TIN TỨC

Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-06 11:31:25
mail facebook google pos stwis
758 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.

 

Chiến sỹ Sư đoàn 5 vượt cầu Bến Lức tiến về giải phóng thị xã Tân An ngày 30/4/1975. (Ảnh tư liệu)

 

Giữa cái nắng như rang trong những ngày tháng Tư của miền Tây Nam Bộ, hàng trăm cựu chiến binh và người dân từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Công viên Phường 5, thành phố Tân An để dự lễ khánh thành Bia ghi nhớ chiến công của Trung đoàn 174 - Sư đoàn 5 và quân dân Long An trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Công trình được khánh thành vào dịp kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng Tân An, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2025).

Chính tại nơi đây cách nay tròn nửa thế kỷ là tâm điểm của một trận đánh then chốt, mở màn cho hướng tiến công chiến lược từ phía Tây Nam vào thành phố Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Với tinh thần "thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng", các tiểu đoàn chủ lực của Trung đoàn 174 đã tiến công thần tốc, đánh chiếm Dinh tỉnh trưởng, Trụ sở cảnh sát, sân bay Tân An và toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch, mở toang cánh cửa tiến về nội đô Sài Gòn. Lá cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh tỉnh trưởng Tân An trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 không chỉ báo hiệu sự sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở Long An, mà còn là biểu tượng hừng hực khí thế của cánh quân phía Tây Nam trên đường thần tốc tiến về Dinh Độc Lập.

Dưới những tán bằng lăng tím ngắt và chùm hoa gạo cuối mùa cháy rực trong nắng, những người lính đã từng vượt qua mưa bom bão đạn để giành lấy ngày thống nhất, nay trở về mảnh đất Tân An với những mái đầu đã bạc, những bước chân chậm rãi nhưng ánh mắt vẫn rực sáng như thời trai trẻ. Những cái bắt tay thật chặt, những lời gọi nhau bằng biệt danh trận mạc, những giọt nước mắt lặng lẽ rơi… Tất cả tạo nên không khí của một ngày hội, hội của những ký ức, của nghĩa tình đồng đội, của một phần lịch sử đang hiện về giữa lòng thành phố bình yên.

Giữa những hàng dừa nghiêng bóng và dòng Vàm Cỏ Tây lặng lẽ trôi qua bao lớp phù sa, tấm bia chiến thắng sừng sững vươn cao, nổi bật với hai gam màu chủ đạo: đỏ thắm - màu của máu và lửa cách mạng, và xanh biếc - màu của hòa bình và hy vọng. Những ngôi sao vàng rực rỡ trên nền đá vẫn như đang cháy sáng, gợi nhắc về một thời đạn bom khốc liệt, khi nơi đây từng là một trong những mũi tiến công chiến lược mở đường tiến về sào huyệt cuối cùng của kẻ thù.

Trước khi bản khúc khải hoàn vang lên trên mảnh đất Tân An lịch sử, Trung đoàn 174 – Đoàn Cao Bắc Lạng anh hùng – đã trải qua một hành trình chiến đấu oanh liệt và đầy máu lửa. Được thành lập ngày 19 tháng 8 năm 1949 tại Hòa An, Cao Bằng, trung đoàn mang tên “Cao - Bắc - Lạng”, nơi những người lính đầu tiên rời bản làng, xóm núi, khoác ba lô theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.

Ngay sau khi thành lập, trong Chiến dịch Biên giới Thu - Đông năm 1950, Trung đoàn đã lập công xuất sắc trên Đường số 4, tại Đông Khê, rồi tiếp đó là Mộc Châu, Thượng Lào và đỉnh cao là trận đánh quyết tử trên đồi A1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 - nơi ghi danh Trung đoàn 174 vào sử vàng dân tộc. Những người lính cảm tử của Trung đoàn 174 anh hùng đã mở đường cho lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” tung bay trên nóc hầm Đờ Cát, góp phần kết thúc chín năm kháng chiến trường kỳ và gian khổ của dân tộc.

Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, năm 1967, Trung đoàn 174 hành quân vượt Trường Sơn vào Nam, trở thành lực lượng chủ lực trong đội hình Sư đoàn 5. Từ Đồng Xoài, Dầu Tiếng, đến Lộc Ninh, Bù Đốp, những người lính “Cao Bắc Lạng” đã chiến đấu kiên cường, góp phần làm nên những chiến thắng vang dội trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, đặc biệt là trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Để có những chiến thắng huy hoàng ấy, đã có hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn anh dũng hy sinh. Máu của họ đã thấm đỏ từng cánh rừng, dòng suối, từng mảnh đất quê hương miền Đông. Riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, số người ngã xuống trên các chiến trường Nam Bộ đã gấp đôi quân số khi Trung đoàn bắt đầu hành quân vào miền Nam - một con số khiến bất kỳ ai cũng lặng người. Mỗi một chiến sĩ hy sinh là một phần thân thể của Trung đoàn vĩnh viễn gửi vào đất mẹ.

Để có ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi các chiến sĩ Đại đội 7 và Đại đội 10 dưới sự chỉ huy trực tiếp của Trung đoàn phó Vũ Viết Cam, Chính trị viên tiểu đoàn Bùi Đức Trần, Tiểu đoàn trưởng Đinh Bá Đài cắm lá cờ Quyết chiến Quyết thắng của quân đội ta trên nóc dinh tỉnh trưởng Long An trưa 30/4/1975, Trung đoàn 174 và các đơn vị bạn cùng quân dân Long An đã trải qua một chặng đường dài từ Long Khốt, Gò Da, Sóc Nóc đến Ba Thu, Rạch Tranh, Cầu Voi… Trên chặng đường chiến đấu oanh liệt ấy đã có gần 700 cán bộ chiến sĩ của Trung đoàn ngã xuống. Những người con ưu tú ấy đang nằm ở nghĩa trang Vĩnh Hưng - nghĩa trang tỉnh Long An. Thân thể của họ đã tan vào đất nước của quê hương Long An trung dũng kiên cường, đúng như câu đối được khắc ghi trong đền thờ liệt sĩ Long Khốt (Vĩnh Hưng) và hàng chục đền thờ, nghĩa trang trong cả nước: “Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc/ Hồn bay lên hoá linh khí Quốc gia“.

 

Bia ghi nhớ chiến công của Trung đoàn 174 - Sư đoàn 5 trong Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975 tại thành phố Tân An, tỉnh Long An. Ảnh tác giả cung cấp.

 

Lần đầu tiên được đặt chân đến Tân An, đứng lặng bên dòng sông Vàm Cỏ huyền thoại, dòng sông lặng lẽ chảy qua bao lớp trầm tích văn hóa phương Nam, đã chứng kiến không ít trận đánh oanh liệt và những hy sinh thầm lặng trong suốt chiều dài lịch sử, tôi bất chợt nhớ đến ca khúc “Vàm Cỏ Đông” - bài thơ của Hoài Vũ viết giữa chiến trường, được Trương Quang Lục phổ nhạc, từng là khúc hát của bao thế hệ:

“Hò ơ… dòng sông chảy xiết lái thuyền chèo đi,

Trên sông Vàm Cỏ Đông nước chảy ngược dòng…

Ơi Vàm Cỏ Đông, ơi hỡi dòng sông,

Nước xanh biêng biếc chẳng đổi thay dòng…”

Lời ca như vọng lại từ những năm tháng chiến trường, hòa vào tiếng trống rộn ràng, tiếng gọi nhau ríu rít, những cái siết tay chan chứa nghĩa tình. Dẫu đã nhiều lần gặp nhau trong các buổi họp mặt truyền thống, nhưng trong khoảnh khắc đứng trước tấm bia vừa dựng lên trên chính mảnh đất đã từng đổ máu, cảm xúc bỗng ùa về trong những cựu chiến binh như ngày đầu hội ngộ. Lời ca như vọng lại từ quá khứ, hòa vào tiếng trống, tiếng hò reo, những cái siết tay chan chứa nghĩa tình, khiến nhiều người rưng rung nước mắt.

Tấm bia chiến thắng hôm nay được dựng lên giữa mảnh đất Tân An lịch sử không chỉ là một công trình tưởng niệm. Nó được kết tinh từ máu, nước mắt và những ký ức thiêng liêng của những người lính trận.   Mỗi đường nét, mỗi gam màu, mỗi ngôi sao rực rỡ trên nền đá đều như thắp sáng ngọn lửa của một thời trận mạc, ngọn lửa của lòng quả cảm, của tri ân và khát vọng không bao giờ tắt.

Dưới cái nắng gay gắt cuối tháng Tư, những lá cờ đỏ sao vàng bay phần phật trên nền trời Tân An xanh ngắt, như sống dậy một bản tráng ca bất tử. Giữa khói lửa chiến tranh, những người lính trẻ hôm ấy – đa phần chưa đầy hai mươi – đã vượt qua tuyến phòng thủ chằng chịt của địch, đánh chiếm các mục tiêu then chốt, chi viện cho quân dân Long An nổi dậy giành chính quyền. Không ít đồng đội của họ đã nằm lại, máu của họ hòa vào dòng sông Vàm Cỏ.

 

Các đại biểu và Cựu chiến binh Sư đoàn 5 trong ngày khánh thành Bia kỷ niệm. (Ảnh: Báo Quân khu 7)

 

Ngày hôm nay, sau đúng nửa thế kỷ, cũng chính những người lính ấy lại đứng lặng trước tấm bia chiến thắng. Anh Trần Thế Tuyển, khi đó là một chàng lính trẻ, nguyên Trưởng Ban liên lạc Hội CCB Trung đoàn 174; Chủ tịch Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ TP.HCM vẫn giữ nguyên ánh nhìn rắn rỏi nhưng đầy cảm xúc. Anh Trình Tự Kha, Trưởng ban liên lạc Cựu chiến binh Trung đoàn 174 phía Nam với chiếc “ba lô ký ức” nặng trĩu trên vai, đã không mỏi mệt gom góp tư liệu, kết nối đồng đội, hiện thực hóa giấc mơ tri ân.

Và có lẽ không ai xúc động hơn anh Nguyễn Minh Sơn – Cựu chiến binh Trung đoàn 174, quê Hải Hưng, người đã gắn bó với trung đoàn trong suốt cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế trên chiến trường Campuchia. Với mong muốn được làm một điều gì đó để tri ân đồng đội, anh đã tài trợ toàn bộ chi phí xây dựng công trình, thay cho một nén tâm nhang gửi tới đồng đội cũ.  

Có những khúc tráng ca không cần ghi vào sử sách nhưng vẫn sống mãi trong lòng người. Và hôm nay, giữa nắng gió Tân An, tấm bia chiến thắng đã trở thành một lời hẹn, một lời tri ân sâu thẳm. Nó là tiếng gọi nhắc nhở hậu thế rằng: chiến thắng không tự nhiên mà có, hòa bình không phải là món quà từ trời rơi xuống, mà là cái giá phải trả bằng máu xương, bằng tuổi trẻ của biết bao người lính can trường Trung đoàn 174 – Trung đoàn Cao Bắc Lạng anh hùng.

Sự kiện khánh thành Bia ghi nhớ chiến công không chỉ là dịp để tưởng niệm những người đã hy sinh, mà còn là lời nhắc nhở thiêng liêng dành cho thế hệ hôm nay và mai sau về công lao trời biển của các anh hùng liệt sĩ, thương binh và Mẹ Việt Nam anh hùng. Đó cũng là biểu tượng của lòng biết ơn, sự tri ân và niềm tự hào dân tộc.

N.V.Đ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cái đẹp đời thường trong tranh họa sĩ Vũ Dương - Bút ký Trần Trung Sáng
“Vẽ cuộc đời bằng cảm xúc” là chủ đề chương trình giới thiệu cuốn sách tranh của họa sĩ Vũ Dương do Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng phối hợp với Chi hội Mỹ thuật Việt Nam tại Đà Nẵng và gia đình họa sĩ Vũ Dương tổ chức trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua.
Xem thêm
Hành trình lan tỏa tình yêu biển đảo từ những lá cờ Tổ quốc mang dấu Trường Sa
Giữa mênh mông biển trời, lá cờ Tổ quốc tung bay trên các điểm đảo thuộc Quần đảo Trường Sa không chỉ khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam, mà còn nhắc nhở mỗi người dân đất Việt về trách nhiệm gìn giữ biển đảo quê hương bằng những hành động thiết thực, từ những điều giản dị nhất.
Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm