TIN TỨC

Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-06 11:31:25
mail facebook google pos stwis
15 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.

 

Chiến sỹ Sư đoàn 5 vượt cầu Bến Lức tiến về giải phóng thị xã Tân An ngày 30/4/1975. (Ảnh tư liệu)

 

Giữa cái nắng như rang trong những ngày tháng Tư của miền Tây Nam Bộ, hàng trăm cựu chiến binh và người dân từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Công viên Phường 5, thành phố Tân An để dự lễ khánh thành Bia ghi nhớ chiến công của Trung đoàn 174 - Sư đoàn 5 và quân dân Long An trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Công trình được khánh thành vào dịp kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng Tân An, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2025).

Chính tại nơi đây cách nay tròn nửa thế kỷ là tâm điểm của một trận đánh then chốt, mở màn cho hướng tiến công chiến lược từ phía Tây Nam vào thành phố Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Với tinh thần "thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng", các tiểu đoàn chủ lực của Trung đoàn 174 đã tiến công thần tốc, đánh chiếm Dinh tỉnh trưởng, Trụ sở cảnh sát, sân bay Tân An và toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch, mở toang cánh cửa tiến về nội đô Sài Gòn. Lá cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh tỉnh trưởng Tân An trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 không chỉ báo hiệu sự sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở Long An, mà còn là biểu tượng hừng hực khí thế của cánh quân phía Tây Nam trên đường thần tốc tiến về Dinh Độc Lập.

Dưới những tán bằng lăng tím ngắt và chùm hoa gạo cuối mùa cháy rực trong nắng, những người lính đã từng vượt qua mưa bom bão đạn để giành lấy ngày thống nhất, nay trở về mảnh đất Tân An với những mái đầu đã bạc, những bước chân chậm rãi nhưng ánh mắt vẫn rực sáng như thời trai trẻ. Những cái bắt tay thật chặt, những lời gọi nhau bằng biệt danh trận mạc, những giọt nước mắt lặng lẽ rơi… Tất cả tạo nên không khí của một ngày hội, hội của những ký ức, của nghĩa tình đồng đội, của một phần lịch sử đang hiện về giữa lòng thành phố bình yên.

Giữa những hàng dừa nghiêng bóng và dòng Vàm Cỏ Tây lặng lẽ trôi qua bao lớp phù sa, tấm bia chiến thắng sừng sững vươn cao, nổi bật với hai gam màu chủ đạo: đỏ thắm - màu của máu và lửa cách mạng, và xanh biếc - màu của hòa bình và hy vọng. Những ngôi sao vàng rực rỡ trên nền đá vẫn như đang cháy sáng, gợi nhắc về một thời đạn bom khốc liệt, khi nơi đây từng là một trong những mũi tiến công chiến lược mở đường tiến về sào huyệt cuối cùng của kẻ thù.

Trước khi bản khúc khải hoàn vang lên trên mảnh đất Tân An lịch sử, Trung đoàn 174 – Đoàn Cao Bắc Lạng anh hùng – đã trải qua một hành trình chiến đấu oanh liệt và đầy máu lửa. Được thành lập ngày 19 tháng 8 năm 1949 tại Hòa An, Cao Bằng, trung đoàn mang tên “Cao - Bắc - Lạng”, nơi những người lính đầu tiên rời bản làng, xóm núi, khoác ba lô theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.

Ngay sau khi thành lập, trong Chiến dịch Biên giới Thu - Đông năm 1950, Trung đoàn đã lập công xuất sắc trên Đường số 4, tại Đông Khê, rồi tiếp đó là Mộc Châu, Thượng Lào và đỉnh cao là trận đánh quyết tử trên đồi A1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 - nơi ghi danh Trung đoàn 174 vào sử vàng dân tộc. Những người lính cảm tử của Trung đoàn 174 anh hùng đã mở đường cho lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” tung bay trên nóc hầm Đờ Cát, góp phần kết thúc chín năm kháng chiến trường kỳ và gian khổ của dân tộc.

Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, năm 1967, Trung đoàn 174 hành quân vượt Trường Sơn vào Nam, trở thành lực lượng chủ lực trong đội hình Sư đoàn 5. Từ Đồng Xoài, Dầu Tiếng, đến Lộc Ninh, Bù Đốp, những người lính “Cao Bắc Lạng” đã chiến đấu kiên cường, góp phần làm nên những chiến thắng vang dội trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, đặc biệt là trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Để có những chiến thắng huy hoàng ấy, đã có hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn anh dũng hy sinh. Máu của họ đã thấm đỏ từng cánh rừng, dòng suối, từng mảnh đất quê hương miền Đông. Riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, số người ngã xuống trên các chiến trường Nam Bộ đã gấp đôi quân số khi Trung đoàn bắt đầu hành quân vào miền Nam - một con số khiến bất kỳ ai cũng lặng người. Mỗi một chiến sĩ hy sinh là một phần thân thể của Trung đoàn vĩnh viễn gửi vào đất mẹ.

Để có ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi các chiến sĩ Đại đội 7 và Đại đội 10 dưới sự chỉ huy trực tiếp của Trung đoàn phó Vũ Viết Cam, Chính trị viên tiểu đoàn Bùi Đức Trần, Tiểu đoàn trưởng Đinh Bá Đài cắm lá cờ Quyết chiến Quyết thắng của quân đội ta trên nóc dinh tỉnh trưởng Long An trưa 30/4/1975, Trung đoàn 174 và các đơn vị bạn cùng quân dân Long An đã trải qua một chặng đường dài từ Long Khốt, Gò Da, Sóc Nóc đến Ba Thu, Rạch Tranh, Cầu Voi… Trên chặng đường chiến đấu oanh liệt ấy đã có gần 700 cán bộ chiến sĩ của Trung đoàn ngã xuống. Những người con ưu tú ấy đang nằm ở nghĩa trang Vĩnh Hưng - nghĩa trang tỉnh Long An. Thân thể của họ đã tan vào đất nước của quê hương Long An trung dũng kiên cường, đúng như câu đối được khắc ghi trong đền thờ liệt sĩ Long Khốt (Vĩnh Hưng) và hàng chục đền thờ, nghĩa trang trong cả nước: “Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc/ Hồn bay lên hoá linh khí Quốc gia“.

 

Bia ghi nhớ chiến công của Trung đoàn 174 - Sư đoàn 5 trong Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975 tại thành phố Tân An, tỉnh Long An. Ảnh tác giả cung cấp.

 

Lần đầu tiên được đặt chân đến Tân An, đứng lặng bên dòng sông Vàm Cỏ huyền thoại, dòng sông lặng lẽ chảy qua bao lớp trầm tích văn hóa phương Nam, đã chứng kiến không ít trận đánh oanh liệt và những hy sinh thầm lặng trong suốt chiều dài lịch sử, tôi bất chợt nhớ đến ca khúc “Vàm Cỏ Đông” - bài thơ của Hoài Vũ viết giữa chiến trường, được Trương Quang Lục phổ nhạc, từng là khúc hát của bao thế hệ:

“Hò ơ… dòng sông chảy xiết lái thuyền chèo đi,

Trên sông Vàm Cỏ Đông nước chảy ngược dòng…

Ơi Vàm Cỏ Đông, ơi hỡi dòng sông,

Nước xanh biêng biếc chẳng đổi thay dòng…”

Lời ca như vọng lại từ những năm tháng chiến trường, hòa vào tiếng trống rộn ràng, tiếng gọi nhau ríu rít, những cái siết tay chan chứa nghĩa tình. Dẫu đã nhiều lần gặp nhau trong các buổi họp mặt truyền thống, nhưng trong khoảnh khắc đứng trước tấm bia vừa dựng lên trên chính mảnh đất đã từng đổ máu, cảm xúc bỗng ùa về trong những cựu chiến binh như ngày đầu hội ngộ. Lời ca như vọng lại từ quá khứ, hòa vào tiếng trống, tiếng hò reo, những cái siết tay chan chứa nghĩa tình, khiến nhiều người rưng rung nước mắt.

Tấm bia chiến thắng hôm nay được dựng lên giữa mảnh đất Tân An lịch sử không chỉ là một công trình tưởng niệm. Nó được kết tinh từ máu, nước mắt và những ký ức thiêng liêng của những người lính trận.   Mỗi đường nét, mỗi gam màu, mỗi ngôi sao rực rỡ trên nền đá đều như thắp sáng ngọn lửa của một thời trận mạc, ngọn lửa của lòng quả cảm, của tri ân và khát vọng không bao giờ tắt.

Dưới cái nắng gay gắt cuối tháng Tư, những lá cờ đỏ sao vàng bay phần phật trên nền trời Tân An xanh ngắt, như sống dậy một bản tráng ca bất tử. Giữa khói lửa chiến tranh, những người lính trẻ hôm ấy – đa phần chưa đầy hai mươi – đã vượt qua tuyến phòng thủ chằng chịt của địch, đánh chiếm các mục tiêu then chốt, chi viện cho quân dân Long An nổi dậy giành chính quyền. Không ít đồng đội của họ đã nằm lại, máu của họ hòa vào dòng sông Vàm Cỏ.

 

Các đại biểu và Cựu chiến binh Sư đoàn 5 trong ngày khánh thành Bia kỷ niệm. (Ảnh: Báo Quân khu 7)

 

Ngày hôm nay, sau đúng nửa thế kỷ, cũng chính những người lính ấy lại đứng lặng trước tấm bia chiến thắng. Anh Trần Thế Tuyển, khi đó là một chàng lính trẻ, nguyên Trưởng Ban liên lạc Hội CCB Trung đoàn 174; Chủ tịch Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ TP.HCM vẫn giữ nguyên ánh nhìn rắn rỏi nhưng đầy cảm xúc. Anh Trình Tự Kha, Trưởng ban liên lạc Cựu chiến binh Trung đoàn 174 phía Nam với chiếc “ba lô ký ức” nặng trĩu trên vai, đã không mỏi mệt gom góp tư liệu, kết nối đồng đội, hiện thực hóa giấc mơ tri ân.

Và có lẽ không ai xúc động hơn anh Nguyễn Minh Sơn – Cựu chiến binh Trung đoàn 174, quê Hải Hưng, người đã gắn bó với trung đoàn trong suốt cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế trên chiến trường Campuchia. Với mong muốn được làm một điều gì đó để tri ân đồng đội, anh đã tài trợ toàn bộ chi phí xây dựng công trình, thay cho một nén tâm nhang gửi tới đồng đội cũ.  

Có những khúc tráng ca không cần ghi vào sử sách nhưng vẫn sống mãi trong lòng người. Và hôm nay, giữa nắng gió Tân An, tấm bia chiến thắng đã trở thành một lời hẹn, một lời tri ân sâu thẳm. Nó là tiếng gọi nhắc nhở hậu thế rằng: chiến thắng không tự nhiên mà có, hòa bình không phải là món quà từ trời rơi xuống, mà là cái giá phải trả bằng máu xương, bằng tuổi trẻ của biết bao người lính can trường Trung đoàn 174 – Trung đoàn Cao Bắc Lạng anh hùng.

Sự kiện khánh thành Bia ghi nhớ chiến công không chỉ là dịp để tưởng niệm những người đã hy sinh, mà còn là lời nhắc nhở thiêng liêng dành cho thế hệ hôm nay và mai sau về công lao trời biển của các anh hùng liệt sĩ, thương binh và Mẹ Việt Nam anh hùng. Đó cũng là biểu tượng của lòng biết ơn, sự tri ân và niềm tự hào dân tộc.

N.V.Đ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm