TIN TỨC

Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-08-06 00:32:04
mail facebook google pos stwis
1281 lượt xem

NGUYỄN QUẾ

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.

 

Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan

 

Thơ Kim Loan chứa đựng những nỗi niềm, rung cảm sâu sắc. Nữ nhà thơ say đắm tình yêu, nhận về mình nhiều niềm vui và không ít nỗi buồn. Thơ chị cũng là tiếng vọng từ trái tim mẫn cảm với những rung động sâu lắng về đấng sinh thành, quê hương và cuộc sống.

Cũng như nhiều nhà thơ nữ khác, Kim Loan dành không ít cảm xúc của thời trẻ cho tình yêu. Với chị, tình yêu trong đợi chờ thật đẹp đẽ và lãng mạn. Những ngày tháng  xa cách, hình bóng người thương hình như luôn hiện hữu trong lòng nữ nhà thơ. Trước cảnh vật và thanh âm quen thuộc gắn với những kỷ niệm đẹp đẽ, thân thương, lòng chị trào dâng nỗi nhớ da diết, bồi hồi:

“Phía bên kia ô cửa

Chùm hoa ướt đầm đung đưa theo giai điệu thân quen

Khúc mưa nhớ một người đi vắng

Lời yêu xưa xa xanh…”

(Phía bên kia ô cửa)

Nữ nhà thơ sử dụng các biện pháp nhân cách hoá và ẩn dụ một cách khéo léo. Hình ảnh “Chùm hoa ướt đầm” trong mưa tạo cảm giác hơi buồn, lạnh lẽo và cô đơn nhưng cũng rất lãng mạn, bởi nó đang “đung đưa” theo giai điệu của tình yêu. Cảnh huống ấy khắc hoạ một cách thanh thoát mà sâu sắc tâm trạng thiếu nữ nhớ người đi xa. Các cụm từ “đầm đung đưa”, “xưa xa xanh” tạo nên sự kết hợp hài hoà giữa chất thơ với âm nhạc, điện ảnh và hội hoạ, đồng thời làm cho ký ức hiện về vừa gần gũi, vừa mơ hồ.

Hình như trong tình yêu, Kim Loan thường khắc khoái với những hoài niệm. Nhớ về những ngày tháng tươi đẹp đã xa, nữ nhà thơ không khỏi bâng khuâng trước miền ký ức ngọt ngào:

“Hoa mùa cũ, nồng nàn vương kỷ niệm

Níu chiêm bao về trên dấu môi cười

Vầng trăng chín thơm ngọc ngà trinh nữ

Tigon hồng tình e ấp vẹn nguyên”

(Mùa Tigon cũ)

Qua những câu thơ trên đây, tác giả đã khắc hoạ một không gian vừa thực, vừa mộng.  Trong thế giới ấy, thiên nhiên ngập tràn hương sắc, mọi cảnh vật đều thấm đẫm sắc thái của tình yêu và ký ức. Ở đó, hình ảnh “trinh nữ” - nhân vật trung tâm của câu chuyện tình yêu - cũng hiện lên với vẻ đẹp trong sáng, thanh cao. Tác giả đã sử dụng một loạt thủ pháp nghệ thuật khá điêu luyện như xây dựng hệ thống biểu tượng (hoa mùa cũ, trăng, trinh nữ, mùa tigon), kết hợp nhiều giác quan (thị giác, khứu giác) và chuyển đổi cảm giác một cách uyên chuyển, tinh tế. Ngôn ngữ, hình ảnh trong khổ thơ được chọn lọc kỹ. Những từ láy và động từ gợi cảm như “nồng nàn”, “ngọc ngà”, “e ấp”, “vương”, “níu” có tác dụng làm cho giọng thơ giàu nhạc điệu, mềm mại và uyển chuyển. Cái “dấu môi cười” vừa gần gũi, thân thương, vừa mơ hồ, tạo cảm giác xao xuyến, bâng khuâng. Câu thơ “Vầng trăng chín thơm ngọc ngà trinh nữ” khá xuất thần. “Vầng trăng chín thơm” là một biểu tượng mới mẻ và thơ mộng. Vầng trăng ấy gắn với hình ảnh “ngọc ngà trinh nữ” tạo nên một vẻ đẹp viên mãn, tinh khôi, Đọc những câu thơ trên, ta không chỉ rung cảm trước cảnh trí thiên nhiên mà còn cảm nhận được vẻ đẹp trong sáng, tinh khôi của tuổi trẻ và tình yêu cùng sự trở về của ký ức yêu thương. Thiên nhiên và con người ở đây như hoà quyện với nhau, gợi lên một nỗi nhớ tràn đầy, dịu dàng, sâu lắng.

Kim Loan cũng tạo đước dấu ấn khi viết về tình mẹ. Chị thể hiện tình cảm dạt dào mỗi khi viết về nỗi nhớ mẹ. Hình ảnh mẹ hiện lên trong thơ chị thật gần gũi, thân thương:.

“Con ngồi nhớ mẹ, lưng tròng

Ngày xưa, bậu cửa, mẹ mong con về

Thương người tất tả nón mê

Đồng xa gánh lúa đường đê nắng vàng?

Nghĩ về mẹ, lòng tác giả ngân lên câu thơ đầy tự hào:

“Cuộc đời dẫu mấy gian truân

Vầng trăng mẹ rọi trong ngần đời con”

(Vầng trăng mẹ)

Trong thơ ca Việt Nam, mẹ là một đề tài rất quen thuộc. Tuy nhiên, Kim Loan không quá sa đà vào những lối cũ sáo mòn mà có cách tiếp cận riêng và tạo được dấu ấn. Chị cảm nhận thật rõ hình bóng thân thương, tình cảm bao la và những phẩm chất cao quý của mẹ từ những kỷ vật người để lại, dẫu thời gian cứ vô tình lôi cuốn ngày tháng trôi đi:

“Mười mấy năm

Chiếc khăn rằn của nẹ vẫn theo cha như bóng hình

 

Chiếc khăn gói nghĩa tình của mẹ

Làm dịu cơn sốt đầu hè, ủ ấm những heo may

Con vẫn thường mơ mẹ gieo hạt trên luống cha cày

Khăn rằn thấm bao giọt mồ hôi, mằn mặn chén cơm cá kho với muối

Cha gối đầu lên mùi hương của mẹ

Giấc ngủ trưa giữa đồng có gió mát từ vành khăn”

(Chiếc khăn rằn của mẹ)

Chỉ qua một kỷ vật nhỏ, tác giả nói được rất nhiều điều: nỗi nhớ mẹ, tình cảm gia đình, nghĩa tình sâu nặng của cha mẹ và những giá trị tinh thần to lớn mẹ để lại cho những người thân. Khắc hoạ nỗi đau lớn nhất của đời mình - nỗi đau mất mẹ - Kim Loan viết nên những vần thơ bình dị nhưng có ý nghĩa sâu sắc:

“Mẹ đi về phía non ngàn

Cỏ xanh xanh chỗ mẹ nằm đơn côi”

Với chị, mẹ ra đi không phải là mất tất cả, đó còn là hành trình gieo mầm cho sự sống mới. Hình ảnh “mẹ nằm đơn côi” ở “phía non ngàn” thể hiện nỗi mất mát đau thương to lớn, đồng thời “Cỏ xanh xanh chỗ mẹ nằm” hiện lên như một sự hoá thân để từ đó, hình ảnh mẹ vẫn còn mãi trong lòng chị và giữa đất trời. Từ đau thương, chị trở về, đón nhận và tự hào trước điều quý giá nhất mẹ để lại:

“Con về mưa nắng giữa đời

Gia tài gói gọn những lời mẹ ru”

(Phía  mẹ)

Người Việt Nam vốn duy tình. Trong lời ru của mẹ có tình cảm gia đình, bè bạn,  quê hương, có lời răn về đạo lý làm người, có hồn thiêng sông núi của cha ông… Đó là những giá trị bất biến, cao quý hơn mọi của cái vật chất trên thế gian này. Với câu thơ trên, Kim Loan đã thể hiện sự thấu cảm triết lý nhân sinh của cha ông và chạm đến được miền sâu thẳm trong lòng người đọc.

Tình yêu quê hương, cuộc sống trong thơ Kim Loan được khắc hoạ rõ nét và mang một phong cách riêng. Đưa con đến giảng đường đại học trong một chiều mưa ở thành phố, lòng chị trào dâng niềm xúc động, vui sướng, tự hào về dải đất vốn rất sôi động nhưng cũng thật hiền hoà, nghĩa tình và bao dung:

 “Cay cay mí mắt

Ai bảo Sài Gòn đất chật?

Khi đường tương lai rộng mở vô cùng

Cho mẹ cho cha và giờ cả cho con

Chắp cánh ước mơ nối dài bao thế hệ”

(Sài Gòn & mưa giảng đường)

Về với làng gốm nổi tiếng trên chính quê hương mình, giữa niềm vui trước những thành quả nơi đây đã đạt được, chị như nghe từ lòng đất tiếng nói của tiền nhân vọng về. Trong lòng nhà thơ, hào khí xưa của cha ông và niềm vui của cuộc sống hôm hôm nay như hoà quyện với nhau:

“Về thăm làng gốm yêu thương

Mà nghe tiếng đất quê hương thì thầm

Ẩn trong trầm tích ngàn năm

Một hôm đất nở thành trăm nụ cười”

(Tình gốm Phương Nam)

Nhưng có lẽ điều đáng quý nhất trong thơ Kim Loan về đề tài quê hương, đất nước là tình cảm chị dành cho vùng quê nghèo, xa xôi, hẻo lánh. Tự đáy lòng mình, Kim Loan viết nên những câu thơ buồn man mác:

“Thời gian đã lạc con đò

Bến quê còm cõi câu hò mênh mang”

Đó là nỗi xót xa của tác giả trước dòng chảy của thời gian. Con đò, hình ảnh thân thuộc của quê hương đã “lạc” về đâu, không còn nữa! Bến quê cũng trở nên “còm cõi”. May sao, câu hò năm xưa còn vang vọng mãi trong ký ức, và đi qua nỗi buồn,  niềm vui cuộc sống đã hiện về. Đó là chứng tích “Rễ si bám chặt cổng làng” từ quá khứ xa xưa vẫn còn đấy, cùng với biểu tượng tươi đẹp của cuộc sống hôm nay đã và đang hiện diện ở làng quê, báo hiệu mùa màng sẽ bội thu, quê hương đang căng đầy nhựa sống:

“Cau non đã trổ đầy quài

Hương thơm thơm đến tận ngoài ngõ tre”

(Nợ quê)

Cây cau và “ngõ tre” vốn rất quen thuộc, mang tính đặc trưng, đã khắc hoạ rõ nét hình ảnh của làng quê. Từ láy “thơm thơm” vừa diễn tả được sự dịu dàng, tinh khiết và sức lan toả của hương hoa cau, vừa làm cho câu thơ có nhạc điệu, mượt mà, duyên dáng. Đó là những điều chúng ta cảm nhận rất rõ về sự nhạy cảm, tinh tế của tác giả chỉ qua hai câu lục bát.

Với sự quan sát tinh tế, Kim Loan đã nhận thức sâu sắc quy luật vần xoay của sự vật và sức mạnh diệu kỳ của sự sống, từ đó, chị liên hệ với thân phận con người:

“Sen của tôi

Tưởng đã chết vào mùa đông năm ngoái…

Rồi mùa xuân muôn hoa nở rợp trời

Không ai nhớ củ sen già ở đó

Nó đã bị lãng quên dưới lớp bùn

Như bao nhiêu người đã bị lãng quên

dưới lớp trầm tích thời gian

Những ngày dài và bao đêm sâu

Nơi tăm tối sen tự mình khâu vá

Vết thương liền da

Mầm mọc ra từ bùn đất…”

(Hồi sinh)

Đó là bài thơ mới của nhà thơ Kim Loan vừa được công bố trên Tạp chí Sông Hương. Đọc tác phẩm của chị, ta chợt nhớ hai câu thơ nổi tíếng của Mãn Giác Thiền sư:

“Xuân đi trăm hoa rụng,

Xuân đến trăm hoa cười”…

Thơ trữ tình của Kim Loan thường là sự trở về của ký ức. Ngay cả khi nói về chuyện của ngày hôm nay, nhiều lúc chị cũng đặt nó trong mối liên hệ với quá khứ. Vì vậy, câu thơ thường gợi về một khoảng không gian, thời gian mơ hồ, xa vắng cùng nỗi suy tư. Tâm thế ấy đưa chị đến gần thế giới thơ thiền. Gần vì chúng đều có yếu tố chiêm nghiệm về thời  gian, ký ức. Gần vì chủ thể dường như có nhu cầu dừng lại, tĩnh tâm và nhìn sâu hơn vào bản chất của sự sống. Có lẽ từ góc độ ấy, Kim Loan đến với thơ thiền một cách tự nhiên và chị rất có duyên với mảng thơ này. Hãy nghe Kim Loan dẫn người đọc đi từ cảnh thiền đến tâm thiền:

“Tàn trăng ướt đẫm phật đài

Thiền hoa soi bóng canh dài vô biên

Chén trà ôn chuyện tiền duyên

Trăm năm tựa cánh hoa huyền hoặc rơi”

(Thiền hoa)

Qua chén trà và câu chuyện tiền duyên, tác giả gợi nhắc rằng, mọi cuộc gặp gỡ đều là nhân duyên, còn đời người trăm năm cũng như một cánh hoa trôi giữa dòng vô thường. Tuy nhiên, khi thấu hiểu điều đó, con người có thể buông bỏ chấp niệm và sống thanh thản trong hiện tại.

Để biểu đạt nội dung cần nói, tác giả đã sử dụng các biện pháp tu từ và nhiều hình ảnh giàu tính biểu tượng như trăng, phật đài, thiền hoa, chén trà, cánh hoa. Nhịp thơ chậm, lắng đọng, phù hợp với thiền. Cảnh vật và triết lý nhân sinh như hoà quyện với nhau. Ngôn ngữ giàu tính tạo hình, có sức gợi cảm, gần gũi với đời thường và gợi mở.

Ở một bối cảnh khác, tác giả đã lấy chén trà làm biểu tượng để chiêm nghiệm về thời gian và kiếp người:

“Nhấp trên môi một ngụm muà

Tiếng thời gian khẽ như vừa đi qua

Ngọt ngào đắng chát, can qua

Rót từng giọt nhỏ phù hoa xuống đời

 

Tách trà rót giữa chơi vơi

Hương còn đọng lại trên môi tháng ngày

(Tịch trà)

Trước sự vô tình của thời gian và cái “chơi vơi” của kiếp người, chén trà ở đây trở thành nơi neo giữ tâm thức, giúp con người tìm thấy sự bình yên. Đoạn thơ chứa đựng một triết lý nhẹ nhàng, sâu sắc: cuộc đời cũng như một ly trà, có vị ngọt của hạnh phúc, vị đắng của khổ đau, những can qua và cả phù hoa của kiếp người, nhưng tất cả sẽ trôi đi theo ngày tháng, điều còn lại chính là dư hương của những trải nghiệm và sự thức tỉnh.

Qua đoạn thơ trên, tác giả đã dùng nhiều ẩn dụ, giác quan tinh tế và những hình ảnh đời thường để gợi nên sự chiêm nghiệm về cái vô thường, về nhân sinh và sự an nhiên. Ngôn ngữ cũng rất sinh động và được sử dụng đắc địa như “ngụm mùa”, “nhấp”, “khẽ”, “rót từng giọt nhỏ”… Giọng thơ trầm lắng, giàu chất thiền và đậm chất đời.

Nhìn chung, thơ Kim Loan khá đa dạng, phong phú về cả nội dung và hình thức. Đọc thơ chị, ta cảm nhận được những rung động sâu sắc của một tâm hồn tinh tế và nhạy cảm, được thể hiện bằng các thủ pháp nghệ thuật khá điêu luyện, kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố truyền thống và đổi mới, sáng tạo. Điều đáng quý ở thơ Kim Loan là thơ chị giàu chất thơ, mang đậm nữ tính cùng cốt cách Việt Nam, Nam bộ, và chị đã hình thành được một phong cách sáng tác riêng, ổn định.

N.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Sức sáng tạo của văn chương
Đời thừa là một trong những tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu của Nam Cao về để tài người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám. Đó là câu chuyện về sự giằng xé đến bị kịch của một nhà văn giàu khát vọng nhưng đồng thời cũng là một tuyên ngôn nghệ thuật có giá trị. Qua nhân vật Hộ - nhân vật nhà văn trong tác phẩm – Nam Cao đã gởi gắm những suy tư và những quan niệm sâu sắc của mình về nghề văn và sứ mạng của người cầm bút chân chính. Ông viết “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có”.
Xem thêm
Văn hóa Việt trong tâm thức những người con xa xứ qua tuyển thơ “Về cùng nước Việt của ta”
Ngày 7/11/2026, tại Đại sứ quán Việt Nam ở Liên bang Nga, tuyển thơ “Về cùng nước Việt của ta” của 10 tác giả thuộc Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga sẽ chính thức ra mắt.
Xem thêm
​Nhân vật văn học của Đặng Hoàng Thám, những thông điệp sâu sắc
Với hai mươi ba truyện ngắn, cùng đa dạng nhân vật ở mọi ngành nghề, tầng lớp, “Lửa và trái tim” đã thuyết phục người đọc về tính khách quan cho sự phản ánh đời sống-xã hội và cả tâm tư con người bằng sự khéo léo và linh hoạt của điểm nhìn ở ngôi kể thứ ba. Từ “Trăng phía sau đình”, “Về từ cõi khác”, “Mua văn bán chữ”, “Trên đồi cỏ tranh” hay “Mưa trái mùa”... mỗi câu chuyện là một lát cắt sinh động của đời sống, nơi mỗi người đều có số phận và lý tưởng của riêng mình. Và điều đáng nói, họ đều hướng về cộng đồng, hướng về sự phát triển bản thân trên nền tảng của đạo đức và sự cống hiến, điểm mà tôi trân trọng ở ngòi bút này.
Xem thêm
Tìm về lời rạ rơm – Bến trú ngụ của những bão giông đời người
Bài thơ khép lại trong một dư âm ngân vang, ngọt ngào và kết tinh thành một triết lý sống sâu sắc: “Bồng bềnh cánh võng thơ ngây / Ngân nga lời mẹ tháng ngày con vin”. Hình ảnh “cánh võng bồng bềnh” và tiếng “ngân nga” của lời ru đưa con người trở về trọn vẹn với những năm tháng tuổi thơ êm đềm. Đặc biệt, từ “vin” được xem là một nhãn tự, một nốt nhấn xuất sắc của toàn bài. Con không chỉ vin vào tay mẹ, vin vào vành võng để tập đi trong quá khứ, mà ở hiện tại và tương lai, con đang “vin” vào lời mẹ, vin vào những giá trị đạo đức, vào cái nôi văn hóa quê hương để đứng vững trước những cạm bẫy, sóng gió của cuộc đời.Thể thơ lục bát ở hai câu cuối này đạt đến độ chín muồi của cảm xúc, uyển chuyển như một dòng sữa mát lành tưới mát tâm hồn người đọc.
Xem thêm
Thơ Lê Quang Vui – Sự giăng mắc giữa đời và đạo
hời thế giới phẳng, giữa thời đại tiêu dùng, con người đang chạy theo việc đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sở hữu những giá trị vật chất, thơ đang bị xem như thứ xa xỉ chỉ dành cho những người có tâm hồn mộng mơ và thi vị. Đối với công việc làm thơ, một số người làm thơ chỉ để tìm kiếm chút danh lợi hoặc để mua vui cho chính bản thân mình. Thế nhưng, trên thi đàn thơ Việt Nam đương đại vẫn còn những nhà thơ xem công việc sáng tạo thơ như một thiên chức mang vẻ đẹp thuần khiết và thiêng liêng. Ở đây, tôi muốn nói đến nhà thơ Lê Quang Vui, hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp, một người đeo đuổi công việc sáng tác thơ đã hơn 40 năm. Nhà thơ Lê Quang Vui được một số văn nghệ sĩ đánh giá rằng ông đang giữ kỷ lục về số lượng tác phẩm với hơn 15.000 bài thơ đã sáng tác và 15 tập thơ đã xuất bản.
Xem thêm
Nhà thơ Vương Trọng – Cá tính thơ trong con người xứ Nghệ
Đối với cánh văn chương 7x chúng tôi ở Văn nghệ Quân đội, nhà thơ Vương Trọng không chỉ rất gần gũi mà ông còn là tấm gương về sáng tác, công tác và các ứng xử trong cuộc sống đời thường. Ông là điển hình cho phẩm chất của người xứ Nghệ: mạnh mẽ, kiên cường, có chính kiến rõ ràng và rất quyết liệt trong bảo vệ chính kiến đó, nhất quán từ lời nói đến hành động, rất biết nặng nhẹ trong đời sống và càng biết thật giả trong văn chương. Được tiếp nối các ông trong khu vực công tác và sáng tác ở Văn nghệ Quân đội là may mắn với chúng tôi. Chúng tôi luôn kính trọng thế hệ nhà văn chống Mỹ trong đó có Vương Trọng và lấy làm tấm gương để soi chiếu chính mình. Càng đọc các bài thơ đã thuộc làu từ tấm bé, nhiều khi còn quên mất tên tác giả Vương Trọng chúng tôi càng hiểu rằng, giá trị trước hết và lâu bền của thơ ca chính là thơ ca luôn trực tiếp phục vụ đời sống con người, ở những khúc quanh bước ngoặt, ở những thân phận thua thiệt đã hằn lên từ nghìn năm lịch sử đến hôm nay. Những câu chuyện như thế khi vào thơ Vương Trọng đã được đẩy lên ở một tầng mức thẳm sâu, đớn đau tột cùng mà cũng tận cùng vẻ đẹp của sự hi sinh của con người Việt Nam đã đi vào thơ ca sử sách.
Xem thêm
Bích Thu - Người đồng hành cùng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Bích Thu là một trong rất ít những nhà phê bình văn học nữ hiện còn miệt mài với những trang viết về văn chương Việt cho đến ngày nay. Thơ và văn xuôi là hai thể loại mà chị theo dõi và luôn đồng hành cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XXI để nhận diện thi pháp tác phẩm và tác giả tiêu biểu, sau đó là tổng kết, chỉ ra diện mạo, đặc điểm chung cho cả phong trào qua các giai đoạn, nhất là giai đoạn từ Đổi mới đến nay.
Xem thêm
Thơ Lê Văn Sự - Tiếng thơ của vùng ký ức
Lê Văn Sự, nguyên là giáo viên dạy toán, nhưng tâm hồn thơ dào dạt, làm nên những vẻ đẹp “phi logic” của ngôn ngữ thơ. Không “đại ngôn”, nhưng phải nói rằng, anh là một nhà thơ “toàn tòng”. Cho đến nay, Lê Văn Sự đã xuất bản 11 tập thơ, trong số 12 tác phẩm đã công bố của anh. Anh là tiếng thơ cất lên từ làng bước ra xa lộ, nâng niu, đắm đuối ký ức.
Xem thêm
Thơ Trương Trọng Nghĩa từ góc nhìn phê bình sinh thái
Hành trình sáng tạo tuy chưa dài và còn nhiều dự cảm, nhưng Trương Trọng Nghĩa đã tự khẳng định tâm thế và tâm cảm của mình để hình thành chất thơ và thi pháp cá nhân. Thơ anh nặng sâu tình người, tình quê hương, xứ sở. Và trong quá trình đô thị hóa của xã hội Việt Nam thời hiện đại, nó giúp nhà thơ và giúp người đọc tìm về nguồn cội để được sống lại trong không - thời gian sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn trong sáng, thanh bình cho mỗi phận người và mỗi kinh nghiệm quan hệ người
Xem thêm
Trương Nam Hương – Thi sĩ tuổi Mèo với những câu thơ đẹp như nỗi buồn
Thơ Trương Nam Hương tài hoa mà đằm thắm, đau đáu với mẹ cha, quê nhà và những ân tình không thể nguôi quên. Nhân sinh nhật lần thứ 63 của nhà thơ (23/10/1963 – 23/10/2026), Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của Lê Huy Hòa như một món quà thân tình gửi đến anh – người thi sĩ vẫn bền bỉ gìn giữ những miền xanh trong trẻo của tâm hồn.
Xem thêm
Ấm áp những nụ cười trong tập thơ “Có phải cô là nắng” của Phan Thanh Tâm
Có phải Cô là nắng là tác phẩm thứ 9 và Tuyển tập thơ thứ 2 viết cho thiếu nhi của Nhà văn Phan Thanh Tâm. Tập thơ có 50 bài thơ đề cập đến nhiều chủ đề với cái nhìn dễ thương của trẻ thơ.
Xem thêm
Thơ ca và những tấm lòng đồng điệu trong buổi ra mắt sách của Phan Thanh Tâm
Bởi suy cho cùng, những hạt nắng đẹp nhất trong thơ thiếu nhi chính là những hạt nắng được gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ.
Xem thêm
Tôi gọi Hoa của nước là hoa chữ trường ca
Tôi gọi Hoa của nước của nữ nhà văn Trầm Hương là “Hoa chữ trường ca”. Đây không phải sự tung hô tùy hứng, càng không phải lời khen dành cho tác phẩm của nhà văn đương đại tại TP.HCM. Hoa của nước đẹp nhưng không phải do tô điểm thành nên!
Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm