấu, vẫn còn rất nhiều người tốt và tử tế. Họ ủng hộ cuộc đấu tranh tìm ra chân lý, bảo vệ người trung thực. Vụ việc loang rộng ra cả nước, khiến dư luận bất bình và công luận đã vào cuộc. Báo Tiền Phong (ngày 6-12-1995) kịp lên tiếng, với bài “Một quyết định nghỉ hưu có nhiều uẩn khúc” của nhà báo Thái Hoàng. Cuối cùng, mọi việc được sáng tỏ! Sau 365 ngày “ngồi chơi xơi nước”, tháng 6-1996, Bộ Quốc phòng có văn bản: Trung tá bác sĩ Phạm Đình Phú trở về Khoa bỏng và tạo hình, tiếp tục công tác. Nhiều đồng nghiệp cùng bầu bạn và bệnh nhân kéo đến chúc mừng ông.

Năm 1998, ông nhận quân hàm Thượng tá và năm 2002, được thăng hàm Đại tá. Tháng 2-2003, đại tá bác sĩ CKI Phạm Đình Phú được vinh danh “Thầy thuốc ưu tú”. Tròn tuổi 60, ông mới được nghỉ chế độ.

Sống lạc quan, yêu đời, tâm hồn bay bổng, bác sĩ Phạm Đình Phú đã cầm bút. Tập thơ đầu tay của ông được Nhà xuất bản Văn nghệ ấn hành năm 2006 với tên “Có thể nào quên”. Những vần thơ mộc mạc, chân tình và ấm áp. Ấy là nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi về người cha liệt sĩ đã dâng hiến tuổi xuân cho Tổ quốc.

“Cha tôi có mỗi mình tôi,

Hai người nhập ngũ một người hy sinh.

Non sông một giải thanh bình,

Bôn ba lặn lội một mình tìm cha”.

                                             (Tìm cha)

“Ngọn đèn soi

Người thoáng hiện cười tươi

Vẻ phong trần dáng “Anh Vệ quốc”

Mắt hiền từ Cha bước đến bên con

Trong mơ

Những bước chân chắc nịch”.

                                             (Bước chân)

Và niềm tự hào nho nhỏ của người con, ông viết:

“Cây đã vươn cành

Hoa trái rợp màu xanh

Hạt giống cha gieo trong bão tố

Con vươn mình gặt hái những mùa vui…

Với “gia tài” 7 tập thơ (“Có thể nào quên”, “Hạt giống cha gieo”, “Thương nhớ người dưng”, “Ngoảnh lại mùa đông”, “Lời ru xanh”, “Bông nở trái mùa”, “Ấm lòng những nụ hôn như thế) và 1 tập truyện ký “Blouse màu lá”, người thầy thuốc trở thành hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong căn nhà nhỏ trên đường Hạnh Thông, quận Gò Vấp, vào tuổi U80, bác sĩ Phú vẫn tiếp tục tận hiến, khám và tư vấn sức khỏe giúp người; nhất là ông vẫn giữ thói quen đọc sách và cầm bút. Ông hằng tâm niệm: “Bạc tiền bao nhiêu rồi cũng hết. Danh vọng, quyền lực rồi cũng qua. Chỉ có tình người xanh tươi ở lại. Như cây trời kết trái đơm hoa”.

N.M.N

[1]. Thiếu tướng Lê Thế Trung (1928-2018), Anh hùng LLVTND, Thầy thuốc Nhân dân.

[2]. Bệnh viện Quân y tuyến cuối. Năm 2002, trực thuộc Bộ Quốc phòng.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm