TIN TỨC

Chinh Văn, lời chim bão tố

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-10-07 08:46:05
mail facebook google pos stwis
2181 lượt xem

HUỲNH VĂN HOA

Chinh Văn tên thật Phan Tân Minh, sinh năm 1945, tại làng Bảo An, xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Các bút danh khác Phan Oanh Giang, Trần Thị Lý, …

Đã theo học Đại học Văn khoa - Sài Gòn, Trường Báo chí Trung ương Cục Miền Nam, Trường viết văn Nguyễn Du - Hà Nội.

Tham gia phong trào TNSVHS, Phong trào tự trị đại học, Thành viên Liên minh các Lực lượng Dân tộc - Dân chủ - Hòa bình từ năm 1968.

Có thơ, truyện đăng trên các báo, tạp chí: Ngày Mới, Giữ thơm quê mẹ, Tranh Đấu, Hồn Trẻ, …

Tác phẩm: - Lời chim bão tố, Thơ, 1967/ - Trên đường vinh quang, Kịch thơ, 1967

Chinh Văn là em ruột nhà văn Chinh Ba (Phan Tân Nhựt, sinh này 10-12-1934, mất ngày 12-07-2022), cùng tộc với Phan Khôi. Chinh Ba, tác giả nhiều truyện ngắn hay viết và in trong những năm 50, 60 của thế kỷ XX tại Sài Gòn, nổi tiếng với truyện ngắn Bài thơ trên xương cụt, viết trong nhà tù Chí Hòa, đăng trên Giữ thơm quê mẹ, số 4, tháng 10-1965, sau in trong tập Ảo tượng cùng với những tác giả như Sơn Nam, Thiều Chi, Nhất Hạnh, Võ Phiến, Tuệ Uyển, Hồ Hữu Tường, do Lá Bối xuất bản, in lần đầu 1966, lần thứ hai 1971.

Những bài thơ đầu tiên của Chinh Văn in rải rác trên các báo, tạp chí là những dòng thơ trong sáng, nặng tình quê và tình người. Thơ Chinh Văn thường dài, cấu trúc theo thể tự do, độ dài ngắn mỗi dòng thơ thường không đồng đều.

Vậy mà, trên Trăm năm thơ Đất Quảng, NXB Hội Nhà văn, 2005, có tuyển bài Mai sau viết tại Phan Rang, năm 1962, chỉ 8 câu lục bát. Tám dòng lục bát là lời những cầu xin, lời cầu xin chân thành, tha thiết, dẫu có lìa đời:

Mai sau dẫu có lìa đời

Xin làm ghế đá đợi người bên sông

Để trời rộng bớt mênh mông

Để em bớt chút long đong đường dài

Để con trẻ có chỗ chơi

Để người già có chốn ngồi nghỉ chân

Để đôi lứa bớt phân vân

Có nơi ngồi lại ân cần bên nhau.

Tâm tình của tác giả qua năm lần sử dụng từ "để" và ba lần dùng từ "bớt". Qua đó, ghế đá trở thành một bến đỗ bình yên, trở thành một nơi chốn vui vầy, đoàn tụ, thành nơi đi và về của những con người cần sự sẻ chia, sự thông cảm. Ý tưởng nhân văn đó thấm vào từng câu thơ, từng hình ảnh, tạo nên giá trị thẩm mỹ của bài thơ. Vì thế, cái  vòng sóng yêu thương cứ lan tỏa, lan tỏa mãi, tạo sự đồng cảm nơi người đọc.

Cái bao la của đất trời bớt mênh mông. Cái đường dài xa thẳm bớt long đong. Nơi con trẻ có chỗ vui chơi, đùa giỡn. Nơi người già, có chốn dừng chân. Nơi đôi lứa yêu nhau, có nơi ngồi lại ân cần bên nhau. Mọi lứa tuổi, mọi đối tượng, xét về quyền sống, đều được thụ hưởng và có quyền thụ hưởng. Đích đến của bài thơ là ở chỗ đó. 

Trên tạp chí Giữ thơm quê mẹ, số 7&8, Xuân Bính Ngọ, 1-1-1966, Lời chim bão tố xuất hiện. Câu đầu tiên của bài thơ: Hãy ở lại với chúng tôi. Từ đây, điệp khúc này được lặp lại nhiều lần.

Bài thơ có 389 từ với 89 dòng, kể cả dòng chỉ một từ, có đến 18 lần sử dụng từ "hãy", đặt ở đầu mỗi dòng thơ. Bài thơ viết theo thể tự do, không gò bó trong niêm luật. Bài thơ khiến cho ta dễ hình dung như một bầy chim bay trong con lốc của bão tố. Sự cuồng phong về ngôn ngữ, hình ảnh đã xô giạt cảm xúc, suy tư của người đọc, nhất là qua lớp từ đậm sắc thái biểu cảm của từ cầu khiến: HÃY. Mười tám lần kêu lên: HÃY. Có lẽ, đây là bài thơ có số lượng phó từ cầu khiến chiếm số lượng và tỷ lệ cao trong thơ ca yêu nước tại miền Nam trước 1975: 

Hãy ở lại với chúng tôi (4 lần)

hãy cất cao lời thơ hùng vĩ

hãy cất cao lời ru sầu xứ

hãy thêm cao

hãy thêm nặng

hãy gào thét nung tinh thần bất khuất

hãy bước tới           

hãy thêm

thêm nhiều nữa

hãy cuồng nhiệt cho sóng triều trùng điệp

hãy hăng say như vận tốc mặt trời

hãy vào lò và gió

hãy ngàn khơi

hãy bão tố dậy cuồng phong

hãy ngàn trượng

Từ "hãy", qua ngữ cảnh của bài thơ, tạo nên một sắc thái nghĩa đa dạng, phong phú. Theo Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, do Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, 2005, trang 426, "hãy", có nghĩa: 

1. Thường kết hợp với từ còn; dùng phụ trước tính từ, đồng từ, biểu thị sự tiếp diễn của trạng thái, chưa có sự biến đổi, chưa chuyển sang trạng thái khác.

2. Biểu thị tính chất tạm thời của một việc làm trong khi chưa có gì khác, chưa có gì thay đổi.

3. Biểu thị ý yêu cầu có tính chất mệnh lệnh hoặc thuyết phục, động viên nên làm việc gì đó, nên có thái độ nào đó.

Trong ba nghĩa trên, dễ thấy là, nhà thơ nghiêng về phía nghĩa thứ ba.

Từ "hãy" là phó từ , đi kèm với động từ, tính từ để bổ sung ý nghĩa cho tính từ, động từ. Từ "hãy" cộng với lớp từ kêu gọi "cất cao lời thơ hùng vĩ, cất cao lời ru sầu xứ, cuồng nhiệt cho sóng triều trùng điệp, hăng say như vận tốc mặt trời, hãy ngàn khơi, bão tố cuồng phong", ...

Các nguồn năng lượng mạnh mẽ, rùng rùng đứng dậy: sóng, gió, mặt trời, ngàn khơi, cuồng phong, ngàn trượng dồn dập, đi tới, khiến cho bài thơ có điệu gấp, sáng bừng lên những hình ảnh về thiên thần, cánh hồng bay bổng, tiếng sáo ngà, những thiên nga vàng son đôi cánh, hỡi những thi sĩ, ngợi ca hài bảy dặm, xiềng xích trăm năm đừng ngân nữa sợi tơ trùng, đừng nhấn nữa phím tơ căng, nếu chỉ biết khóc than, niềm riêng tư bé bỏng ...

Chinh Văn sử dụng phương thức tu từ so sánh, so sánh dân tộc Việt với hai mươi bảy triệu mặt trời / đang đổ lửa / hôm nay / làm nên lịch sử / hỡi những bước chân đi / chuyển núi rung đồi / xanh ngắt vượt từng không / làm ngơ ngẩn loài chim chiền chiện / rẽ sóng mà đi / hỡi kình ngư / xé gió mà tung / hỡi cánh chim bão tố ...

Lời kêu gọi mạnh mẽ, hãy gào thét nung tinh thần bất khuất / hãy bước tới / chớ bao giờ ngờ vực / gió lên rồi / xé ngang trời / sạch không rác rếnh tanh hôi ...

Điều đặc sắc của Lời chim bão tố là vừa mãnh liệt vừa trữ tình, vừa cất cao lời thơ hùng vĩ lại vừa những thiên thần đẹp đẽ / những đàn con yêu mến quê hương / những chàng tóc xanh / thi sĩ của mặt trời ... Tính lưỡng phân này làm cho bài thơ hay, đẹp như cánh hồng bay bổng, như tiếng sáo ngà da diết thổi thâu đêm.

Trên Giữ thơm quê mẹ, số 9, tháng 3-1966, một bài thơ có niêm luật chặt chẽ, dài đến 82 câu, có tên Tiếng đêm. Nhân vật trữ tình xưng "tôi" trong bài thơ là sự hóa thân của tác giả: Tôi mở mắt / Tôi lắng im / Tôi đứng lại soi mình trong quạnh quẽ / trong cô tịch, tôi nghe tôi đằng hẵng / tôi núi đá đã vạn đời câm nín / tôi chẳng dám ngẩng đầu trông lên nữa / tôi chằng dám chờ mong dù đốm lửa / sợ cô đơn, tôi sợ cả câu chào / úp mặt xuống, tôi bước đi thờ thẩn / tôi thổ mộ khuya về trên phố vắng / kiếp đi hoang, tôi là gió không nhà / tôi núi đá đã vạn đời câm nín / nghe hải triều ngờ ngợ giấc bao la / tôi đâu biết, tôi chẳng hề hay biết / mở mắt nhìn tôi chợt thấy tôi đây / tôi đâu biết, tôi chằng hề chém giết / mũi súng nào chợt bay khói trên tay / tôi đứng đó, giữa tháng năm hờ hững / không biết nữa, vì đâu tôi ủy mị, ...

Thời khắc "đêm" của hồng thủy, phong ba, rắn rít, tha ma. tiếng gì tru tréo, của thú hay ma với "chẳng dám" , "không" và "tại", kéo dài suốt bài thơ, gây nên cảm giác quạnh quẽ, đờ đẫn, rũ rượi, phai tàn, cuồng điên. Chỉ hai câu thơ cuối cùng, khiến cho bài thơ sáng lại, nồng nàn:

đêm nay trời rộng sông dài

có con thuyển nhỏ chở hai đứa mình

Bài thơ như một phản ứng tâm lý của một người trẻ khi nhìn hiện thực có những gam màu tối. Người đọc có cảm giác như tác giả giằng xé nội tâm, sợ mình, sợ chung quanh mình, cứ loay hoay mãi, không tìm thấy lối ra, may sao có con thuyền nhỏ, vươn ra trời rộng sông dài.

Trong thơ Chinh Văn, Hợp tấu khúc mùa xanh, bài được tuyển chọn, in trong Tiếng hát những người đi tới, Tuyển tập thơ văn, Báo Thanh Niên, Báo Tuổi Trẻ, NXB Trẻ, 1993, dài đến 153 câu, 820 từ. Bài thơ này, đã đăng trên KẾT HỢP - Hội LHTNSVHS, Phong trào tự trị Đại học và trong Lời chim bão tố, 1967. Chủ đề bài thơ, lấy âm nhạc làm nền, trải ra một không gian rộng lớn, một thời gian dài thế kỷ, thế kỷ nhân loại đấu tranh cho khỏi những kiếp đời nô lệ, gọi mặt trời lên, thắp sáng niềm tin cho các dân tộc, vì hòa bình, cơm áo, tự do.  

Bài thơ có không gian rộng lớn, trên bốn đại dương, đây Bắc băng dương, đây Sahara, đây Nam Bắc Phi, đây Ấn Độ dương, đây đất Hy La, đây Châu Á, Trung Hoa, đây miền Á Phi, đây Châu Âu, Paris, ...

Mỗi đại lục, một tiếng đàn độc đáo. Mỗi đại dương, một giọng sáo du dương. 

Mở đầu bài thơ: Chỉ một lần / Trong giờ thiêng duy nhất / Mozart đã viết lên giòng thời gian / Những âm thanh đẹp nhất loài người ... Âm nhạc đã tấu lên rồi. Cứ thế, người nhạc trưởng tài hoa / Đã không ngừng vẽ lên không trung / Từng vòng đũa thép / Dẫn anh em ta đi quanh / Mọi vùng cuộc sống phì nhiêu, kể cả: Cát bỏng trùng trùng / cánh đồng nô lệ / người nhốt đầy bóng tối / từ đó:      

Việt Nam đứng lên rồi

Á Châu đứng lên rồi

Âu, Úc, Mỹ, Phi hãy góp triệu bàn chân

Việt Nam sắp vinh quang rồi

đó đây cũng náo nức vinh  quang

bài ca mới vỗ tay to mà hát

mặt trời lên trên những lời ca

mặt trời lên sáng chói màu da

làm sao chết dưới ánh ngày đẹp thế

Âu, Á, Mỹ, Phi dựng chung thế hệ

dựng lại tình người

xây lại ấm no

chúng tôi lắng im trăm năm rồi

nên cất được tiếng hát to

bốn bề năm châu hãy lên lời hòa điệu

Năm 1945, Việt Nam đốt lên ngọn đuốc soi đường, thì Maroc, Algérie, Tunisie, hãy còn đang say ngủ / mộng mị chiêm bao chếch choáng nhọc nhằn /  loài ác quỷ xông mê hồn dày đặc / chúng tôi kêu lên / kêu lên thất thanh / bóng tối cứ làm ngơ. Rồi 1965, hai mươi năm sau, mặt trời đã lên cao:

ôi biết bao nhiêu là bàn tay sạm nắng

biết bao nhiêu là hùng vĩ dưới trời xanh

bốn bề năm châu đã bão tố tung hoành

có muốn ngủ cũng không còn ngủ được

Cánh chim bão tố bay ra, sấm chớp tứ bề và trời đất bao la: cho ý nhạc tuyệt vời / cho lời ca tưng bừng âm sắc / cho trời xanh long lanh xanh trong mắt / cho bóng tối rùng mình / cho lang sói hãi kinh / cho uất hận bất bình biến thành sức mạnh / cho tình người ấm lạnh dắt dìu nhau

Bài thơ kết thúc bằng niềm tin:

sang mùa rồi

lúa đồng reo phơi phới

trời vào xuân

loài người mang áo mới

hạnh phúc về rồi, đó - ngày mai

hỡi các em tôi

bầy chim nhỏ tương lai

chân thoăn thoắt trên đường xanh cỏ mướt

em hãy biết rằng

mặt đất dưới chân em

mặt đất từng cho hoa thơm cỏ biếc

giòng suối xanh

vẫn âm thầm chảy miết

vào sông xanh

hòa biển xanh

làm xanh vút tận trời xanh.

Âm nhạc và màu sắc (đường xanh, giòng suối xanh, sông xanh, biển xanh, xanh vút tận trời xanh) hòa điệu làm nên cung bậc tình yêu, niềm tin cho bài thơ.

Thơ Chinh Văn nói chung, Hợp tấu khúc mùa xanh nói riêng, đã góp phần vào thành tựu đáng trân trọng của văn nghệ học sinh sinh viên các đô thị miền Nam trước 1975.

*

Thơ Chinh Văn, điều dễ thấy, đó là tiếng gọi đàn của loài chim trong cơn bão tố, là tiếng hát của lòng nhân ái, đấu tranh cho hạnh phúc con người, chống mọi sự áp bức, bóc lột, thể hiện khát vọng, tình yêu về hòa bình, thống nhất đất nước, một tiếng vọng thẳm sâu, đượm tinh thần nhân đạo.

Những dòng thơ Chinh Văn phản ánh chân dung, nhân cách của người nghệ sĩ Chinh Văn.

Tháng 9-2022.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm