TIN TỨC

Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-01 21:57:49
mail facebook google pos stwis
773 lượt xem

Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...

 

Minh họa Nguyễn Văn Đức

 

Anh Dết đi trước, theo sau là tôi, anh Hùng và anh Dư. Áng chừng cũng đã 7 giờ mà không gian vẫn cứ phân vân một màu sáng - tối.

Khắp Tây Nguyên có lẽ chẳng nơi đâu rừng đậm đặc như xứ KBang này. Trùng trùng những dãy núi xanh ngằn ngặt, cảm giác như chúng không phải mọc từ đất lên mà buông xuống từ biển mây sũng nước. Đã qua ba ngày đường, quanh tôi vẫn ngăn ngắt một màu cây...

Mặc cái cảm giác ngôn ngốt khó chịu cứ chờn vờn trên da thịt, mặc những đám vắt xanh lè hăm hở bật mình tanh tách trên những thảm lá mục lún đến bắp chân, chúng tôi vẫn cứ cắm cúi đi. Đi như trong ảo giác, như trong vô thức, có thế mới quên được chặng đường gian nan dằng dặc này...

Cõng hàng, có thể nói đấy là công việc vất vả, nhọc nhằn vào bậc nhất. Trừ lương thực làm rẫy tự túc, tất cả nhu cầu thiết yếu cho hàng trăm con người ở căn cứ Khu 10 (Gia Lai) - từ thuốc men, mắm muối, vải vóc đến tờ giấy viết đều phải xuống cơ sở dưới Bình Định cõng về. Mỗi chuyến đi phải mất bảy ngày xuống, mười ngày lên. Cứ bình quân mỗi tháng phải đi một lần, bất kể mùa nắng hay mùa mưa. Trừ lãnh đạo và một số anh em làm nhiệm vụ đặc biệt, ai cũng phải thay phiên nhau đi... Sáng tinh mơ, mọi người đã trở dậy nhóm bếp nấu cơm, ăn một nửa, một nửa để lại cho bữa trưa rồi mải miết đi, cho đến lúc màn đêm chập chờn buông xuống mới mắc võng nghỉ lấy sức để sáng mai tiếp tục lên đường... Ngày tiếp ngày, thoảng hoặc mới thấy le lói chút nắng mặt trời, còn thì cứ miên man một màu cây. Thế nhưng mùa khô hãy còn chút ánh sáng ấm áp, mùa mưa vòm trời suốt ngày sũng nước. Những cơn mưa lúc dữ dằn như xối nước, lúc rả rích, dai dẳng, miên man trong cái âm điệu ướt át khiến rừng già chỉ còn mờ ảo trong màu sương xám ngắt. Cái cảm giác nửa nóng, nửa lạnh cứ suốt ngày chờn vờn trên da thịt. Muỗi, vắt, ruồi vàng bấy giờ lại được dịp trỗi lên tác quái. Những bãi vắt lổn nhổn, đen đặc như lúa sạ. Chỉ thoáng thấy hơi người từ xa, chúng đã huơ vòi, bật tanh tách trên lá khô như tằm ăn rỗi. Đối phó với chúng chỉ có cách dùng lá thuốc xanh của đồng bào dân tộc, vò nát xát vào chân, nhưng rồi cũng chẳng xuể được, cứ mặc cho chúng hút no máu rồi tự nhả ra. Đôi khi cả hai chân máu chảy thấm ướt cả ống quần, dẻo quánh cả dép đi...

Rồi thì rắn rết, rồi thú dữ... Đã có những cái chết đầy bi thương bởi điều không ai ngờ tới. Đã bao năm trôi qua, tôi vẫn không thể quên cái chết của anh Trước...Hôm đó chúng tôi đang chuẩn bị xuống cơ sở để nhận hàng thì được tin báo lên tình hình đang căng thẳng. Vậy là phải dựng lán, ém quân lại chờ. Mỗi người mỗi việc, nghĩ anh Trước đang loanh quanh đâu đó nên không ai để ý. Mãi đến khi công việc xong xuôi đã lâu mà chẳng thấy anh đâu, bấy giờ mọi người mới hốt hoảng bổ đi tìm. Lần theo dấu vết, chúng tôi biết chắc anh đã bị cọp vồ, có lẽ là lúc xuống suối chặt cây. Mặc dù ra sức tìm kiếm, hi vọng nhặt nhạnh được chút thi thể của anh nhưng cuối cùng chúng tôi đã không thể... Dù vậy trên tất cả mọi nỗi gian khổ, hiểm nguy thì vẫn là kẻ địch. Mỗi chuyến đi đòi hỏi phải cảnh giác cao độ bởi đụng phải bọn biệt kích hay máy bay ném bom chặn đường là điều có thể xảy ra bất cứ lúc nào... Mỗi chuyến hàng lên được căn cứ phải đánh đổi bằng bao nhiêu gian khổ và hi sinh như thế, nên không ai tiếc sức mình. Mỗi gùi hàng chất lên vai 50-60kg là chuyện bình thường. Riêng tôi, nặng chỉ hơn năm chục cân cũng đã có chuyến cõng được tới bảy chục cân hàng. Mà những chuyến hàng ấy phải lội sông, luồn rừng, vượt qua những con dốc cao thăm thẳm, lại còn phải đi ban đêm, dò dẫm từng bước chân trong bóng tối như bưng lấy mắt...

Tuy nhiên nói tới điều này thì phải nói tới anh Huỳnh Xuân Cát. Anh Cát đã lập nên những kỉ lục mà không ai trong cứ có thể vượt qua: Nhiều chuyến hàng anh cõng tới 1,2 tạ, thậm chí có những chuyến lên tới 1,5 tạ. Cũng bởi những “kỉ lục” ấy mà đã có lần anh suýt chết... Một lần chúng tôi vượt sông Ba đi cõng hàng. Trời mưa to, nước đổ về cuồn cuộn. Chiếc cầu dây chăng qua sông trơn nhẫy, chao đảo mong manh trên dòng nước lũ. Biết tình thế nguy hiểm nhưng hàng lên căn cứ cũng không thể chờ. Anh Cát tiên phong sang trước. Dò dẫm từng bước, mồ hôi đổ giọt vì căng thẳng, qua được hơn nửa cầu vì gùi hàng quá nặng, anh trượt chân chới với không gượng lại được. Vậy là cả hàng lẫn người rơi tõm xuống sông. Thật may là nó đã rơi trúng bãi cát nổi, nếu không chắc hẳn hôm đó anh đã bị dòng nước hung dữ cuốn đi… Không ngại gian khổ hi sinh, tất cả cho những chuyến hàng về căn cứ, với thành tích đó, ba năm liền anh đều đạt danh hiệu “Chiến sĩ thi đua”. Anh em cứ nói vui: Lẽ ra thì ông phải được phong Anh hùng!

Không chỉ để bù lại sự đánh đổi bằng bao nhiêu hi sinh gian khổ, cố thêm gói muối, túi bột ngọt, ai cũng hiểu là sẽ bớt thêm cho anh em trong cứ một chút thiếu thốn, cơ cực. Sau Tết Mậu Thân, tình hình càng ác liệt. Cái ăn bây giờ chủ yếu là dựa vào nguồn tăng gia, sản xuất tại chỗ. Gạo, tiêu chuẩn mỗi bữa ba người một lon mà nhiều khi phải dùng đến thứ dự trữ đã lâu ngày, mốc, mọt xốp xộp, cho nước vào cứ nổi lều phều, bóp mạnh một chút đã vỡ vụn. Nói “cơm độn mì” (sắn) nhưng đúng ra phải nói ngược lại “mì độn cơm”. Mỗi ngày được ăn ba bữa nhưng sáng và tối là bữa chính, còn trưa mỗi người chỉ được hai khúc mì luộc... Thường trực là mì nhưng không có nghĩa là được ăn thả cửa. Để tiết kiệm, rẫy mì nào có “tuổi” hai năm mới được nhổ. Một lần bếp ăn thiếu, chúng tôi lén đi trộm mì của anh em bộ đội, vậy là hôm đó bị lãnh đạo la: “Sao tụi bây lại đi nhổ mì một năm, không tiết kiệm rồi bữa sau lấy gì ăn?”

Cơm nước đã vậy, thức ăn cũng kham khổ không kém. Trừ đôi lần anh em bất chợt săn được thú rừng, đánh lưới được chút cá suối, còn thì quanh năm suốt tháng chỉ lá mì, rau lang nấu với muối pha chút bột ngọt. Có lúc thiếu cả rau, chị nuôi phải chặt chuối rừng lấy lõi, giã ra nấu với muối để đưa cơm... Chúng tôi còn trẻ, dẫu sao cũng có sức chịu đựng, chỉ thương các chú lãnh đạo đã có tuổi, nhất là Bí thư Tỉnh ủy Trần Văn Bình. Là người lãnh đạo cao nhất nhưng ông không bao giờ chịu để anh em ưu tiên cho riêng mình một chút gì. Tới bữa, ông cũng ngồi chung bàn, chung nồi “mì độn cơm”, nồi canh nấu muối với mọi người. Thương ông, nếu hôm nào ông bận phải ăn sau, chúng tôi lại gạt bớt mì, cho cơm nhiều hơn mọi người một chút. Thế nhưng cũng phải khéo léo không được để cơm quá nhiều, nếu không sẽ bị ông la... Có một chuyện mà bây giờ mỗi lúc nhớ lại, lòng tôi vẫn rưng rưng... Lệ thường, cứ mỗi năm vào kì tuốt lúa, anh em sẽ được cơ quan cho ăn thỏa sức hai bữa cơm không độn cho bõ những ngày mài họng với củ mì. Thế nhưng vụ lúa năm 1967, rẫy lúa tăng gia của cơ quan ở Buôn Lới bị địch rải chất độc hóa học. Lúc chúng tôi vào thu hoạch thì lúa đã mềm oặt, rã cả xuống bùn. Tuy nhiên vì tiếc công và tiếc cả hai bữa cơm không độn, mọi người vẫn cố gắng nhặt nhạnh, mong vớt vát được hạt nào hay hạt ấy... Rồi thì cũng được một ít, chúng tôi mừng rơn mang về tíu tít xay giã. Không khí vui nhộn cứ như ngày Tết. Có người đề nghị: “Hôm nay phải nấu mỗi người hai lon thì ăn mới đã.” Người khác gàn: “Có ăn hết không mà... thôi, mỗi người một lon rưỡi vậy!” Cuối cùng thì “quyết nghị” là cứ mỗi người nấu một lon rưỡi. Háo hức quá, ai cũng ngồi chuyện gẫu cho quên đi quãng thời gian đợi chờ đến phút giây hạnh phúc... Nhưng cơm vừa sôi, ai nấy đều khịt mũi. Quái, sao lại có cái mùi gì như thuốc Penicillin bốc ra từ nồi cơm? Bây giờ mọi người mới chợt nghĩ ra: Hẳn là chất độc hóa học đã ngấm vào hạt lúa nên nó mới bốc lên cái mùi kinh khủng ấy! Vừa lúc Bí thư Trần Văn Bình đi qua thấy vậy bèn la: “Đổ nồi cơm đi, tụi bây ăn vào là chết đấy!” Nghe vậy chúng tôi đã toan làm theo lời ông nhưng nghĩ tiếc công và quá thèm nên cứ chần chừ. Cuối cùng thì cái thèm đã lấn át nỗi sợ. Mọi người đều xới cơm ăn một cách ngon lành. Có người còn đùa: “Thôi thì thà chết no còn hơn sống thèm.” Riêng Bí thư, tất nhiên là không thể để ông ăn thứ cơm này được, chị Tuất lấy một lon gạo khác nấu riêng bảo anh Tính mang lên. Nhưng vừa giở nắp ănggô ông đã hỏi ngay: “Sao cơm này lại có mùi khác? Nồi cơm lúc chiều đâu?” Anh Tính thú thật là vì thèm quá, anh em đã lén ăn hết rồi. Nghe vậy ông bật khóc, nghẹn ngào: “Cơm nhiễm chất độc hóa học, tụi bây ăn vào chết thì sao?” Rồi ngồi thừ ra không chịu ăn. Anh Tính phải năn nỉ mãi, lúc lâu sau ông mới chịu cầm đũa. Vừa ăn ông vừa khóc: “Anh em sống chết có nhau, gian khổ sẻ chia cùng nhau, tôi làm sao lại có thể sống khác...”

