TIN TỨC
  • Truyện
  • Nắng rót mật trên sông La – Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải

Nắng rót mật trên sông La – Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-08-31 23:30:40
mail facebook google pos stwis
13 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Sáng mở cửa thấy trời trong, bố đã kéo những tấm bạt ra giữa sân. Thóc được trải thành một lớp mỏng. Lạc trong chum cũng được mang ra hong lại. Những tàu lá chuối khô, mấy thanh tre dành sửa mái bếp, cả đôi dép lội sông lâu ngày không dùng cũng được bố xếp vào chỗ có nắng. Bố thường bảo nắng tháng Chín “biết việc”. Không dữ đến mức làm hạt thóc quắt đi, cũng không nhạt đến mức phơi cả ngày vẫn ẩm. Nắng ấy vừa đủ làm giòn rơm, thơm lạc, làm khô lớp bùn bám dưới đáy thuyền.

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

Chiều tháng Chín, khi nắng bắt đầu rót mật xuống sông La, tôi bỏ lại sau lưng một ngày đầy những việc chưa xong, một mình tìm về bến cũ.

Đàn bà đi một mình thường hay bị hỏi: Đi đâu? Gặp ai? Bao giờ về? Dường như mỗi bước chân của đàn bà đều cần một cái cớ. Tôi thì chẳng có cớ gì ngoài một phút bỗng thấy nhớ dòng sông, nhớ thứ nắng vàng hanh hao trên những phiến lá non, nhớ cả bóng bố đã khuất từng ngồi lặng lẽ bên bờ nước năm nào.

Bên bến cũ có một bà cụ bán nước. Quán chỉ là chiếc chõng tre kê dưới gốc cây, trên đặt ấm chè xanh, mấy chiếc chén sứ đã sứt miệng và một hũ kẹo lạc. Bà cụ nhìn tôi, hỏi:

- Cô chờ ai?

Tôi đáp:

- Cháu chờ nắng.

Bà cười:

- Nắng có chân đâu mà chờ?

Tôi cũng cười:

- Vì không có chân nên mới đáng chờ. Người có chân thường đến rồi lại đi.

Bà cụ ngước lên nhìn tôi, đôi mắt nhỏ nheo lại như muốn hỏi thêm. Nhưng người già từng trải thường biết có những câu chuyện không nên tò mò. Bà chỉ rót chén nước, đẩy về phía tôi:

- Thế thì ngồi đây. Nắng chiều ni đẹp.

Tôi ngồi xuống, tháo chiếc khăn mỏng quấn ở cổ, đặt sang bên cạnh. Trời tháng Chín trong đến lạ. Sau những ngày mưa, mây được gió đẩy lên cao, để lộ một khoảng xanh nhạt và sâu. Nắng từ khoảng xanh ấy rót xuống, không chói chang, gay gắt như nắng tháng Sáu, tháng Bảy. Nó vàng đằm, óng nhẹ, phảng phất chút hanh hao như màu chiếc áo lụa đã qua nhiều lần giặt.

Dòng La nằm giữa đôi bờ, chậm rãi mang nắng về xuôi.

Nước sông sau mấy trận mưa không còn xanh. Phù sa từ thượng nguồn làm mặt nước chuyển sang màu vàng nâu. Nắng đổ xuống, quyện vào nước, sóng sánh như mật ong vừa rót. Những chỗ có sóng, ánh sáng vỡ thành muôn mảnh nhỏ. Những chỗ lặng, nắng nằm yên thành từng vạt dài, tưởng có thể cúi xuống mà vốc lên, đem về hong một góc lòng đã lâu không thấy ấm.

Tôi hỏi bà cụ:

- Bà có thấy nắng hôm nay giống mật không?

Bà đang têm trầu, không ngẩng đầu:

- Mật thì ngọt. Nắng ni phơi thóc được, rứa là quý rồi.

Tôi bật cười. Người quen làm lụng không nhìn nắng bằng con mắt của kẻ nhàn. Với bà, nắng đẹp là nắng phơi được mẻ thóc, hong khô tấm chăn, làm giòn rổ lạc. Còn tôi, người đàn bà đôi lúc rỗi lòng mà không rỗi việc, lại ngồi nghĩ nắng là mật, sông là chén, trời đất đang mở một cuộc rượu không mời mà khách cứ tự tìm đến. Trong chiếc làn nhỏ của bà cụ có một chai rượu nếp. Tôi hỏi mua một chén. Bà ngạc nhiên:

- Đàn bà uống rượu dễ buồn.

Tôi đáp:

- Có khi không uống mới buồn, bà ạ.

Bà nhìn tôi một lát rồi rót. Chén rượu nhỏ, trong veo. Nắng chiếu vào, rượu chuyển màu hổ phách. Tôi nâng chén về phía dòng sông:

- Sông La, hôm nay tôi mời người một chén.

Sông không nói. Một con sóng nhỏ xô vào bờ rồi rút ra, nghe như tiếng cười rất khẽ.

Tôi uống. Rượu cay nơi đầu lưỡi, xuống cổ lại ấm. Đàn bà uống rượu một mình bên sông kể cũng có phần ngông. Nhưng người đời đã cho đàn ông được say với trăng, với nước, với chuyện công danh, lẽ nào đàn bà không được uống một chén cùng nắng tháng Chín?

Tôi vốn chẳng phải người nghiện rượu. Chỉ có đôi lúc muốn mượn vị cay để hỏi lòng mình còn biết ấm hay không. Qua một quãng tuổi, người đàn bà ít khi được sống riêng với cảm xúc của mình. Sáng mở mắt đã nhớ bữa ăn của con, công việc của chồng, hóa đơn cuối tháng, chiếc áo ai đó cần giặt, cuộc hẹn nào đó không được quên. Ngay cả lúc buồn cũng phải buồn cho nhanh, bởi nồi canh đang sôi, điện thoại đang reo, con đang gọi mẹ.

Có những ngày tôi tưởng lòng mình là chiếc ngăn kéo, ai cần gì cũng mở ra tìm. Đến khi mọi người đã lấy đủ, tôi mới nhìn lại xem bên trong còn gì cho mình.

May thay, vẫn còn một dòng sông.

Vẫn còn buổi chiều tháng Chín, nắng rót mật lên mặt nước. Vẫn còn một chén rượu nhỏ, không đủ làm say, chỉ đủ khiến người ta mạnh dạn trò chuyện với những điều vốn không biết nói. Một làn gió đi qua. Lá nghiêng xuống, để những giọt sáng rơi lấp lánh trên bờ cỏ. Tôi chợt nghĩ nắng tháng Chín giống một người đàn bà đã đi qua tuổi trẻ. Khi còn trẻ, ta thường yêu ghét đến tận cùng. Vui thì tưởng đời không còn gì đẹp hơn. Buồn thì nghĩ cả thế gian đều phụ bạc. Chỉ một ánh mắt cũng làm thao thức. Một lời hẹn đủ khiến người ta ngồi đợi suốt buổi chiều. Mọi thứ đều chói chang như nắng giữa hè, đẹp đấy nhưng dễ làm bỏng tay.

Qua một vài mùa mưa nắng, người đàn bà học được cách giấu những giông gió vào trong. Không phải lòng đã nguội. Chỉ là đã hiểu thương một người không nhất thiết phải giữ người ấy bên mình; nhớ một người cũng chưa chắc cần tìm đến. Đã hiểu có những lời không nói ra lại giữ được sự yên ổn cho nhiều người. Đã hiểu bình yên không phải trời không nổi gió, mà là sau cơn gió, mình vẫn biết sửa lại mái nhà, nhặt những cành cây gãy và tiếp tục nhóm bếp.

Nắng tháng Chín đã thôi thiêu đốt, nhưng đâu phải vì nó hết nồng nàn. Màu vàng kia đã được chắt ra từ cả một mùa hè cháy bỏng nên mới đằm đến vậy.

Tôi nâng chén, ngẫu hứng đọc:

Nắng qua một cuộc hè dài,
Bớt phần rực lửa, thêm vài phần thương.
Rót vàng xuống bến, xuống đường,
Rót lên mái tóc người đương nhớ nhà.

Bà cụ bán nước nghe thấy, cười:

- Cô làm thơ đấy à?

- Dạ, thơ chẳng ra thơ, chỉ là mấy câu nói cùng nắng.

- Nắng mà nghe được thì chắc cũng vui.

Tôi bảo:

- Người còn có khi chẳng hiểu được nhau, biết đâu nắng lại hiểu.

Bà cụ gật gù, không rõ đồng tình hay chỉ chiều khách. Tôi cũng không cần biết. Thơ làm ra mà cứ bắt người khác phải hiểu đúng ý mình thì khổ cho cả thơ lẫn người đọc. Có câu viết cho người. Có câu gửi cho sông. Có câu chỉ để tự mình nghe thấy lòng mình động đậy.

Trên bãi bồi, những luống ngô non trải một màu xanh dịu. Một người phụ nữ đang cúi nhổ cỏ. Chị đội chiếc nón đã cũ, vành nón sụp xuống che gần hết khuôn mặt. Bên cạnh là đứa trẻ chừng ba tuổi ngồi nghịch đất. Thỉnh thoảng nó lại ngẩng lên gọi mẹ. Người mẹ vẫn làm, chỉ “ơi” một tiếng. Nghe tiếng “ơi”, đứa bé lại yên tâm cúi xuống chơi.

Tiếng gọi ấy trôi qua bãi cỏ, chạm vào lòng tôi.

Hai đứa con trai của tôi ngày nhỏ cũng gọi mẹ suốt ngày. Mẹ ơi con khát. Mẹ ơi anh lấy đồ chơi của con. Mẹ ơi đêm nay mẹ nằm với con nhé. Có lúc bận việc, tôi phát cáu, chỉ mong chúng lớn nhanh để biết tự làm mọi thứ. Bây giờ chúng đã lớn thật. Một đứa đã biết đóng cửa phòng khi học. Một đứa chỉ cần mẹ lúc áo bị đứt cúc hoặc không tìm thấy quyển sách. Đi học về, chúng chào mẹ rồi mỗi đứa theo một việc riêng. Tôi đứng trong bếp, nhiều khi thèm nghe lại tiếng gọi ríu rít ngày nào.

Người ta thường mong thời gian đi nhanh trong những tháng ngày vất vả, đến khi nó đi thật lại muốn níu về.

Điện thoại trong túi rung lên. Thằng bé nhắn: “Mẹ nhớ mua giấy màu cho con.” Một lát sau, thằng lớn gửi thêm: “Tối nay mẹ về muộn không?” Tôi đọc mà chưa trả lời. Không phải muốn để con đợi. Chỉ là tôi muốn giữ riêng cho mình thêm một chút nắng bên sông. Người mẹ nào cũng cần có đôi phút không thuộc về ai, để sau đó trở về mà lòng không còn cáu gắt vì những việc rất nhỏ.

Tôi nhìn người phụ nữ ngoài bãi. Chị đã nhổ cỏ xong, đang xếp mấy bó rau vào chiếc làn nhựa. Đứa bé chạy đến ôm chân mẹ. Chị gỡ tay con ra, mắng yêu mấy câu, rồi cúi xuống cõng nó lên lưng. Đứa nhỏ vòng tay qua cổ mẹ, áp má vào vai, lim dim ngủ. Bóng hai mẹ con đổ dài trong nắng. Tôi nghĩ cảnh ấy nếu đem vẽ, chưa chắc người họa sĩ đã giữ được cái mệt nhọc trong dáng đi người mẹ, cái tin cậy tuyệt đối trong vòng tay đứa trẻ và vẻ ngọt ngào pha chút buồn của buổi chiều.

Nắng tháng Chín rót mật lên đời sống theo cách ấy. Không chỉ rót trên sông, trên lá, trên bờ tre. Nó rót lên vai người mẹ đang cõng con, lên bàn tay người đàn bà mang rau về nấu bữa tối, lên mái tóc bạc của bà cụ ngồi bán nước. Mật của đời đâu phải lúc nào cũng có vị ngọt ngay. Có thứ mật phải đi qua nhọc nhằn mới thành.

Và giữa cảnh ấy, tôi lại nhớ bố. Bố tôi đã sống gần trọn đời bên sông La. Bố không gọi tháng Chín là mùa thu. Bố bảo người nhà quê ít khi chia mùa bằng lá vàng hay gió heo may. Tháng Chín là tháng phải biết ngó trời. Trời nắng thì tranh thủ phơi thóc, phơi lạc, hong lại mấy bó củi đã ngấm mưa. Thấy gió đổi hướng phải coi lại mái nhà, buộc thêm dây vào cửa chuồng, kiểm tra con thuyền dưới bến. Mây tụ phía núi thì đề phòng nước nguồn đổ về. Sông đang hiền, có khi chỉ qua một đêm đã dâng đỏ bãi. Bởi vậy, bố quý từng ngày nắng đẹp.

Sáng mở cửa thấy trời trong, bố đã kéo những tấm bạt ra giữa sân. Thóc được trải thành một lớp mỏng. Lạc trong chum cũng được mang ra hong lại. Những tàu lá chuối khô, mấy thanh tre dành sửa mái bếp, cả đôi dép lội sông lâu ngày không dùng cũng được bố xếp vào chỗ có nắng. Bố thường bảo nắng tháng Chín “biết việc”. Không dữ đến mức làm hạt thóc quắt đi, cũng không nhạt đến mức phơi cả ngày vẫn ẩm. Nắng ấy vừa đủ làm giòn rơm, thơm lạc, làm khô lớp bùn bám dưới đáy thuyền.

Hồi nhỏ, tôi không tin nắng có thể biết việc. Tôi chỉ thấy mệt vì cứ phải chạy ra chạy vào, khi thì đưa bố chiếc cào tre, lúc lại nhặt những hạt lạc văng khỏi nong. Tôi muốn đi chơi với lũ bạn ngoài bờ sông. Bố giữ lại, bảo làm gì cũng phải làm cho xong rồi mới đi.

Khi ấy, tôi thường phụng phịu. Sau này lớn lên mới hiểu đời mình có nhiều việc dang dở không phải vì không đủ sức, mà bởi chưa bao giờ học được sự kiên nhẫn của bố. Có những buổi chiều, bố ngồi dưới gốc bưởi, vá lại mắt lưới bị rách. Bàn tay bố to, những đầu ngón thô ráp, vậy mà luồn sợi cước rất khéo. Tôi ngồi bên cạnh học bài. Khi gặp bài toán khó, tôi đem hỏi. Bố không phải lúc nào cũng giải được, nhưng vẫn cầm quyển vở xem rất lâu rồi bảo:

- Cứ bình tĩnh. Việc gì cũng có chỗ bắt đầu.

Một câu nói giản dị ấy theo tôi qua nhiều năm. Những lúc công việc rối bời, những khi đứng trước một quyết định không biết nên đi về đâu, tôi lại nhớ giọng bố. Cứ bình tĩnh. Việc gì cũng có chỗ bắt đầu.

Ngày tôi lấy chồng, bố ít nói hơn mọi ngày. Từ sáng, bố cứ đi ra đi vào, lúc xem lại mấy chiếc ghế ngoài sân, lúc chỉnh tấm rèm trước cửa, khi lại hỏi người ta đã xếp hành lý lên xe chưa. Đến lúc tôi chuẩn bị rời nhà, bố đứng bên cạnh, lấy tay sửa lại cổ áo cho con gái. Bàn tay vốn quen cầm cuốc, kéo lưới bỗng trở nên vụng về.

Bố chỉ dặn:

- Về nhà người ta, thương người nhưng cũng phải biết thương lấy mình. Có chuyện chi thì về nhà.

Tôi cười, bảo con lấy chồng gần chứ có đi đâu xa. Bố quay mặt nhìn ra ngõ:

- Gần xa không ở đường. Có khi cách một dòng sông đã thấy xa rồi.

Khi ấy tôi không hiểu vì sao bố nói vậy. Mãi về sau, qua những ngày vợ chồng giận nhau, những đêm nằm cạnh một người mà thấy lòng cách trở, tôi mới biết có những khoảng cách không đo được bằng cây số. Hôn nhân đâu phải một bài thơ chỉ có những câu đẹp. Có những câu vụng, những đoạn ngang, đôi chỗ muốn xóa đi mà không thể xóa. Nhưng nếu còn đủ thương, người ta vẫn có thể ngồi lại, chấm một dấu lặng rồi cùng nhau viết tiếp. Bố không giảng cho tôi điều ấy. Có lẽ bố biết mỗi người đàn bà phải tự học bằng chính những va đập trong đời mình.

Những năm cuối đời, bố yếu nhanh. Tôi về thăm bố vào một ngày tháng Chín. Bố nằm trên chiếc giường kê gần cửa sổ, gương mặt gầy, đôi mắt hõm sâu. Tôi hỏi bố có muốn ăn gì không. Bố lắc đầu, chỉ bảo kéo tấm rèm sang một chút cho nắng vào. Một vệt nắng rơi xuống cuối giường, vàng mỏng.

Bố nhìn ra sân. Ở đó còn mấy nong lạc người nhà chưa kịp cất. Bố nói:

- Nắng ni mà khỏe, đem lạc ra đảo thêm một lượt thì tốt.

Tôi trách bố đã mệt còn nghĩ đến thóc với lạc. Bố cười. Nụ cười nhẹ và xa, như thể bố đã đứng bên kia một bờ nào đó mà tôi chưa thể bước tới.

Ít lâu sau, bố mất. Ngày đưa bố ra khỏi nhà, trời không mưa. Sông La lặng, nước mang màu phù sa. Tôi đi sau linh cữu, cứ nhìn đôi chân mình bước trên con đường quen mà không tin từ nay trở về sẽ không còn thấy bố ngồi vá lưới dưới gốc bưởi, không còn ai nhắc kéo thóc vào khi mây phía núi chuyển màu.

Sau tang lễ, tôi đem chiếc áo nâu của bố về nhà. Đó là chiếc áo bố thường mặc những ngày trời se lạnh. Vai áo đã sờn, túi bên trái còn một đoạn dây cước và mấy hạt lạc khô. Chồng bảo áo cũ quá rồi, cất giữ làm gì cho bụi. Tôi không nói, chỉ giặt sạch, phơi dưới nắng rồi gấp lại đặt vào ngăn cuối cùng của tủ. Có những thứ người đàn bà giữ không phải vì còn dùng được. Một chiếc áo cũ, một lá thư, cái kẹp tóc đã gãy, một cuốn sổ nhòe mực. Mỗi đồ vật đều có ký ức riêng. Vứt một vật đi đôi khi giống như tự tay khép lại cánh cửa dẫn về căn phòng xưa. Mùa đông, có hôm nhớ bố, tôi đem chiếc áo ra, áp mặt vào lớp vải đã mềm. Mùi của bố không còn nữa. Chỉ còn mùi nắng, mùi xà phòng và một chút ngai ngái của vải cũ. Nhưng khi đưa tay chạm vào túi áo, tôi vẫn hình dung bàn tay thô ráp của bố từng đặt ở đó, vẫn nghe câu nói quen thuộc vọng về: “Cứ bình tĩnh. Việc gì cũng có chỗ bắt đầu.”

Có những lời của bố, lúc bố còn sống tôi nghe rồi để đấy. Đến khi bố mất, mỗi câu mới trở nên nặng như một phần gia tài.

Tôi quay sang hỏi sông:

- Sông La ơi, người đã trôi qua bao nhiêu căn nhà, có giữ được tiếng gọi của những người bố không?

Sông vẫn đi.

- Có nhớ bao người cha từng đưa con gái qua bến, rồi đứng lại một mình nhìn theo?

Sông vẫn đi.

- Có biết bao người con gái đến khi bố mất mới hiểu phía sau sự ít lời là một đời thương con?

Sông không trả lời. Chỉ thấy nắng trên nước chao đi, như một cái nhìn vừa chạm vào chỗ kín đáo nhất trong lòng người.

Bố tôi ít khi nói thương con. Cả đời, tôi không nhớ bố đã bao giờ ôm mình hay chưa. Tình thương của bố nằm trong những việc khác: buộc lại chiếc xe đạp trước ngày con đến trường, đội mưa ra đón khi con về muộn, để dành phần cá ngon trong nồi, âm thầm đặt túi gạo lên xe ngày con trở lại nhà chồng. Có lần tôi hỏi sao bố không giữ gạo mà ăn. Bố bảo nhà còn. Sau này mới biết chum gạo hôm ấy đã gần cạn. Đàn ông ở thế hệ của bố thường thương con bằng cách giấu đi phần thiếu thốn của mình.

Tôi rót thêm chén rượu. Chai rượu vơi, nắng cũng vơi.

Bà cụ bảo:

- Uống ít thôi cô, còn phải về.

Tôi cười:

- Cháu chưa say.

- Người say thường nói rứa.

Câu ấy khiến cả hai cùng cười. Tôi nhấp một ngụm nhỏ. Quả thật, chẳng biết mình say rượu, say màu nắng trên sông hay say một thời có bố. Cái thời ấy lúc đang sống, tôi chỉ mong mau lớn, mau đi xa. Đến khi không thể trở lại mới biết đó là quãng đời bình yên nhất.

Năm mười chín tuổi, tôi từng hẹn một người bên sông La. Người con trai ấy đến trước, mặc chiếc áo sơ mi trắng đã bạc màu, đứng tựa vào thân cây. Chúng tôi ngồi cạnh nhau suốt buổi chiều, nói những chuyện chẳng đâu vào đâu. Cả hai đều có nhiều điều muốn nói, nhưng tuổi trẻ khi đứng trước người mình thương lại thường trở nên vụng về. Lúc chia tay, anh nhặt một chiếc lá non đưa tôi, bảo giữ lấy để nhớ ngày hôm ấy. Tôi kẹp chiếc lá vào trang sách. Sau này mở ra, lá đã khô giòn, màu xanh chỉ còn một vệt nhạt. Người cũng đi về một phía khác. Tôi đã từng buồn, từng giận. Có những năm nghĩ nếu ngày ấy mình nói một câu khác, ở lại lâu hơn hoặc can đảm hơn, cuộc đời có lẽ đã rẽ sang hướng khác. Nhưng tuổi càng nhiều, tôi càng hiểu không phải cuộc gặp nào cũng sinh ra để đi cùng nhau đến cuối. Có người chỉ đến để làm một mùa nắng trở nên khó quên, để khi nhớ lại, ta biết mình đã từng có một trái tim rất trẻ. Nếu gặp lại, chắc tôi sẽ không hỏi vì sao ngày ấy người đi. Tôi chỉ muốn biết người có còn nhớ màu nắng trên sông La hay không. Tình cũ giống như ánh sáng nằm trên mặt nước. Nhìn thì thấy rõ, đưa tay giữ lại chẳng được. Nhưng nhờ nó, một đoạn sông trong ký ức mãi mãi long lanh.

Tôi đọc nhỏ:

Nắng vàng rót xuống dòng La,
Rót người con gái đã qua xuân thì.
Rót cho một cuộc phân ly,
Bao năm ngoảnh lại còn ghi bên lòng.

Câu thơ vừa dứt, gió thổi qua làm mấy phiến lá non rung lên. Tôi bỗng thấy mình không còn buồn. Hoặc nỗi buồn đã ở quá lâu, dần trở thành một phần dịu dàng trong ký ức.

Mặt trời xuống thấp. Nắng trên sông chuyển từ vàng tươi sang màu mật sẫm. Những mái nhà phía bên kia bắt đầu lên khói. Tiếng dao băm trên thớt, tiếng người gọi trẻ, tiếng gà tìm chỗ ngủ vọng ra giữa khoảng chiều yên ả.

Điện thoại lại rung. Chồng nhắn: “Em về chưa?”

Thằng con lớn hỏi: “Mẹ có ăn cơm nhà không?”

Thằng bé gửi thêm: “Con cắm cơm rồi nhưng hình như hơi nhiều nước.”

Tôi bật cười. Căn nhà của tôi chắc lúc này đang có một nồi cơm nhão, mấy người đàn ông lớn nhỏ đứng nhìn nhau, chẳng ai biết nên nấu thêm món gì. Họ không nói nhớ tôi. Đàn ông trong nhà thường ít nói những câu ấy.

Nhưng ba tin nhắn nối nhau cũng đủ thành một tiếng gọi. Tôi nhắn: “Mẹ về đây.”

Bà cụ đứng dậy thu mấy chiếc chén. Tôi trả tiền, mua thêm hai gói kẹo lạc. Bà gói cho tôi một nhúm chè xanh, bảo mang về hãm uống.

Trước khi đi, tôi rót phần rượu còn lại xuống sông:

- Chén này mời người. Những chuyện tôi vừa kể, xin giữ hộ. Nếu gặp bố tôi ở một bến nào đó, nhắn rằng con gái vẫn nhớ lời bố.

Rượu chạm nước, tan ngay. Sông nhận tất cả mà không giữ lấy hình hài của một giọt nào. Có lẽ nhờ vậy sông mới đi được xa.

Con người thì khác. Biết nên buông mà vẫn giữ. Biết cuộc vui đã tàn mà còn ngồi thêm. Biết người đã khuất mà gặp nắng cũ vẫn mong một lần được gọi “bố ơi”. Vì thế nên mới có thơ, có rượu và những buổi chiều người đàn bà bỏ lại công việc để một mình tìm ra bến nước.

Tôi quấn lại khăn, bước lên con đường ven đê. Bóng mình đổ dài trên cỏ. Trong bóng chiều, tôi không còn là cô gái mười chín tuổi ngồi chờ một người dưới gốc cây, cũng chưa hẳn chỉ là người vợ, người mẹ luôn nhớ từng việc trong nhà. Tôi còn là con gái của bố, dù bố đã đi xa, dù căn nhà cũ giờ thiếu một dáng người ngồi dưới gốc bưởi.

Tôi là một người đàn bà đã đi qua vài mùa giông gió, vẫn biết vui trước một phiến lá non, biết buồn khi nắng sắp tắt, biết tự rót cho mình một chén nhỏ rồi đứng dậy trở về.

Đó có lẽ cũng là một thứ hạnh phúc. Không cần ai mang đến. Không phải đợi ai cho phép. Chỉ là giữa bao bổn phận, mình vẫn giữ được một khoảng trời riêng, một dòng sông riêng và một khoảng ký ức có bố để lòng không cũ đi.

Tôi dắt xe lên con dốc. Từ đây nhìn xuống, sông La chỉ còn giữ một vệt sáng mỏng giữa dòng. Nắng đã rời khỏi bãi cỏ, khỏi những phiến lá non, khỏi chiếc chõng tre của bà cụ. Nhưng màu mật ong dường như vẫn còn bám trên tay áo tôi.

Tôi đọc mấy câu cuối:

Tháng Chín ai rót mật vàng,
Cho sông một dải, cho làng một hương.
Cho người con gái ven đường,
Nhớ bàn tay bố mà thương mái nhà.

Rồi tôi đi. Phía trước, những ngọn đèn trong xóm lần lượt sáng lên. Ở một căn nhà nào đó, chồng và hai đứa con trai của tôi đang chờ. Nồi cơm có thể nhão thật. Bữa tối có thể chỉ kịp làm món trứng rán, đĩa rau và bát nước mắm cắt vài lát ớt. Nhưng tôi biết khi cánh cửa mở ra, thằng bé sẽ chạy đến hỏi giấy màu đâu, thằng lớn sẽ giành lấy gói kẹo, còn chồng có thể chỉ nói một câu rất bình thường:

- Về rồi à?

Tôi sẽ đáp:

- Về rồi.

Hai chữ ấy, hóa ra đi qua nửa đời người mới hiểu hết.

Sau lưng tôi, nắng tháng Chín vừa tắt trên sông La. Nhưng mật ngọt của buổi chiều vẫn theo người đàn bà trở về, nằm lại trong một chén rượu chưa say, trong mùi chè xanh, trong tiếng con gọi mẹ và trong ngọn đèn nhỏ đang đợi cuối con đường.

Đ.T.P.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khói Nước Bến Quê – Truyện ngắn Huỳnh Văn Trọng
Sau ngày đám tang, chiếc ghe gỗ sến to lớn không còn ai lái nữa. Nó cứ nằm lặng lẽ buộc nơi cọc tre trước bến sông quê. Mưa nắng gặm nhấm, những vạt ván gỗ bắt đầu mục dăm, nước sông lờ lợ ngấm dần qua kẽ hở. Lạ kỳ thay, người ta nhìn ra mũi ghe thì thấy lớp sơn màu rực rỡ ngày nào đã phai nhạt, cặp mắt ghe đen lánh vốn đanh thép nhìn sóng dữ nay như đờ đẫn, tróc từng mảng vôi, hằn lên những vệt nước mưa đọng lại chảy dài như hai hàng nước mắt. Cặp mắt ghe dường như cũng buồn theo, vô hồn khi biết người chủ tri kỷ của mình đã vĩnh viễn về với miền đất lạnh.
Xem thêm
Ánh sáng nơi căn phòng nhỏ - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Một tiếng thở dài bất lực bật ra mà chỉ có cô mới cảm nhận được mình còn sống, nhưng cô đã chết giữa một thế giới mênh mông mà lại nhỏ hẹp đến ngạt thở. Thỉnh thoảng, người ta đưa cô đến những trạm chữa lành và những viên thuốc đắng để mong cô bớt đi trầm cảm nhưng không hiệu quả. Thế giới của Linh Đan chỉ là một nhúm bụi mờ, là ô cửa chỉ đủ một luồng ánh sáng xuyên qua, là cái hộp vừa khít thân người, thế giới quanh Linh Đan ngột ngạt đến bức bách, đến tù đày.
Xem thêm
Bức tường vô hình trên con đường cũ – Truyện ngắn của Huỳnh Văn Trọng
Nắng sớm chưa vượt qua mái tôn của dãy nhà cao tầng, nhưng góc đường trước cổng trường trung học đã rộn rã tiếng động cơ. Bà Bảy nhanh tay xốc lại tấm bạt nilon xám, trải rộng ra hơn một sải tay, tràn hẳn xuống lòng đường nhựa còn đẫm sương đêm. Mấy chậu nhựa đựng cá, cua văng nước lênh láng dưới chân. Cạnh đó, đống vỏ rau, đầu cá và túi nilon từ vài hôm trước chưa ai dọn, do chính tay bà gom lại rồi hất gạt sang một bên cho đỡ vướng chỗ đã bắt đầu bốc lên mùi ngai ngái dưới cái oi nồng của buổi hừng đông.
Xem thêm
Thành phố tươi đẹp – Truyện ngắn của Vũ Minh Phúc
Ở Việt Nam ta, có không ít thành phố, nhưng sao mãi lòng tôi cứ đắm đuối và lưu luyến với thành phố Hà Tĩnh. Vì sao lại vậy? Vì đó là một thành phố biển tươi đẹp, nó đẹp trong khung cảnh, trong con người và cả vùng đất. Tôi ngồi đó, trên bãi biển Thiên Cầm, nghe tiếng sóng biển ào ạt như tiếng đàn trời réo rắt. Sông Ngàn Sâu Ngàn Phố nước trong xanh như một khối ngọc bích, nước dưới đáy biển yên tĩnh lạ kỳ. Nó nối giữa đôi bờ của hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình. Ánh chiều tà tịch dương xuống chậm và đổ dài trên đường chân trời xa xa, và mùi hương của hoa sen ngan ngát đến dịu lòng. Có phải là tôi đang mơ không? Không, dĩ nhiên rồi. Trong suy nghĩ mơ màng của tôi, dù thành phố đã chịu nhiều bão tố của thiên nhiên, triều cường, nhưng nó vẫn ngời lên sức sống bất diệt. Dù cho không phải là người con của đất Hà Tĩnh mến thương, nhưng xin cho phép tôi được gửi câu chuyện nhỏ này đến đó như một nỗi niềm xa xôi vọng niệm. (Lời tác giả)
Xem thêm
Cánh cửa không mở lại – Truyện ngắn Hồng Loan
Nga chết lặng. Đôi môi cô mím lại, hơi run. Cơn gió lạnh tưởng đã tan từ sáng sớm lại bất ngờ quét qua lồng ngực, như một cú đấm vô hình, như một cú tát nhẹ nhưng bén ngót. Cô đã từng tưởng tượng đến giây phút này hàng trăm lần. Nơi cô sẽ gào lên, chất vấn, hoặc ít nhất cũng khiến ông ta bối rối, nhưng không. Cô ngồi đó, lặng lẽ. Đôi mắt không còn giận dữ, mà trở nên thản nhiên một cách đáng sợ. Bởi vì… ông không nhận ra cô. Và chính điều đó lại đau hơn mọi lời phủ nhận. Có lẽ với ông, cô chưa từng tồn tại.
Xem thêm
Từ mặt - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
Nguồn: Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam số 50 tháng 7/2026, trang 12.
Xem thêm
Núi chờ - Truyện ngắn Thanh Tuân
Má thương cảm đời Vũ như đời má. Chỉ là Vũ còn bé chưa ý thức được phận đời rơi rụng. Còn má, ngày đó tuổi đã lưng chừng, biết nghĩ, biết suy, biết yêu thương, biết đau khổ. Má chăm Vũ từng miếng ăn, giấc ngủ, từng cái váy thổ cẩm xòe, váy dài trắng như công chúa, không để thiếu thứ gì. Má nói để nhớ ngày xưa mình được dắt đi mua sắm thế nào, được yêu thương ra sao. Mà lạ kỳ càng cố nhớ lại thấy lòng mình càng trống rỗng. Sự đời đâu phải cứ muốn nhớ là nhớ, cứ muốn quên là quên được. Có những thứ muốn quên mà làm con người ta đau đáu hoài. Có những điều cố nhớ nhưng lại tít tắp mịt mù. Như má cố nhớ những yêu thương từ hồi mà được sinh ra đến khi lớn lên, nhưng lạ kỳ hình như yêu thương bốc khói. Cái còn lại là những đau khổ, những kiệt cùng của nhói buốt mà thỉnh thoảng vẫn quặn lên từng cơn co thắt. Trong lòng má. Cái đó đáng lẽ quên biệt xứ.
Xem thêm
Đêm trăng lúa – Truyện ngắn Vũ Minh Phúc
Tôi là thằng bé lớn lên từ những đồng ruộng. Bao giờ cũng vậy, cứ mỗi lần về quê, đi trên con đường, ngắm những đồng lúa chín, lòng tôi lại dâng lên những kỷ niệm và quá khứ êm ái của làng quê mình. Giờ đây, cuộc sống cuốn đi, những no đói thường nhật, chẳng có lúc nào nghĩ về những năm tháng ấy nữa. Tôi đi đến các vùng quê, tuy đã đô thị hóa, khang trang hơn, đồng ruộng lui dần vào dĩ vãng, nhưng đây đó vẫn còn những cánh đồng lúa chín bát ngát hương thơm, những người nông dân được trang bị cơ giới hóa, tôi đã gặp họ. Nhưng câu chuyện qua đi, không còn nhớ nữa. Nhưng tôi chẳng thể nào quên, tôi đã cố chắp nối những ký ức nhỏ bé ấy thành một câu chuyện, hy vọng để mình không quên đi và cũng bày tỏ lòng biết ơn với cây lúa, hạt thóc, bát cơm đã nuôi nâng chúng ta thành hình hài bé nhỏ.
Xem thêm
Mưa Sài Gòn - Truyện ngắn Vũ Thanh Hoa
Nàng là phụ nữ, lại là phụ nữ đa cảm, những cử chỉ dịu dàng giản dị nho nhỏ của anh đủ sức trấn áp những nổi loạn, những mơ mộng dại dột lâu lâu lại nảy sinh trong cái đầu bé nhỏ, xinh xắn nhưng rắc rối của nàng. Chắc là anh đang vui và mãn nguyện. Họ đang trên đường đi mời bạn bè dự đám cưới mình.
Xem thêm
Chạm mặt chúa rừng - Truyện ngắn của Hồng Chiến
Mấy cậu học trò vừa bắt cá, vừa trêu đùa nhau vui vẻ vượt lên phía trước. Vân Trang theo sau, dùng đèn pin soi bên bờ suối xem cá kéo cả bầy ăn quả ươi rơi chìm dưới suối. Trên mặt đá nằm dưới làn nước, gần sát bờ có loại rêu mọc xanh màu đọt chuối, thân và lá gần giống như hoa mười giờ, nở hoa màu đỏ tươi, năm cánh, cánh hoa giống như cánh hoa hồng. Bầy cá chỉ to hơn đầu đũa một chút, sống lưng màu đen, phía bụng vảy màu vàng tươi kéo dài đến tận đuôi, vây quanh các bông hoa như đang ngắm nhìn.
Xem thêm
Thuần hương - Truyện ngắn
Đây không phải kiểu truyện đọc để biết chuyện gì xảy ra, mà là kiểu truyện đọc để đắm trong một trạng thái cảm xúc và suy tưởng.
Xem thêm
Mùa phượng chết - Truyện ngắn của Việt Nga
Đêm, hai thằng ngồi ở góc xa nhất của sân vườn nhà Thắng nên không nhìn rõ mặt nhau. Chỉ thấy đốm thuốc trên môi Thắng tắt rồi lại lóe liên hồi. Thắng chưa khi nào tưởng tượng ra rằng Ngân có đủ dũng khí đến gặp Hoa, khóc nức nở thú nhận cô đang mang trong mình giọt máu của anh, rồi van xin Hoa hãy nhường Thắng cho cô, để con cô có bố. Hoa xinh đẹp, giỏi giang, thiếu gì chọn lựa. Còn Ngân, nếu Thắng không chịu cưới, thì chỉ còn một lựa chọn duy nhất là cái chết. Đó là khi giữa Thắng và Ngân hoàn toàn chưa có chuyện gì. Đến lúc “có chuyện gì” thì chưa kịp biết Hoa có sao không, Thắng đã phải vội vã làm đám cưới. Sau đám cưới cả năm trời Ngân mới mang bầu. Vậy mà… Người xúi Ngân việc đó là Hoàn. Và âm mưu ấy đã thành công như mong đợi. Không một lần Hoa ngoảnh lại nhìn Thắng nữa.
Xem thêm
Giấc ngủ đại ngàn – Truyện ngắn Vũ Minh Phúc
Khi bắt đầu viết truyện ngắn này, em đã cố gắng hình dung và nhớ lại khu rừng mang tên ông: Tướng giáp. Ông là vị tướng của nhân dân, vị tướng của hòa bình, có điều gì cuốn hút đến thế. Và những nơi ông đi qua, những chiến tích ông từng làm cho nhân dân ta, đều khiến lớp trẻ chúng em muôn phần kính trọng, tự hào và ngưỡng mộ. Làm sao có thể quên đi được những trang sử hào hùng ấy. Làm sao không kính trọng một con người, một vị tướng đã trở thành huyền thoại ngay cả khi ông còn sống. Em cứ nghĩ đã có một cánh rừng đại ngàn đã đi vào giấc ngủ và cũng có một vị tướng huyền thoại cũng chìm trong giấc ngủ ngàn thu ở Vũng Chùa – Đảo Yến: Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Xem thêm
Chuyện cổ tích – Truyện ngắn Nguyễn Thị Việt Nga
Một năm trôi qua, rồi nhiều năm trôi qua, cuốn sách vẫn ở yên trên bàn khách sạn. Trong ngần ấy thời gian, có biết bao nhiêu khách lưu trú đã ra vào căn phòng ấy. Có người không ngó đến cuốn sách một giây. Họ thuê phòng khách sạn khi đêm khuya và ra đi khi mặt trời còn chưa mọc. Nhưng cũng có người ở đến mấy ngày. Họ cầm sách lên, ngắm nghía, lật ra, tò mò đọc những dòng thư nhắn của bà chủ và rồi lại để lại chỗ cũ… Cuốn sách cứ nhẫn nại chờ đợi. Nó nhẩm tính trong đầu, với ngần ấy thời gian, cô chủ nhỏ ngày xưa cũng đã lớn lắm rồi. Có thể cô không còn thích đọc truyện cổ tích như ngày xưa nữa… Cũng có thể cô đã không còn nhớ mình từng có một cuốn truyện cổ tích thế này ... Nhưng nó vẫn kiên trì chờ đợi và hy vọng…
Xem thêm
Đóa hồng đẫm sương – Truyện ngắn của Võ Chí Nhất
Nhà văn Võ Chí Nhất là một cây bút trẻ kiên trì sáng tạo dòng văn trinh thám - tội phạm, với series truyện về nhân vật Đại úy Hà “ớt”. Anh bắt đầu sự nghiệp viết lách từ 2013, tiểu thuyết Pho tượng cổ được NXB Công an nhân dân xuất bản năm 2025 là tác phẩm thứ 7 của anh.
Xem thêm
Nhang Tàn – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Ngồi một mình trong căn phòng làm việc nhỏ, nơi tòa soạn đã thưa người. Thành phố ngoài kia vẫn ồn ào, tiếng xe, tiếng rao hàng, tiếng gọi nhau í ới mua mai, mua bánh, tất cả hòa lại thành một bản nhạc quen thuộc của những ngày cuối năm. Huệ nhìn ra ô cửa kính, nắng rớt xuống từng mảng vàng nhạt, mỏng như một lớp ký ức đang chậm rãi phủ lên lòng mình.
Xem thêm
Cuộc nhường ghế vĩ đại – Truyện ngắn của Hồng Luân Anh
Vì nể mặt ông bác họ của cậu hàng xóm – dù khi ấy đầu óc tôi đã tít tắp ở vương quốc Biêng-biêng rồi – tôi vẫn bấm bụng ngồi rốn làm thêm một chập nữa đến tận hai giờ sáng. Bốn tiếng sau, bắt gặp tôi ở hành lang, cu cậu vò mái đầu rối, lè nhè với cái miệng sủi bọt trắng xóa cùng cán bàn chải nhựa lòi ra.
Xem thêm
Ta là ai? – Truyện ngắn của Trần Đôn
“Ta là ai?” của Trần Đôn (Bình Dương) là câu chuyện về một thân phận bị đặt giữa hai bờ lịch sử – nơi lựa chọn đôi khi không thuộc về cá nhân, và câu hỏi về căn tính trở thành nỗi day dứt kéo dài suốt một đời người.
Xem thêm
Di ảnh người lính Gạc Ma – Truyện ngắn của Huỳnh Mẫn Chi
Sài Gòn sáng sớm, luồng khí vẫn còn trong trẻo, thanh khiết, thong dong chưa kịp bắt nhịp sống tất bật của ngày mới.
Xem thêm
Dư vang trong đá – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Chàng chẳng còn gì. Không ngai vua. Không cả nước. Chỉ còn một thân thể rách nát và một trái tim bị đánh cắp. Không khi nào trong giấc mơ thời trẻ, chàng từng nghĩ tới vương miện, ngai vàng, bảo kiếm. Chàng từng chỉ mong một mái nhà nhỏ giữa rừng, một người bạn tri kỷ, một thư phòng và một chốn hoa nở thơm ngát bốn mùa, trăng in đáy nước để bình thơ. Giấc mơ ấy đã bị đánh cắp – bởi chiến lược, bởi quyền lực, và bởi niềm tin rằng mọi thứ trên đời có thể toan tính được.
Xem thêm