TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Trần Ngọc Phượng với câu chuyện kể cảm động về hai bài thơ được viết trên đường ra trận

Trần Ngọc Phượng với câu chuyện kể cảm động về hai bài thơ được viết trên đường ra trận

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-06-09 15:22:09
mail facebook google pos stwis
5526 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

Nhà thơ, Cựu chiến binh Trần Ngọc Phượng sinh năm 1945 tại Sài Gòn, quê quán Nam Định. Trong kháng chiến chống Mỹ, anh là Đài trưởng Vô tuyến điện Đoàn 814 Cục hậu cần B2. Anh làm thơ từ rất sớm, ngay từ những năm tháng tham gia chiến đấu ở chiến trường. Nhiều bài thơ được viết trên đường hành quân và có liên quan đến những địa danh, những con người người của một thời đạn lửa. Trong số đó có bài thơ: Dốc Năm CuaNgã Ba Cây Cầy được rất nhiều đồng chí, đồng đội của anh biết đến. Thời gian cứ trôi đi cùng với những biến cố thăng trầm của lịch sử, những chi phối của cuộc sống cá nhân tưởng những 2 bài thơ trên sẽ đi vào quên lãng. Nào ngờ, ngày họp mặt vào cuối tháng 4/2015, Trần Ngọc Phượng được chính người đồng đội của mình là Đỗ Thanh Hà trao lại bản chép tay bài thơ trên mà Trần Ngọc Phượng gửi anh của hơn 40 năm trước...

Sau ngày đất nước hòa bình, Trần Ngọc Phượng chuyển ngành về công tác tại TP. Hồ Chí Minh. Hiện anh đã về hưu, Hội viên Cựu Chiến Binh, Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh.


Nhà thơ Trần Ngọc Phượng và tác giả bài viết

Năm 1971, Đoàn 814 thuộc Cục Hậu cần B2 được thành lập trên cơ sở sáp nhập Đoàn Hậu cần 81 và 84. Trần Ngọc Phượng là người chiến sĩ trực tiếp tham gia Đoàn 814. Anh đã đi qua những năm tháng gian lao của cuộc chiến lại là người chiến sĩ có tâm hồn thơ ca nên những điều gì xảy ra trên đường hành quân cũng đều để lại cho Trần Ngọc Phượng những rung cảm. Trong thời khắc khó khăn, ác liệt nhất ở chiến trường mà Trần Ngọc Phượng vẫn dành tình yêu với thơ ca, chép vội trên giấy pơ luya... để ghi lại cảm xúc của mình với những người đồng chí, đồng đội và cả với những điều anh chứng kiến trên đường hành quân. Điều ấy thật đáng trân quý biết nhường nào!

Trên đường hành quân, phải di chuyển đến nhiều nơi nên mọi khó khăn, thách thức đè nặng trên vai của người chiến sĩ. Đặc biệt là những năm tháng cuộc chiến tranh ở vào giai đoạn ác liệt nhất. Vậy mà Trần Ngọc Phượng vẫn âm thầm ghi chép, vẫn lặng lẽ làm thơ. Những nơi anh và đồng đội đã đi qua, những địa danh, tên đất, tên làng... đi vào thơ anh một cách tự nhiên, hồn hậu. Trong tất cả những nơi đã đi qua, có 2 địa danh được Trần Ngọc Phượng nhắc đến ở 2 bài thơ: Ngã ba Cây Cầy (1973), Dốc Năm Cua (1974) để ca ngợi các chiến sĩ vận tải. Ngã ba Cây Cầy, Dốc Năm Cua là những điểm mốc quan trọng mà bất cứ người chiến sĩ nào đi qua cũng đều ấn tượng và không thể nào quên. Hai bài thơ này đã trở thành dấu mốc quan trọng và có nhiều điều đặc biệt hơn so với những bài thơ khác sáng tác trong thời điểm này. Người chiến sĩ Trần Ngọc Phượng đã trực tiếp ghi lại những cảm xúc của mình với những người đồng đội, chiến sĩ đã đi qua trên những những cung đường đầy hiểm nguy ấy.

Trần Ngọc Phượng bồi hồi nhớ lại: “Khi viết xong Ngã ba Cây Cầy Dốc Năm Cua tôi gửi ngay bản chép tay cho bạn mình là Đỗ Thanh Hà (lúc đó là nhân viên quân giới ở Đoàn bộ) để góp ý, sửa chữa và đăng báo tường. Liền sau đó là cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bận rộn với công việc nên tôi cũng quên đi. Mấy chục năm sau khi về hưu, tình cờ gặp lại anh Hà đã trao lại cho tôi bản chép tay ngày xưa mà tôi gửi anh sửa chữa, góp ý để đăng báo tường. Tôi vô cùng xúc động, nghẹn ngào không ngăn được nước mắt khi nhận lại tờ giấy pơ luya chép tay thơ đã mấy mươi năm mà anh Hà vẫn còn giữ để trao tận tay cho mình”. Niềm vui vỡ òa cùng với đó là những kỷ niệm một thời đạn lửa, nhọc nhằn ùa về. Tôi đem về và vội đánh máy gửi 2 bài thơ trên để gửi đăng báo. May mắn thay cả hai bài Ngã ba Cây CầyDốc Năm Cua được đăng trên Báo Quân đội nhân dân và Báo Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh. Điều đáng nói ở đây là 2 địa danh trên là do chính những người chiến sĩ đi qua cung đường này và tự đặt. Và trong số đó có người đã hy sinh, số còn lại có người không còn biết cụ thể 2 địa danh đó giờ nằm ở vị trí nào bởi thời gian và sự thay đổi... May thay, khi đọc được 2 bài thơ này đăng báo, những người đồng chí, đồng đội của Trần Ngọc Phượng đã cung cấp thêm tư liệu và thông tin cụ thể về 2 địa danh trên. Vẫn còn những nhân chứng sống, biết và kể chi tiết về Ngã ba Cây Cầy và Dốc Năm Cua. Nhờ thế, mà việc tìm hài cốt đồng chí, đồng đội cũng có phần thuận lợi hơn.

Dốc Năm Cua Ngã ba Cây Cầy đã trở thành dấu mốc quan trọng trong những năm chiến tranh và cả trong những năm tháng hòa bình. Nhiều đồng chí, đồng đội của anh đã qua đây có người đã vĩnh viễn nằm lại nơi này. Để rồi, sau ngày đất nước hòa bình người ta đã về lại những nơi này để tìm/ lấy hài cốt những liệt sĩ đã hy sinh.

Dốc Năm Cua nằm trên cung đường qua lộ Trần Lệ Xuân, ngầm Mã Đà, sân bay Rang Rang (nay thuộc huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) xuống sông Đồng Nai. Dốc này rất cao, có nhiều khúc cua gắt, anh em gọi là Dốc Năm Cua. Anh Đinh Văn Long, lái xe của Đại đội vận tải V21 (Đoàn 814) kể rằng: “Anh em dùng xe REO của Mỹ. Xe cũ, phanh hỏng. Mỗi lần lên dốc phải gài số 1, thả tời buộc vào gốc cây cho xe bò lên từng đoạn. Mùa mưa đường trơn, nhiều lúc xuống dốc xe trôi tự do, nhiều lần lật xe. Không những thế còn thường xuyên bị địch thả pháo sáng, ném bom và tập kích bằng pháo bầy. Nhiều anh em đã hy sinh ở đây”.

Còn Ngã ba Cây Cầy nằm ở Cánh 1 phục vụ các đơn vị thuộc khu vực Thủ Dầu Một. Trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, Đại đội V21 chở hàng từ Bình Cơ (nay thuộc xã Bình Mỹ, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) xuống Phước Vĩnh (nay là thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương) để phục vụ cho Sư đoàn 7 đánh Chơn Thành, Hớn Quản (nay thuộc tỉnh Bình Phước), lập nên những chiến công vang dội, được báo chí ca ngợi, nêu kỷ lục 150 này đêm chốt chặn bám trụ kiên cường trên đường 13.

Anh Đặng Đường, nguyên Trợ lý Tiểu đoàn 6 (Đoàn 814) kể một cách rành mạch chuyện tìm mộ liệt sĩ ở Ngã ba Cây Cầy: “Tháng 9/1974, có 6 anh em của Tiểu đoàn 6 và 2 lái xe của Đại đội V21 vận chuyển hàng trên chiếc xe GMC đã hy sinh ở đây khi trúng mìn của địch. Chính tôi và một số anh em đồng đội khác đã chôn cất các anh em vừa hy sinh tại Ngã ba này (nằm trên địa phận xã Tân Lập, huyện Phú Giáo, Bình Dương)”. Chiến tranh kết thúc, cảnh vật nơi đây đã thay đổi. Ngã ba Cây Cầy giờ đây đã không còn vết tích, thay vào đó là rừng cao su bạt ngàn. Thế nhưng anh Chính, một cựu chiến binh ở địa phương vẫn còn nhớ và dẫn mọi người đến bãi cỏ, chỉ chính xác nơi chôn cất các anh em. Và địa phương đã khai quật đưa hài cốt các chiến sĩ về Nghĩa trang Liệt sĩ Đồng Xoài. 4/8 người đã có bia ghi tên họ, còn 4 người chưa xác định được tên. Anh Đường nói thêm: “Đêm đó, chúng tôi an táng các anh trong ánh pháo sáng cầm canh của địch nên không bỏ được lọ penicillin ghi tên tuổi, đơn vị, quê quán”.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Hân, nhân viên quân nhu Đoàn 814 ở Cánh 1 cho biết: “Cũng tại nơi này, chiếc xe chở gạo và anh chị em về họp chi bộ cũng bị địch phục kích bắn cháy. Nhiều anh chị em trên xe đã hy sinh...”.

Sau hơn 40 năm, qua bao nhiêu biến cố, thăng trầm của lịch sử, của bản thân nhưng Trần Ngọc Phượng vẫn còn may mắn nhận lại được bản chép tay thơ trên giấy pơ luya viết vội của chính mình từ người đồng đội Đỗ Thanh Hà. Kỷ vật tinh thần mà anh cố gìn giữ cẩn thận cho đến ngày hôm nay.

Cầm trên tay bài thơ anh chép trên giấy đã ngã màu thời gian mới thấy được tình yêu thơ và sự trân quý đặc biệt của người chiến sĩ Trần Ngọc Phượng dành cho bạn bè, đồng chí, đồng đội của mình. Càng đáng quý hơn nữa là người đồng đội Đỗ Thanh Hà vẫn gìn giữ cẩn thận bài thơ chép tay của bạn trong mấy mươi năm và trao lại tận tay cho chính tác giả.

Nhà thơ nhận ra cái chân lý sâu xa trong những điều giản đơn, bình dị, gần gũi, ấm áp, nghĩa tình từ cuộc sống bằng cảm quan riêng của người giàu sự trải nghiệm.

Giờ đây, sau gần 50 năm đất nước hòa bình, những người may mắn như Trần Ngọc Phượng vẫn còn sống đó là điều vô cùng hạnh phúc. Ngày họp mặt Sư đoàn, bao ký ức thuở nào lại ùa về, nhà thơ Trần Ngọc Phượng hồi tưởng: Hồi ấy lính tụi mình trẻ lắm/ Vượt Trường Sơn sốt rét xanh rờn/ Vào sư đoàn mang tên lạ lẫm/ Công trường 5, đất đỏ miền Đông// Núi Mây Tàu lá reo suối hát/ Buổi xuất quân đánh Võ Đắc, Ông Đồn/ Đêm rừng Lá nghe chân voi rậm rịch/ Tiếng pháo bầy, bom tọa độ nổ dồn// Ngày giặc càn đói quay đói quắt/ Hái măng le, đào củ chụp thay cơm/ Bên miệng hầm võng mắc chung một cọc/ Điếu thuốc rê chia nhau hút xoay vòng// Rồi đến trận Long Tân, Núi Đất/ Đường trượt trơn úp lật bàn chân/ Tiểu đoàn mình vơi đi gần hết/ Xác đến nay đồng đội vẫn đang tìm.

Những năm tháng gian lao mà hào hùng ấy đã trở thành niềm tin yêu bất diệt cho những người may mắn còn sống đến hôm nay. Anh trân trọng, kính phục và dành tình yêu thương vô hạn với những người đã khuất.

Trần Ngọc Phượng không giấu nổi những cảm xúc nghẹn ngào khi nghĩ về những người đồng chí, đồng đội của mình đã ngã xuống ở khắp các chiến trường. Sau mấy mươi năm đất nước hòa bình nhưng có người đến hiện tại vẫn chưa tìm được hài cốt. Đó cũng chính là nỗi đau đến khôn cùng của những ruột thịt và cả những người đồng chí, đồng đội như anh.

Sau ngày đất nước hòa bình, dù bận nhiều công việc nhưng Trần Ngọc Phượng vẫn dành thời gian để làm thơ, viết văn. Anh xem đó như là thú vui tao nhã, là sự tri ân với bạn bè, đồng chí, đồng đội một thời khói lửa... Và nhất là từ lúc nghỉ hưu đến giờ, Trần Ngọc Phượng có nhiều thời gian hơn để anh ngẫm ngợi, suy tư và cho ra đời những tác phẩm mới. Trần Ngọc Phượng có dịp thủ thỉ, tâm tình, chuyện trò, giãi bày những nỗi niềm sâu kín của lòng mình, thế hệ mình về một thời đã qua và cả những điều đáng nói hôm nay.

Năm tháng cứ trôi đi, năm tháng khác lại về; những ngày tháng cũ và cả những tháng năm của hiện tại, của tương lai... có điều gì đó giăng mắc, có điều gì đó làm cho Trần Ngọc Phượng rưng rưng:

Tháng Bảy/ Tri ân/ Những người đã mất/ Nhớ bạn xưa/ Đói rừng quay quắt/ Mâm cỗ cao đầy/ Gọi nhau về họp mặt/ Những linh hồn/ Uẩn khuất bốn phương/ Hãy về đây/ Phán xét/ Bao dung (Tháng Bảy).

Điều đặc biệt ở Trần Ngọc Phượng là anh làm thơ từ những năm tháng tuổi trẻ, ấn tượng và đáng trân trọng là anh ghi lại trực tiếp những cảm xúc, suy ngẫm thành thực ngay ở chiến trường. Nhưng mãi đến lúc nghỉ hưu, Trần Ngọc Phượng mới chính thức công bố các sáng tác của mình.

Cho đến thời điểm này, Trần Ngọc Phượng đã in 5 tập thơ (Vầng trăng ký ức, Nắng và Gió, Hồn tóc, Tiếng vọng, Sóng đời) và 1 tập Ký - Tản văn (Tìm dấu chân xưa).

Xin giới thiệu 2 bài thơ Ngã ba Cây CầyDốc Năm Cua được Trần Ngọc Phượng viết vào năm 1973, 1974.
 

Ngã ba Cây Cầy

Tặng đồng đội  Đoàn vận tải 814
 

Đường phía trước qua ngã ba này

Cứ yên tâm có cây cầy chỉ lối

Cành tán xòe như bàn tay vẫy gọi

Lòng bồi hồi nghe tiếng lá reo

 

Vào chiến dịch quân nối theo nhau

Đường vận chuyển ầm ầm thác đổ

Cái ngã ba là nơi gặp gỡ

Những bàn chân mang bụi đất trăm miền

 

Đã bao lần xe ta vượt lên

Nơi trọng điểm pháo bầy bom giội

Thương thân cây máu tuôn nhựa xối

Vẫn hiên ngang đứng vững giữa trời

 

Bao buồn vui trên chặng đường dài

Ta lấy nơi đây làm điểm mốc

Bao nét mặt lầm lỳ gan góc

Sáng bừng lên trong chớp lửa chập chờn

 

Dù nơi đây cây cỏ chẳng còn

Cái ngã ba không bao giờ đổi hướng

Khi tim ta đỏ hồng máu nóng

Lửa chiến công giục giã vòng quay

 

Đêm tiền phương lấp lánh sao mai

Có phải mắt em nhìn anh đấy

Cả hậu phương dồn trong tay lái

Anh sẽ đi tới đích đưa hàng

 

Qua đây rồi thấy đất mở mênh mông

Hạnh phúc em ơi! Ta đã thắng

Từ ngã ba đầu làng em đưa tiễn

Anh đã đi giữ trọn niềm tin

 

Anh đã cùng đất nước đi lên

Trong cuộc đời có trăm ngàn bước ngoặt

Em biết không? Mùa xuân đang hát

Từ ngã ba này đi tới tương lai.

1973

 

Dốc Năm Cua

Tặng anh em Đồng đội Đại đội vận tải Đoàn 814 - B2
 

Nào xong chưa

Ta vượt Dốc Năm Cua

Hơi thuốc cuối sáng mặt

người bình thản

dốc dựng đứng 

che vầng trăng sáng

Xe ta vào khoảng tối đêm trăng

Hồi hộp rồi sẽ qua nhanh

Đừng ngợp mắt

trước độ cao chót vót

Khi xe vào cua một

Máy reo ta hiểu sức mình hơn

 

Mới cua đầu mà sao chênh vênh

Xe mấy lần leo lên trượt xuống

Ánh đèn quét

trên vũng lầy loang loáng

Vết xe ai tụt dốc còn hằn

 

Cua Hai chẳng kém gian nan

Nhưng quen rồi

sẽ không khó nữa

Bàn tay anh lái xe như múa

Qua khung sàng

nhảy nhót những hạt sao

Có gì yên đâu?

Cái yên tĩnh trong nhịp tim ta đó

 

Khi xe nghiêng qua miệng

hố bom nham nhở

Khoảng cách hai vực sâu

là sự sống con đường

Từ trong đêm mênh mông

Thơ bật sáng trăm ngàn ý đẹp

 

Còn anh lái xe

Chỉ nhìn lên phía trước

 

Nơi những bánh xe

tự tin gan góc

Đang lăn qua điểm

chạm chí anh hùng

Trên đỉnh đầu

thoáng ánh trăng soi

 

Qua Cua Ba rồi

xin đừng sốt ruột

Cơn gió lạnh kéo dài đỉnh dốc

Tỉnh táo xe ơi!

Từng nấc bám dần lên

 

Cua Bốn, Cua Năm

Vòng ngoặt sát liền

Nhớ chỗ này, tăng ga sang số

Xe chồm lên dập dồn hơi thở

Như tung mình

                     trong tư thế xung phong

 

Chỉ chút nữa thôi

Niềm vui như ánh trăng rực rỡ

Sẽ ùa ra từ ánh mắt thâm quầng

 

Đất quê ta đèo dốc chon von

Đường phía trước

                  bom cầy đạn cấy

Cánh hậu cần xòe ra rộng mãi

Từ con đường vận chuyển

                             Dốc Năm Cua

                                 11/ 1974

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trần Mai Hường, hành trình giàu nữ tính
Trần Mai Hường dành cho tôi một bất ngờ. Cố thổ của chị xã Trung Tú (nay là xã Ứng Hòa). Ngày còn học Đại học tôi từng đi xe đạp, theo anh bạn cùng học về xã Hòa Nam (nay là xã Hòa Xá), ngang qua mặt Vân Đình, chỉ chưa về Trung Tú.
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang
Bài đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.
Xem thêm