TIN TỨC

Nghĩa tình với liệt sĩ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-07-13 18:42:37
mail facebook google pos stwis
1163 lượt xem

Tháng Bảy về, đất trời như dịu lại trong những cơn mưa nhẹ hạt, lòng người cũng lắng lại trong những khoảng lặng thiêng liêng. Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.

Hướng tới ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7/2026, toàn Đảng, toàn dân đang dốc lòng cho chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ, có một câu chuyện đầy xúc động tại Thành phố Hồ Chí Minh khiến bất cứ ai biết đến cũng phải nghẹn ngào. Đó là hành trình mười bảy năm thờ cúng và đau đáu đi tìm lại tên cho một liệt sĩ. Ký ức ngược dòng về những ngày giao mùa cuối mưa, đầu mùa khô năm 2009. Gia đình anh Trần Thái Học (hiện là Thượng tá, công tác tại Phòng Quân huấn - Nhà trường, Bộ Tham mưu Quân khu 7) và vợ là chị Liễu tiến hành đào móng để cải tạo ngôi nhà nhỏ. Nhát cuốc bổ xuống lòng đất sâu bỗng khựng lại; phía dưới lớp đất của nền nhà bấy lâu nay anh chị vẫn ở, bộ hài cốt liệt sĩ hiện ra lặng lẽ, vẹn nguyên. Cùng với đó là một số di vật như chiếc túi thuốc và những dụng cụ quân y đã hoen gỉ theo năm tháng. Anh Học lặng người, chị Liễu bật khóc. Là một người lính mang trên mình bộ quân phục thời bình, anh Học thầm hiểu ngay rằng mảnh đất dưới hiên nhà mình chính là nấm mồ che chở cho một người đồng đội đã hy sinh. Các cơ quan chức năng và gia đình đã kiểm tra cẩn thận, kỹ lưỡng, tổ chức trang trọng làm thủ tục cất bốc, đưa liệt sĩ về an táng yên nghỉ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh. Hài cốt người chiến sĩ ấy đã về cùng đồng đội, thế nhưng danh tính của liệt sĩ là ai, quê hương ở đâu thì vẫn là một dấu hỏi lớn. Thông tin về liệt sĩ đã được đăng trên Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 27/7/2009, nhưng cho đến nay vẫn chưa có thông tin phản hồi.

Trước sự hy sinh cao cả và thiêng liêng ấy, lòng kính ngưỡng cùng tình cảm sâu sắc của gia đình đã tri ân và đón nhận người chiến sĩ quân y vô danh trở thành một thành viên trong gia đình, thờ cúng suốt 17 năm qua. Trong nhà, từ vợ chồng cô chú đến các con cháu đều gọi người lính Cụ Hồ đã hy sinh bằng một danh xưng kính trọng và thân thương: “Ông liệt sĩ”. Kể từ ngày đón “Ông liệt sĩ” lên từ lòng đất lạnh – ngày 22/5 âm lịch hằng năm đã trở thành ngày giỗ thiêng liêng của gia đình. Gần hai thập kỷ trôi qua, gian thờ nhà cô chú Học - Liễu chưa bao giờ tắt ánh đèn dầu, chưa bao giờ thiếu vắng khói nhang. Vào ngày giỗ ông liệt sĩ, mâm cơm tươm tất lại được sửa soạn, cô chú và các con lại thành kính chắp tay, khấn nguyện gọi “Ông liệt sĩ” như người thân đã quá cố trong nhà. 17 năm dài đằng đẵng, sự chu đáo ấy không đơn thuần là trách nhiệm, mà đã hóa thành tình yêu thương gắn bó sâu sắc. Cô chú Học - Liễu luôn tâm niệm rằng: Ở một miền quê xa xôi nào đó trên đất nước này, có một người mẹ tóc đã bạc phơ đang tựa cửa ngóng con, hay những người anh em đang ngày đêm cạn dòng nước mắt tìm ông trong vô vọng. Người thân của ông chưa thể đón ông về, cô chú nguyện thay mặt họ gánh vác trách nhiệm thiêng liêng này, dang rộng vòng tay gia đình để hương hồn “Ông liệt sĩ” được ấm áp. Đó cũng là bài học giáo dục sâu sắc nhất dành cho con cháu về sự hy sinh vô bờ bến của thế hệ cha anh; đồng thời là nơi để bà con chòm xóm, những người đồng đội năm xưa trở lại thắp nén hương tri ân nghĩa nặng tình sâu. Trở lại quá khứ qua những trang ký ức trong cuốn hồi ký "Dấu ấn cuộc đời" của Trung tướng, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Lưu Phước Lượng, người ta mới thấu cảm hết sự khốc liệt trên hướng tiến công của Quân Giải phóng đánh chiếm Sài Gòn - Gia Định trong chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Ngày ấy, những người lính gan dạ đã vượt qua sông Vàm Thuật, tiến công từ Đồng Ông Cộ vào khu vực Cây Thị (nay thuộc phường An Nhơn).

Trận đánh diễn ra vô cùng quả cảm và ác liệt, địch dùng hỏa lực điên cuồng để ngăn chặn mũi đột kích của ta. Nhiều chiến sĩ đã ngã xuống ở độ tuổi mới đôi mươi. Giữa làn đạn bom đỏ lửa, đồng đội đành nuốt nước mắt mai táng đồng đội bên những bờ ruộng sình lầy, dưới những khóm đước um tùm. Vùng đất đầm lầy năm xưa nay đã là phố phường đông đúc. Bộ hài cốt liệt sĩ tìm thấy bên này sông Vàm Thuật dưới nền nhà anh Học – theo nhận định của các nhân chứng – rất có thể là người chiến sĩ quân y của Trung đoàn Đồng Nai, Phân khu 5 thuộc Quân khu Miền Đông (mật danh T1) tham gia chiến đấu năm 1968, đã hy sinh trên hướng tiến công này trong đội hình của một mũi đột kích sau khi đã vượt sông. Dẫu hôm nay “Ông liệt sĩ” đã được chăm lo hương khói chu đáo, nhưng trong tâm khảm của vợ chồng cô chú Học - Liễu, một ước nguyện cháy bỏng vẫn chưa bao giờ nguôi tắt: Mong ông sớm được trả lại tên, sớm được trở về đoàn tụ trong lòng dòng họ, quê hương nơi ông cất tiếng khóc chào đời. Chiến dịch 500 ngày đêm xác định danh tính liệt sĩ do Đảng và Nhà nước phát động chính là ngọn lửa thắp lên niềm hy vọng ấy thông qua các tiến bộ về giám định ADN. Việc tìm lại tên cho ông không chỉ là sự xoa dịu nỗi đau cho những người ở lại, mà còn là sự vinh danh sâu sắc đối với chính những tấm lòng vàng như gia đình Thượng tá Trần Thái Học – những người đã tự nguyện gánh vác trách nhiệm thờ cúng liệt sĩ suốt hàng chục năm qua bằng một tình yêu thương vô điều kiện, cảm nhận nỗi đau của đất nước, gia đình người thân các liệt sĩ như nỗi đau của chính gia đình mình. Chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng, nhưng đồng đội sẽ sống mãi cùng non sông. “Ông liệt sĩ” dưới nền nhà ngày ấy không vô danh, bởi tên của ông đã viết nên hai chữ Việt Nam, và hình hài của ông sẽ mãi được bao bọc, trân trọng trong trái tim của hàng triệu đồng bào.

Thành phố Hồ Chí Minh, 12/7/2026

NGUYỄN ĐỨC HẢI

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm