TIN TỨC

Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-09-24 23:47:23
mail facebook google pos stwis
275 lượt xem

THY SINH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.

 

Nhà thơ Hữu Thỉnh

 

Thơ viết ở biển

 

Anh xa em

Trăng cũng lẻ

Mặt trời cũng lẻ

Biển vẫn cậy mình dài rộng thế

Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn

Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn

Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím

Sóng chẳng đi đến đâu nếu không đưa em đến

Dù sóng đã làm anh

Nghiêng ngả

Vì em...

(Hữu Thỉnh)

 

Góc nhìn về tình yêu

Tình yêu đôi lứa là đề tài tốn nhiều giấy mực nhất của văn chương. Dù trải qua bao thời đại, bản chất của nó dường như chưa bao giờ thay đổi, đó là hành trình của những cái tôi tự nguyện hòa quyện và tan biến lẫn nhau. Nếu Plato coi tình yêu là cuộc tìm kiếm nửa còn thiếu để đạt đến sự vẹn toàn, thì Aristotle lại định nghĩa đó là một linh hồn cư ngụ trong hai thể xác. Dù được diễn giải dưới góc độ nào, thì tâm thế của kẻ đang yêu vẫn luôn là trăn trở của thơ ca.

Nghệ thuật, từ cổ điển đến hiện đại đã kiến tạo những biểu tượng cho tình yêu như trái tim, hoa hồng, hay thần Cupid - tất cả đều là hiện thân của sự lãng mạn và vĩnh cửu. Nhưng bên cạnh những biểu tượng rực rỡ có tính quy chuẩn ấy, vẫn còn một biểu tượng thầm lặng hơn, ít được gọi tên hơn, đó là nỗi cô đơn. Lâu nay, nỗi cô đơn trong tình yêu thường bị đánh đồng một cách giản đơn với nỗi nhớ. Từ góc nhìn về tình yêu cả trong nghệ thuật lẫn trải nghiệm cá nhân, chúng tôi chọn Thơ viết ở biển của Hữu Thỉnh để đi sâu vào biểu tượng này. Bởi nỗi cô đơn không chỉ là dư âm của nỗi nhớ, mà đã kiêu hãnh trở thành bản thể của tình yêu.

 

Cơ chế nghệ thuật

Thơ viết ở biển lan tỏa một cách tự nhiên, ngay cả với những người không thường xuyên đọc thơ. Có lẽ do tác giả đã kiến tạo một nghịch lý ngay khi mở đầu:

Anh xa em

Trăng cũng lẻ

Mặt trời cũng lẻ

Không gian mở ra toàn bộ vũ trụ, nhưng chỉ có ba chủ thể đơn nhất đồng hiện là “Anh”, “Trăng” và “Mặt Trời”. Theo lẽ thường, Mặt Trăng và Mặt Trời là những thực thể vĩ đại của vũ trụ, phải sánh với Trái Đất mới đồng đẳng. Nhưng ở đây, tác giả lược bỏ Trái Đất, đặt trực diện nhân vật “Anh”, một con người nhỏ bé sánh ngang với “Trăng” và “Mặt Trời”. Thủ pháp này cho thấy trên mặt đất lúc ấy chỉ có một mình anh, cô độc một cách tuyệt đối và đáng thương.

Mặt Trăng và Mặt Trời hay cả Trái Đất vốn đơn nhất từ thuở khai thiên lập địa, chúng luôn luôn “lẻ”. Cái tài của Hữu Thỉnh là đặt hai thực thể vĩnh hằng vốn dĩ đơn nhất ấy vào đúng khoảnh khắc cô đơn của con người. Nỗi cô đơn của một cá thể đang yêu lập tức đồng dạng với nỗi cô đơn căn bản của vũ trụ. Nếu tác giả viết khác đi: “anh bên em / trăng cũng lẻ / mặt trời cũng lẻ” thì cấu trúc này bị triệt tiêu, vì không tạo ra hiệu quả nghệ thuật. Ba câu thơ trên đều đứng độc lập, tạo khoảng trắng giữa hai dòng chính là khoảng trống của sự xa cách. Người đọc vì thế không chỉ hiểu sự cô đơn, mà còn nhìn thấy và nghe thấy nó đứt gãy ra sao. Nếu dừng ở đây, tác phẩm đã là bài thơ ba câu tuyệt trác. Nhưng tác giả tiếp tục đẩy nó đi xa hơn.

Vì “Anh”, “Trăng”, “Mặt Trời” đã lẻ, nên đến câu thứ tư, “Biển” phải “cậy mình dài rộng” để khỏa lấp. Chữ “cậy” rất đắt, nó thể hiện phản ứng phòng vệ của cái tôi vừa có chút bướng bỉnh, vừa có chút tội nghiệp. Biển cậy mình dài rộng để trốn tránh cái lẻ loi của vũ trụ, nhưng càng cậy dài rộng lại càng lộ ra cái cô đơn khi “vắng cánh buồm”. Nỗ lực khỏa lấp của biển, cũng như nỗ lực gồng mình mạnh mẽ của anh cuối cùng đều bất thành.

Khổ thơ tiếp theo chuyển hóa nỗi cô đơn ấy vào sâu trong tâm cảm, khi “Anh” nhận ra mình đã mòn như vách núi. Bởi những làn “roi” vô hình quất vào tâm tưởng anh rất nhẹ nhưng sức bào mòn lại khôn cùng. Đây là một nghịch lý nghệ thuật thú vị: gió vốn vô hình nhưng lại mang quyền năng của roi. Tương tự, “em” không mang năng lượng của hoàng hôn (chiều), nhưng lại có thể “nhuộm anh đến tím”. Màu tím ở đây, vừa gợi tả trạng thái tổn thương, tím tái như vết bầm của làn roi, vừa mang nghĩa sâu kính của sự thủy chung. Để rồi ngay cả “sóng”, thực thể luôn chuyển động có hướng - cũng bị mất phương hướng và trở nên vô nghĩa “nếu không đưa em đến”. Anh đã chấp nhận tất cả, dù bị sóng làm chao đảo khổ sở đến đâu cũng được, miễn là sóng đưa được em đến. Bài thơ chao thêm một lần nữa như những lớp sóng quật thẳng vào anh:

Vì sóng đã làm anh

Nghiêng ngả

Vì em...

Về mặt thị giác, các câu thơ đứng đơn độc tạo hình cho sự nghiêng ngả. Cuối cùng là cụm từ “Vì em...” với ba dấu chấm lửng. Chính vì cái lửng này mà bài thơ dù ngắn nhưng không kết thúc trong tâm trí người đọc.

Điều đặc biệt trong Thơ viết ở biển là khi khắc họa nỗi cô đơn của “Anh”, để qua đó sinh nghĩa cho chủ thể “em”. Em không hiện ra như là trăng, như là mặt trời, mà hiện ra trong hệ tọa độ cảm xúc của anh. Ở đó, em được đồng nhất với các thế lực tự nhiên, trở thành nguồn năng lượng có khả năng chuyển hóa ngoại cảnh. Em là cội nguồn của cái đẹp và là sự cứu rỗi cho cả vũ trụ.

 

Cực hạn thẩm mỹ

Nhiều người đặt Thơ viết ở biển cạnh Chùm nhỏ thơ yêu (1962) của Chế Lan Viên, nhưng chúng tôi cho rằng đây là hai hệ thi pháp hoàn toàn khác biệt. Nếu Chùm nhỏ thơ yêu khắc họa nỗi nhớ, mang tâm thức hướng ngoại và kỳ vĩ, thì Thơ viết ở biển lại đào sâu vào nỗi cô đơn, với tâm thức hướng nội trầm lắng mà xáo động. Sự phân biệt ranh giới giữa nỗi nhớ và nỗi cô đơn hết sức cần thiết để thấu hiểu và cảm thụ trọn vẹn giá trị riêng của mỗi tác phẩm. Nếu thi pháp của Chế Lan Viên thiên về sự dụng công của lý trí, thì Thơ viết ở biển lại đại diện cho một cơ chế kiến tạo khác.

Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.

Bằng cơ chế đồng hiện khi đặt nỗi cô đơn của con người tương đồng với nỗi cô đơn của vũ trụ, kết hợp với cách phủ định tính chức năng của các hiện tượng tự nhiên (gió, chiều, sóng) nhằm làm nổi bật quyền năng tuyệt đối của chủ thể trữ tình “em” đã giúp tác phẩm trở nên gần gũi, dễ tiếp nhận nhưng lại rất khó mô phỏng.

Ngôn ngữ thơ hiện đại, bứt phá khỏi những sáo mòn mang tính ước lệ của thi pháp truyền thống. Có thể nói, tác giả đã vũ trụ hóa nỗi cô đơn, tạo tác một biểu tượng “tiêu biểu” về nỗi cô đơn trong tình yêu qua nhiều thời đại. Chính vì thế, Thơ viết ở biển mang giá trị thẩm mỹ cao, xứng đáng được xem là một tác phẩm văn chương nổi bật của Việt Nam.

Nhà thơ Hữu Thỉnh, tên thật là Nguyễn Hữu Thỉnh, sinh ngày 15 tháng 2 năm 1942, quê ông ở Tam Dương, Vĩnh Phúc. Ông nhận được nhiều giải thưởng văn chương, trong đó có những giải thưởng quan trọng như Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2012. Bài thơ Thơ viết ở biển in trong tập Thư mùa đông (1994), đoạt Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1995.

TP.HCM, tháng 9 năm 2026

T.S

Bài viết liên quan

Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm