TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Trần Ngọc Phượng với câu chuyện kể cảm động về hai bài thơ được viết trên đường ra trận

Trần Ngọc Phượng với câu chuyện kể cảm động về hai bài thơ được viết trên đường ra trận

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-06-09 15:22:09
mail facebook google pos stwis
5944 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

Nhà thơ, Cựu chiến binh Trần Ngọc Phượng sinh năm 1945 tại Sài Gòn, quê quán Nam Định. Trong kháng chiến chống Mỹ, anh là Đài trưởng Vô tuyến điện Đoàn 814 Cục hậu cần B2. Anh làm thơ từ rất sớm, ngay từ những năm tháng tham gia chiến đấu ở chiến trường. Nhiều bài thơ được viết trên đường hành quân và có liên quan đến những địa danh, những con người người của một thời đạn lửa. Trong số đó có bài thơ: Dốc Năm CuaNgã Ba Cây Cầy được rất nhiều đồng chí, đồng đội của anh biết đến. Thời gian cứ trôi đi cùng với những biến cố thăng trầm của lịch sử, những chi phối của cuộc sống cá nhân tưởng những 2 bài thơ trên sẽ đi vào quên lãng. Nào ngờ, ngày họp mặt vào cuối tháng 4/2015, Trần Ngọc Phượng được chính người đồng đội của mình là Đỗ Thanh Hà trao lại bản chép tay bài thơ trên mà Trần Ngọc Phượng gửi anh của hơn 40 năm trước...

Sau ngày đất nước hòa bình, Trần Ngọc Phượng chuyển ngành về công tác tại TP. Hồ Chí Minh. Hiện anh đã về hưu, Hội viên Cựu Chiến Binh, Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh.


Nhà thơ Trần Ngọc Phượng và tác giả bài viết

Năm 1971, Đoàn 814 thuộc Cục Hậu cần B2 được thành lập trên cơ sở sáp nhập Đoàn Hậu cần 81 và 84. Trần Ngọc Phượng là người chiến sĩ trực tiếp tham gia Đoàn 814. Anh đã đi qua những năm tháng gian lao của cuộc chiến lại là người chiến sĩ có tâm hồn thơ ca nên những điều gì xảy ra trên đường hành quân cũng đều để lại cho Trần Ngọc Phượng những rung cảm. Trong thời khắc khó khăn, ác liệt nhất ở chiến trường mà Trần Ngọc Phượng vẫn dành tình yêu với thơ ca, chép vội trên giấy pơ luya... để ghi lại cảm xúc của mình với những người đồng chí, đồng đội và cả với những điều anh chứng kiến trên đường hành quân. Điều ấy thật đáng trân quý biết nhường nào!

Trên đường hành quân, phải di chuyển đến nhiều nơi nên mọi khó khăn, thách thức đè nặng trên vai của người chiến sĩ. Đặc biệt là những năm tháng cuộc chiến tranh ở vào giai đoạn ác liệt nhất. Vậy mà Trần Ngọc Phượng vẫn âm thầm ghi chép, vẫn lặng lẽ làm thơ. Những nơi anh và đồng đội đã đi qua, những địa danh, tên đất, tên làng... đi vào thơ anh một cách tự nhiên, hồn hậu. Trong tất cả những nơi đã đi qua, có 2 địa danh được Trần Ngọc Phượng nhắc đến ở 2 bài thơ: Ngã ba Cây Cầy (1973), Dốc Năm Cua (1974) để ca ngợi các chiến sĩ vận tải. Ngã ba Cây Cầy, Dốc Năm Cua là những điểm mốc quan trọng mà bất cứ người chiến sĩ nào đi qua cũng đều ấn tượng và không thể nào quên. Hai bài thơ này đã trở thành dấu mốc quan trọng và có nhiều điều đặc biệt hơn so với những bài thơ khác sáng tác trong thời điểm này. Người chiến sĩ Trần Ngọc Phượng đã trực tiếp ghi lại những cảm xúc của mình với những người đồng đội, chiến sĩ đã đi qua trên những những cung đường đầy hiểm nguy ấy.

Trần Ngọc Phượng bồi hồi nhớ lại: “Khi viết xong Ngã ba Cây Cầy Dốc Năm Cua tôi gửi ngay bản chép tay cho bạn mình là Đỗ Thanh Hà (lúc đó là nhân viên quân giới ở Đoàn bộ) để góp ý, sửa chữa và đăng báo tường. Liền sau đó là cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bận rộn với công việc nên tôi cũng quên đi. Mấy chục năm sau khi về hưu, tình cờ gặp lại anh Hà đã trao lại cho tôi bản chép tay ngày xưa mà tôi gửi anh sửa chữa, góp ý để đăng báo tường. Tôi vô cùng xúc động, nghẹn ngào không ngăn được nước mắt khi nhận lại tờ giấy pơ luya chép tay thơ đã mấy mươi năm mà anh Hà vẫn còn giữ để trao tận tay cho mình”. Niềm vui vỡ òa cùng với đó là những kỷ niệm một thời đạn lửa, nhọc nhằn ùa về. Tôi đem về và vội đánh máy gửi 2 bài thơ trên để gửi đăng báo. May mắn thay cả hai bài Ngã ba Cây CầyDốc Năm Cua được đăng trên Báo Quân đội nhân dân và Báo Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh. Điều đáng nói ở đây là 2 địa danh trên là do chính những người chiến sĩ đi qua cung đường này và tự đặt. Và trong số đó có người đã hy sinh, số còn lại có người không còn biết cụ thể 2 địa danh đó giờ nằm ở vị trí nào bởi thời gian và sự thay đổi... May thay, khi đọc được 2 bài thơ này đăng báo, những người đồng chí, đồng đội của Trần Ngọc Phượng đã cung cấp thêm tư liệu và thông tin cụ thể về 2 địa danh trên. Vẫn còn những nhân chứng sống, biết và kể chi tiết về Ngã ba Cây Cầy và Dốc Năm Cua. Nhờ thế, mà việc tìm hài cốt đồng chí, đồng đội cũng có phần thuận lợi hơn.

Dốc Năm Cua Ngã ba Cây Cầy đã trở thành dấu mốc quan trọng trong những năm chiến tranh và cả trong những năm tháng hòa bình. Nhiều đồng chí, đồng đội của anh đã qua đây có người đã vĩnh viễn nằm lại nơi này. Để rồi, sau ngày đất nước hòa bình người ta đã về lại những nơi này để tìm/ lấy hài cốt những liệt sĩ đã hy sinh.

Dốc Năm Cua nằm trên cung đường qua lộ Trần Lệ Xuân, ngầm Mã Đà, sân bay Rang Rang (nay thuộc huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) xuống sông Đồng Nai. Dốc này rất cao, có nhiều khúc cua gắt, anh em gọi là Dốc Năm Cua. Anh Đinh Văn Long, lái xe của Đại đội vận tải V21 (Đoàn 814) kể rằng: “Anh em dùng xe REO của Mỹ. Xe cũ, phanh hỏng. Mỗi lần lên dốc phải gài số 1, thả tời buộc vào gốc cây cho xe bò lên từng đoạn. Mùa mưa đường trơn, nhiều lúc xuống dốc xe trôi tự do, nhiều lần lật xe. Không những thế còn thường xuyên bị địch thả pháo sáng, ném bom và tập kích bằng pháo bầy. Nhiều anh em đã hy sinh ở đây”.

Còn Ngã ba Cây Cầy nằm ở Cánh 1 phục vụ các đơn vị thuộc khu vực Thủ Dầu Một. Trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, Đại đội V21 chở hàng từ Bình Cơ (nay thuộc xã Bình Mỹ, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) xuống Phước Vĩnh (nay là thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương) để phục vụ cho Sư đoàn 7 đánh Chơn Thành, Hớn Quản (nay thuộc tỉnh Bình Phước), lập nên những chiến công vang dội, được báo chí ca ngợi, nêu kỷ lục 150 này đêm chốt chặn bám trụ kiên cường trên đường 13.

Anh Đặng Đường, nguyên Trợ lý Tiểu đoàn 6 (Đoàn 814) kể một cách rành mạch chuyện tìm mộ liệt sĩ ở Ngã ba Cây Cầy: “Tháng 9/1974, có 6 anh em của Tiểu đoàn 6 và 2 lái xe của Đại đội V21 vận chuyển hàng trên chiếc xe GMC đã hy sinh ở đây khi trúng mìn của địch. Chính tôi và một số anh em đồng đội khác đã chôn cất các anh em vừa hy sinh tại Ngã ba này (nằm trên địa phận xã Tân Lập, huyện Phú Giáo, Bình Dương)”. Chiến tranh kết thúc, cảnh vật nơi đây đã thay đổi. Ngã ba Cây Cầy giờ đây đã không còn vết tích, thay vào đó là rừng cao su bạt ngàn. Thế nhưng anh Chính, một cựu chiến binh ở địa phương vẫn còn nhớ và dẫn mọi người đến bãi cỏ, chỉ chính xác nơi chôn cất các anh em. Và địa phương đã khai quật đưa hài cốt các chiến sĩ về Nghĩa trang Liệt sĩ Đồng Xoài. 4/8 người đã có bia ghi tên họ, còn 4 người chưa xác định được tên. Anh Đường nói thêm: “Đêm đó, chúng tôi an táng các anh trong ánh pháo sáng cầm canh của địch nên không bỏ được lọ penicillin ghi tên tuổi, đơn vị, quê quán”.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Hân, nhân viên quân nhu Đoàn 814 ở Cánh 1 cho biết: “Cũng tại nơi này, chiếc xe chở gạo và anh chị em về họp chi bộ cũng bị địch phục kích bắn cháy. Nhiều anh chị em trên xe đã hy sinh...”.

Sau hơn 40 năm, qua bao nhiêu biến cố, thăng trầm của lịch sử, của bản thân nhưng Trần Ngọc Phượng vẫn còn may mắn nhận lại được bản chép tay thơ trên giấy pơ luya viết vội của chính mình từ người đồng đội Đỗ Thanh Hà. Kỷ vật tinh thần mà anh cố gìn giữ cẩn thận cho đến ngày hôm nay.

Cầm trên tay bài thơ anh chép trên giấy đã ngã màu thời gian mới thấy được tình yêu thơ và sự trân quý đặc biệt của người chiến sĩ Trần Ngọc Phượng dành cho bạn bè, đồng chí, đồng đội của mình. Càng đáng quý hơn nữa là người đồng đội Đỗ Thanh Hà vẫn gìn giữ cẩn thận bài thơ chép tay của bạn trong mấy mươi năm và trao lại tận tay cho chính tác giả.

Nhà thơ nhận ra cái chân lý sâu xa trong những điều giản đơn, bình dị, gần gũi, ấm áp, nghĩa tình từ cuộc sống bằng cảm quan riêng của người giàu sự trải nghiệm.

Giờ đây, sau gần 50 năm đất nước hòa bình, những người may mắn như Trần Ngọc Phượng vẫn còn sống đó là điều vô cùng hạnh phúc. Ngày họp mặt Sư đoàn, bao ký ức thuở nào lại ùa về, nhà thơ Trần Ngọc Phượng hồi tưởng: Hồi ấy lính tụi mình trẻ lắm/ Vượt Trường Sơn sốt rét xanh rờn/ Vào sư đoàn mang tên lạ lẫm/ Công trường 5, đất đỏ miền Đông// Núi Mây Tàu lá reo suối hát/ Buổi xuất quân đánh Võ Đắc, Ông Đồn/ Đêm rừng Lá nghe chân voi rậm rịch/ Tiếng pháo bầy, bom tọa độ nổ dồn// Ngày giặc càn đói quay đói quắt/ Hái măng le, đào củ chụp thay cơm/ Bên miệng hầm võng mắc chung một cọc/ Điếu thuốc rê chia nhau hút xoay vòng// Rồi đến trận Long Tân, Núi Đất/ Đường trượt trơn úp lật bàn chân/ Tiểu đoàn mình vơi đi gần hết/ Xác đến nay đồng đội vẫn đang tìm.

Những năm tháng gian lao mà hào hùng ấy đã trở thành niềm tin yêu bất diệt cho những người may mắn còn sống đến hôm nay. Anh trân trọng, kính phục và dành tình yêu thương vô hạn với những người đã khuất.

Trần Ngọc Phượng không giấu nổi những cảm xúc nghẹn ngào khi nghĩ về những người đồng chí, đồng đội của mình đã ngã xuống ở khắp các chiến trường. Sau mấy mươi năm đất nước hòa bình nhưng có người đến hiện tại vẫn chưa tìm được hài cốt. Đó cũng chính là nỗi đau đến khôn cùng của những ruột thịt và cả những người đồng chí, đồng đội như anh.

Sau ngày đất nước hòa bình, dù bận nhiều công việc nhưng Trần Ngọc Phượng vẫn dành thời gian để làm thơ, viết văn. Anh xem đó như là thú vui tao nhã, là sự tri ân với bạn bè, đồng chí, đồng đội một thời khói lửa... Và nhất là từ lúc nghỉ hưu đến giờ, Trần Ngọc Phượng có nhiều thời gian hơn để anh ngẫm ngợi, suy tư và cho ra đời những tác phẩm mới. Trần Ngọc Phượng có dịp thủ thỉ, tâm tình, chuyện trò, giãi bày những nỗi niềm sâu kín của lòng mình, thế hệ mình về một thời đã qua và cả những điều đáng nói hôm nay.

Năm tháng cứ trôi đi, năm tháng khác lại về; những ngày tháng cũ và cả những tháng năm của hiện tại, của tương lai... có điều gì đó giăng mắc, có điều gì đó làm cho Trần Ngọc Phượng rưng rưng:

Tháng Bảy/ Tri ân/ Những người đã mất/ Nhớ bạn xưa/ Đói rừng quay quắt/ Mâm cỗ cao đầy/ Gọi nhau về họp mặt/ Những linh hồn/ Uẩn khuất bốn phương/ Hãy về đây/ Phán xét/ Bao dung (Tháng Bảy).

Điều đặc biệt ở Trần Ngọc Phượng là anh làm thơ từ những năm tháng tuổi trẻ, ấn tượng và đáng trân trọng là anh ghi lại trực tiếp những cảm xúc, suy ngẫm thành thực ngay ở chiến trường. Nhưng mãi đến lúc nghỉ hưu, Trần Ngọc Phượng mới chính thức công bố các sáng tác của mình.

Cho đến thời điểm này, Trần Ngọc Phượng đã in 5 tập thơ (Vầng trăng ký ức, Nắng và Gió, Hồn tóc, Tiếng vọng, Sóng đời) và 1 tập Ký - Tản văn (Tìm dấu chân xưa).

Xin giới thiệu 2 bài thơ Ngã ba Cây CầyDốc Năm Cua được Trần Ngọc Phượng viết vào năm 1973, 1974.
 

Ngã ba Cây Cầy

Tặng đồng đội  Đoàn vận tải 814
 

Đường phía trước qua ngã ba này

Cứ yên tâm có cây cầy chỉ lối

Cành tán xòe như bàn tay vẫy gọi

Lòng bồi hồi nghe tiếng lá reo

 

Vào chiến dịch quân nối theo nhau

Đường vận chuyển ầm ầm thác đổ

Cái ngã ba là nơi gặp gỡ

Những bàn chân mang bụi đất trăm miền

 

Đã bao lần xe ta vượt lên

Nơi trọng điểm pháo bầy bom giội

Thương thân cây máu tuôn nhựa xối

Vẫn hiên ngang đứng vững giữa trời

 

Bao buồn vui trên chặng đường dài

Ta lấy nơi đây làm điểm mốc

Bao nét mặt lầm lỳ gan góc

Sáng bừng lên trong chớp lửa chập chờn

 

Dù nơi đây cây cỏ chẳng còn

Cái ngã ba không bao giờ đổi hướng

Khi tim ta đỏ hồng máu nóng

Lửa chiến công giục giã vòng quay

 

Đêm tiền phương lấp lánh sao mai

Có phải mắt em nhìn anh đấy

Cả hậu phương dồn trong tay lái

Anh sẽ đi tới đích đưa hàng

 

Qua đây rồi thấy đất mở mênh mông

Hạnh phúc em ơi! Ta đã thắng

Từ ngã ba đầu làng em đưa tiễn

Anh đã đi giữ trọn niềm tin

 

Anh đã cùng đất nước đi lên

Trong cuộc đời có trăm ngàn bước ngoặt

Em biết không? Mùa xuân đang hát

Từ ngã ba này đi tới tương lai.

1973

 

Dốc Năm Cua

Tặng anh em Đồng đội Đại đội vận tải Đoàn 814 - B2
 

Nào xong chưa

Ta vượt Dốc Năm Cua

Hơi thuốc cuối sáng mặt

người bình thản

dốc dựng đứng 

che vầng trăng sáng

Xe ta vào khoảng tối đêm trăng

Hồi hộp rồi sẽ qua nhanh

Đừng ngợp mắt

trước độ cao chót vót

Khi xe vào cua một

Máy reo ta hiểu sức mình hơn

 

Mới cua đầu mà sao chênh vênh

Xe mấy lần leo lên trượt xuống

Ánh đèn quét

trên vũng lầy loang loáng

Vết xe ai tụt dốc còn hằn

 

Cua Hai chẳng kém gian nan

Nhưng quen rồi

sẽ không khó nữa

Bàn tay anh lái xe như múa

Qua khung sàng

nhảy nhót những hạt sao

Có gì yên đâu?

Cái yên tĩnh trong nhịp tim ta đó

 

Khi xe nghiêng qua miệng

hố bom nham nhở

Khoảng cách hai vực sâu

là sự sống con đường

Từ trong đêm mênh mông

Thơ bật sáng trăm ngàn ý đẹp

 

Còn anh lái xe

Chỉ nhìn lên phía trước

 

Nơi những bánh xe

tự tin gan góc

Đang lăn qua điểm

chạm chí anh hùng

Trên đỉnh đầu

thoáng ánh trăng soi

 

Qua Cua Ba rồi

xin đừng sốt ruột

Cơn gió lạnh kéo dài đỉnh dốc

Tỉnh táo xe ơi!

Từng nấc bám dần lên

 

Cua Bốn, Cua Năm

Vòng ngoặt sát liền

Nhớ chỗ này, tăng ga sang số

Xe chồm lên dập dồn hơi thở

Như tung mình

                     trong tư thế xung phong

 

Chỉ chút nữa thôi

Niềm vui như ánh trăng rực rỡ

Sẽ ùa ra từ ánh mắt thâm quầng

 

Đất quê ta đèo dốc chon von

Đường phía trước

                  bom cầy đạn cấy

Cánh hậu cần xòe ra rộng mãi

Từ con đường vận chuyển

                             Dốc Năm Cua

                                 11/ 1974

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm