- Truyện
- Món nợ đời người – Truyện ngắn Mai Hoàng Hanh
Món nợ đời người – Truyện ngắn Mai Hoàng Hanh
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Sau đám tang, căn nhà bỗng rộng ra. Cái chõng tre kê sát vách như thừa thêm một khoảng trống. Chiếc ấm trà vẫn nằm trên bàn gỗ, nhưng không còn ai gọi: “Mẹ nó ơi, pha tôi ấm trà”. Những chai rượu dưới gầm bàn đã được dọn đi. Mùi men cũng theo người chết mà tan dần.

Tác giả Mai Hoàng Hanh
Người ta nói, dì tôi có cái lưng còng hơn dấu hỏi trong vở tập viết của đứa cháu nội. Dì bảo già ai rồi cũng thế. Riêng tôi nghĩ, cái lưng dì còng xuống không hẳn vì tuổi tác, mà vì đã cõng quá nhiều thứ chẳng biết đặt xuống đâu.
Dì trao đời con gái cho người thương năm mười tám tuổi. Vượt qua bao rào cản gia đình, họ mới nên vợ nên chồng. Chú tôi khi ấy là một gã trai cường tráng, hơi cục cằn nhưng thật thà, chịu khó. Chú làm mộc khéo tay, làm ruộng cũng chẳng chịu thua ai, cày một buổi bằng người ta làm cả ngày. Chú thích uống rượu. Ban đầu là vài chén sau buổi cày. Rồi vài chén thành vài bữa. Vài bữa thành ngày nào cũng say. Mỗi lần chú về, dì lặng lẽ dọn cơm.
– Cơm đâu?
– Đây!
Chú ăn ngấu nghiến. Có hôm không nuốt hạt cơm nào, chỉ người và hơi rượu ăn nhau. Có lúc chú hất cả mâm cơm xuống đất. Dì không khóc, lặng lẽ gom từng mảnh bát vỡ. Không ít lần chứng kiến cảnh ấy, tôi bức xúc:
– Dì bỏ quách lão nát rượu này đi, sống thế này nhục hơn một con chó!
Dì nhìn tôi:
– Bỏ thế nào được, thiếu dì, ông ấy biết xoay sở thế nào.
Tôi không biết nói gì thêm.
Dì có ngôi nhà ngói ba gian, mấy sào ruộng, mảnh vườn nhỏ và đàn con thơ. Có lẽ thứ dì còn giữ được là hy vọng: một ngày nào đó chú sẽ bỏ rượu. Nhưng rượu đâu có bỏ chú. Những lúc tỉnh rượu, chú hiền khô, cứ như chưa từng có chuyện gì. Chú ngồi chẻ lạt, đan lát rổ rá ngoài hiên, gọi:
– Mẹ nó ơi, pha tôi ấm trà.
Dì bắc nồi nước, tráng ấm, bỏ trà rồi rót nước.
Chú nhấp một ngụm:
– Trà bữa nay ngon thế!
Dì cười. Có lẽ chỉ một câu ấy cũng đủ để dì nuôi thêm hy vọng.
Rồi quá trưa, chú lại lục lọi tìm rượu. Gian nhà nhỏ lại vang lên tiếng chửi bới. Vết thương của dì không hằn trên da thịt. Nó nằm trong cái giật mình mỗi khi tiếng cổng mở, trong ánh mắt thấp thỏm ngoài hiên, trong đôi tay vội vã dọn cơm trước khi cơn say trở về.
***
Một lần về quê, tôi thấy trên mặt dì một vết sẹo, hai mắt trũng sâu bầm tím.
– Dì bị ngã à?
Dì ngoảnh mặt:
– Ừ. Trượt chân.
Tôi biết dì nói dối. Nhưng không cố gặng hỏi.
Bỗng dì nghẹn lại:
– Tao chỉ mong chú mày ngủ một giấc thật dài.
Tôi tưởng dì nói đùa.
Dì không cười, vội đi vào nhà.
***
Hôm ấy, trời mưa tầm tã. Chú uống từ sáng. Đến quá trưa, người nồng nặc mùi rượu, bước chân xiêu vẹo, cơn giận lại tỉnh táo đến đáng sợ. Dì đang vo gạo bên giếng. Chú từ trong nhà bước ra, tay vẫn cầm chai rượu.
– Bà vừa lải nhải cái gì đó?
Dì không đáp.
Chú vứt chai xuống sân. Mảnh thủy tinh văng tung tóe.
– Tôi nói bà có nghe không?
– Ông uống nhiều rồi. Vào nhà nằm đi.
– Bà lên mặt với tôi à?
Chú quay vào. Dì tưởng mọi chuyện đã qua. Một lát sau, chú lao ra với con dao bầu. Dì sững người:
– Ông bỏ xuống đi!
Chú hùng hổ tiến tới. Dì quay người chạy về phía cổng. Chú lảo đảo đuổi theo, tiếng chân nện xuống nền gạch nghe thô nặng giữa con ngõ trưa vắng. Đến đầu ngõ, chú bỗng trượt chân, ngã vật xuống, đập đầu vào tảng đá. Miệng chú ú ớ.
Dì khựng lại. Chỉ một thoáng, dì quay lại, chạy bổ đến bên chú.
– Ông ơi! Ông ơi!
Dì lay gọi. Chú không đáp. Đôi môi mấp máy như còn muốn nói một điều gì đó, rồi im bặt. Dì thất thanh gọi hàng xóm. Người trong nhà, ngoài ngõ tá hỏa chạy ra.
Chú đã chết. Chết thật rồi. Dì quỳ sụp bên chú, gọi, lay, gọi mãi... nhưng người đàn ông từng khiến cả nhà khiếp sợ giờ nằm im. Dì đưa tay vuốt mái tóc rối của chú:
– Sao ông không chịu sống cho tử tế...
Câu nói nhỏ đến mức gần như tan vào mưa.
***
Sau đám tang, căn nhà bỗng rộng ra. Cái chõng tre kê sát vách như thừa thêm một khoảng trống. Chiếc ấm trà vẫn nằm trên bàn gỗ, nhưng không còn ai gọi: “Mẹ nó ơi, pha tôi ấm trà”. Những chai rượu dưới gầm bàn đã được dọn đi. Mùi men cũng theo người chết mà tan dần.
Người ta bảo dì được sống thảnh thơi rồi. Nhưng đêm ấy, dì thức trắng. Đến một đêm, nghe tiếng cành cau cọ mái ngói, dì bật dậy. Đứng hồi lâu, dì mới biết chẳng có ai ngoài sân. Dì bước ra hiên.
– Ông nó ơi...
Tiếng gọi rơi xuống sân. Không ai đáp. Dì đưa tay lên miệng, như thể chính mình cũng ngạc nhiên vì sao lại gọi người đã chết.
Tôi đứng sau cánh cửa, nghe tiếng khóc của dì. Vẫn không thành tiếng. Có lẽ, bao năm qua, dì đã khóc như thế.
***
Một tháng sau, tôi về quê.
Dì đang dọn lại chiếc tủ cũ của chú. Trong ngăn kéo dưới cùng, dì thấy một tờ giấy đã bạc màu. Dì cầm lên, lặng đi.
– Của chú à?
Dì gật đầu.
– Hôm chú chết, dì tìm thấy trong túi áo.
Dì chậm rãi mở tờ giấy. Những dòng chữ bằng bút bi xiêu vẹo, nguệch ngoạc hiện ra:
“Vợ à.
Tôi biết hết. Biết những đêm vợ khóc mà tôi vẫn quay mặt vào tường, giả vờ ngủ. Biết những vết bầm trên mặt vợ từ đâu mà có. Biết mỗi lần nghe tiếng cổng mở, các con lại nép sau cánh cửa.
Tôi biết hết. Chỉ là tôi hèn.
Tôi đã nhiều lần hứa bỏ rượu. Rồi lại uống. Tôi cứ tưởng rượu giúp mình quên buồn. Hóa ra nó chỉ khiến tôi quên mình là chồng, là bố, quên những người thương mình nhất.
Tôi say một đêm, vợ sợ cả đời.
Vợ à, tôi xin lỗi người con gái mười tám tuổi năm nào lấy tôi, chỉ mong một mái nhà bình yên. Vậy mà gần cả đời, nghe tiếng cổng mở cũng phải giật mình.
Các con à, bố xin lỗi. Người đáng lẽ che chở cho các con lại khiến các con phải nép sau cánh cửa.
Những gì tôi gây ra thì không chôn được.
Tôi chết, tôi hết. Còn vợ vẫn phải sống. Các con vẫn phải lớn. Tôi chỉ mong một điều: đừng để các con nhớ về bố chỉ bằng những cơn say. Hãy nói với chúng rằng đã có một người bố thương chúng. Chỉ tiếc, người ấy đã không thắng nổi chính mình.
Vợ à, tôi nợ vợ một cuộc đời bình yên.
Các con à, bố nợ các con một tuổi thơ không có tiếng chai vỡ, không có những đêm nép sau cánh cửa, không có nỗi sợ mang tên bố.
Xin lỗi em.
Bố xin lỗi các con.
Còn em và các con, hãy sống tiếp.
Chồng của em.
Bố của các con”.
Dì gấp mảnh giấy.
Tôi hỏi:
– Dì có tha thứ cho chú không?
– Dì không biết.
Ngoài sân, một chiếc lá cau rơi xuống. Dì nhìn ra nơi chú đã ngã.
– Nhưng dì thương chú.
Tôi lặng im.
Dì nói:
– Người ta cứ tưởng bị làm khổ thì chỉ có thể hận. Nhưng sống với nhau gần cả đời, đâu phải nói bỏ là bỏ được. Dì thương cái người ngày xưa chưa uống rượu. Thương người từng cày ruộng nuôi con. Thương cả cái người đến cuối đời muốn nói một lời tử tế mà không kịp nói.
Dì lau nước mắt.
– Giá mà chú tỉnh sớm hơn...
Ngoài kia, chiều xuống rất chậm.
***
Từ ngày ấy, dì vẫn sống trong căn nhà cũ. Sáng quét sân, trưa nấu cơm, chiều tưới mấy luống rau. Trên mâm cơm, dì không bao giờ đặt hai cái bát nữa.
Một hôm tôi về, thấy dì ngồi một mình ngoài hiên.
– Dì ăn cơm chưa?
– Rồi.
Tôi nhìn vào bếp. Mâm cơm chỉ có một bát canh, một đĩa rau và bát cơm đặt ngay ngắn. Tôi chợt nhận ra, suốt bao nhiêu năm, dì chưa từng thật sự được ăn một bữa cơm một mình.
Bây giờ, căn nhà không còn tiếng bước chân của chú. Dì không còn phải ngóng tiếng cổng mở. Cái lưng dì vẫn còng. Nhưng bàn tay đã thôi run. Tôi tưởng dì cuối cùng cũng được sống thảnh thơi.
Cho đến một hôm, dì nhìn về phía con đường làng, khẽ hỏi:
– Không biết dưới ấy chú có còn uống rượu không con nhỉ?
Tôi không biết trả lời thế nào.
Gió đi qua hàng cau. Tờ giấy nằm im trong túi áo dì.
Có những món nợ không nằm dưới mồ. Chúng ở lại trong một căn nhà nhỏ, trong mái tóc bạc của một người đàn bà, và trong một câu hỏi không bao giờ có lời đáp.
M.H.H