... Những giọt nắng lọt qua tán cây nhễu xuống đã nhạt màu. Áng chừng cũng đã 3 giờ chiều. Vậy là chúng tôi đã cách sông Côn khá xa. Quãng đường từ đây về cứ tuy còn dài nhưng có thể coi là an toàn. Tôi toan kêu ba anh dừng lại nghỉ chút, thốt nhiên tiếng máy bay từ đâu rền vang trên đầu. Đầu tiên, những chiếc máy bay phản lực rít như xé gió, giội bom liên tục xuống cánh rừng. Tiếp đó lũ trực thăng bay sát ngọn cây, xả đạn như mưa. Cả cánh rừng rung chuyển, cây cối tả tơi như đang trong vòng xoáy của trận cuồng phong. Chẳng biết chúng đã phát hiện ra chúng tôi hay anh em đoàn nào đó đã bị lộ? Sau khoảng nửa giờ bắn phá điên cuồng, tiếng máy bay bỗng im bặt. Cứ nghĩ chúng đã rút thì bỗng từng tràng âm thanh AR15 vọng đến... “Địch đổ quân. Bỏ hàng lại, chạy thoát thân đã!” anh Hùng ra lệnh. Ba anh chạy trước, tôi theo sau. Con dốc cao và dài quá, được một quãng thì tôi đuối sức, cứ tụt lại dần rồi không thấy ba anh đâu nữa. Cây cối dày đặc che khuất, cũng chẳng còn biết các anh chạy hướng nào để theo, trong khi phía sau địch vẫn bắn rát. Hẳn là chúng đã nhìn thấy chúng tôi. Cứ thế này thì chúng sẽ đuổi kịp mình mất - lòng đầy hoang mang và lo sợ, đang chưa biết tính sao thì chợt phát hiện ra phía trước có một cái hang đá. Mừng quá, tôi lập tức chạy tới chui vào. Chưa kịp thở lấy hơi thì bọn địch đã sục tới. Chúng phát loa oang oang: “Hỡi các cán binh Việt Cộng, đừng lẩn trốn vô ích, hãy quay về với chánh nghĩa Quốc gia, các bạn sẽ được đối đãi tử tế...” Ẩn kín sau một tảng đá lớn, tôi nhìn ra thấy bốn, năm tên Mĩ chỉ tay vào hang nói xì xồ gì đó với nhau... Trống ngực tôi đánh thình thịch, hơi thở như tắc nghẹn. Nếu chúng xông vào hang thì sao? Giá có vũ khí trong tay, tôi sẵn sàng liều chết với chúng, nhưng tay không thế này chắc hẳn là phải chịu cho chúng bắt rồi… Quan sát một hồi, hẳn là không thấy dấu vết gì để nghi ngờ, và cũng có thể sợ lỡ có “Việt Cộng” trong hang thì chết uổng mạng, chúng thả mấy trái lựu đạn vào cửa hang thăm dò rồi bỏ đi...

Quá bất ngờ vì sự may mắn đến không tin nổi, chờ một lúc thật lâu, tôi mới dám lần ra cửa hang nghe ngóng. Tiếng súng vẫn còn nổ khá gần. Lũ trực thăng vẫn quần đảo soi mói, như vậy là chúng sẽ ém quân lại tiếp tục lùng sục. Không thể rời hang lúc này được. Vừa bươn bả chạy giặc, vừa căng thẳng thần kinh, bụng đói cồn cào lại thêm cái khát khiến thân thể tôi rã rời. Thôi đành cố chịu, tới đâu hay đó... Ánh ngày tắt dần. Đêm xuống hang tối như bưng lấy mắt. Lạnh quá, tôi ngồi co ro lưng dựa vào vách đá, tay ôm gối sát vào bụng cho đỡ rét. Rồi tôi thiếp đi, chẳng biết được bao lâu thì trời hửng sáng. Lúc này bên cạnh cơn đói như chà xát gan ruột là cái khát. Ngày càng trôi về chiều, cơn khát càng giày vò dữ dội. Miệng dẻo quánh, lưỡi đưa qua lại như không còn cảm giác. Người ta có thể nhịn đói được mươi ngày nhưng nhịn khát thì không quá nổi ba ngày. Tôi biết vậy nhưng ra ngoài tìm nước lúc này rất nguy hiểm. Địch vẫn còn lùng sục, vả chăng chẳng biết hướng nào có nước để tìm. Trong cơn tuyệt vọng, tôi bò ra cửa hang cố quan sát thật kĩ xung quanh. Thì kìa, cách hang không xa lắm có một vạt chuối rừng. “Sống rồi” - tôi thầm reo lên trong tâm trí. Nhưng phải chờ trời tối mới ra đó được... Thời khắc trôi đi chậm chạp ngỡ như qua từng thế kỉ. Trời vừa sẩm tối, biết chắc đây là quãng thời gian an toàn, tôi lần tới vạt chuối chọn những cây nhỏ bẻ ngang thân tước lấy lõi. Thật lắm trầy trật, may là chuối rừng không dai như cây chuối nhà. Mệt lả người, cuối cùng thì tôi cũng tước được một bó để dành cho cả hôm sau nữa. Về tới hang, tôi bẻ vụn từng khúc ruột chuối nhai ngấu nghiến. Nhưng cơn khát dịu đi thì cái đói lại trỗi dậy mạnh hơn, ruột gan càng cồn cào khó chịu. Hẳn là do nước chát trong nõn chuối. Tôi cứ phải liên tục tự động viên mình: “Không chết khát thì không thể chết đói được.” Rồi để quên đi, tôi cố dỗ mình vào giấc ngủ. Nhưng ngủ sao được khi một mình trong hang lạnh lẽo, màn đêm như có thể xắn ra từng miếng mà gan ruột thì cứ như ai lấy tay vò... Sáng ngày thứ tư, tỉnh dậy sau một lúc thiếp đi ngắn ngủi, tôi lắng tai nghe ngóng. Núi rừng bỗng im ắng hẳn. May quá, như vậy là bọn địch đã rút quân. Phải nhanh chóng ra đi. Nhưng biết đi đâu bây giờ, trở lại quê hay lên căn cứ? Cả hai phía đều xa, vả chăng đi một mình tôi không dám. Nhưng không đi thì chắc chắn là chết ở đây không ai biết. Thôi cứ đi, sớm muộn thế nào rồi cũng gặp người của ta...

Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...

Về tới nhà, má tôi nhìn tôi trân trối rồi bỗng khóc òa lên. Tôi đứng ngây ra không hiểu. Thì ra trên cứ nghĩ là tôi chết rồi nên nhắn về cho má. Tin là thật, bà đang làm cơm cúng tôi... Mới kịp an ủi má mấy câu, tiếng súng bỗng rộ lên. Địch đang đi sục. Má tôi vừa kịp đẩy tôi xuống hầm bí mật thì chúng sục tới. Ngồi trong hầm tôi nghe tiếng bước chân của chúng lượn quanh mồn một. Rồi chúng tra vấn má tôi: “Con Hưu nhà bà đi theo Việt Cộng rồi phải không? Mau gọi nó về không có bà lãnh đủ.” Má tôi bình thản trả lời: “Nó đi làm ăn chỗ nào tui đâu có hay. Các ông thấy nó ở đâu thì cứ bắt về mà tra hỏi...” Cứ nghĩ cố nán lại mươi bữa, có anh em nào xuống thì mình theo lên, nào ngờ tình hình căng thẳng vẫn cứ kéo dài. Cứ suốt ngày ăn, thấy động thì lẩn trốn thế này chắc điên đầu mất. Sốt ruột quá, tôi viết liền bốn lá thư nhờ cơ sở nếu có ai xuống thì chuyển cho cơ quan giúp. Thế nhưng ngày tiếp ngày vẫn cứ bặt vô âm tín. Cho mãi đến khi anh Bá xuống lấy hàng, tôi mới liên lạc được và theo lên.

Tính từ ngày đi, vậy là đã bốn tháng trời tôi vắng mặt ở cơ quan. Thấy tôi, ai cũng ngẩn ra như không tin vào mắt mình. Anh Hùng thì ôm chầm lấy tôi mà khóc: “Trời ơi, ba anh em tao trở lại tìm mầy suốt một ngày mà đâu có thấy. Ai cũng đinh ninh mầy chết rồi!” Quả thật là nếu về trễ thêm chút nữa thì tôi đã thấy lễ truy điệu mình đang được cơ quan chuẩn bị tiến hành...

Sau năm 1969, tôi được tổ chức rút về ban Binh vận. Cũng như với mọi anh chị em, thời gian khổ ở căn cứ mỗi ngày là mỗi kỉ niệm. Dẫu sao thì trong muôn vàn kỉ niệm ấy, đáng kể nhất với tôi vẫn là những chuyến đi cõng hàng “máu lửa”... Bây giờ kể lại, chắc nhiều người khó mà tin được một cô gái bé nhỏ lại có thể chất lên mình những gùi hàng nặng đến 60-70kg vượt qua bao dốc cao, suối sâu, bất kể mưa nắng, bất kể mọi nỗi hiểm nguy. Chính tôi, đôi khi nhớ lại cũng không hiểu nổi mình. Nhưng một thời là như thế. Dường như ai cũng làm việc bằng ý chí tinh thần hơn là thực lực của thể xác.

N.T

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hà Nội và nỗi niềm hoa sữa – Tản văn Đào Thị Thu Hiền
Nhớ đến những mùa hoa Hà Nội, những người yêu mảnh đất này không thể không nhắc đến mùa hoa sữa. Đó là một mùa hoa nhưng cũng có thể gọi về cả mùa thơ, mùa nhạc khiến cho đất trời thủ đô khoảnh khắc cuối thu chầm chậm sang đông bỗng trở nên rạo rực, thao thức, nồng nàn với những vấn vương bởi cái hương thơm ngọt ngào, đằm sâu, quyến rũ đang dịu dàng gửi vào trong gió. Mùi hương ấy làm cho bao bước chân qua không khỏi ngập ngừng như thể đang bị níu lại. Có lẽ vì thế mà loài hoa này, từ lâu, đã được xem là tình yêu và nỗi nhớ của người Hà Nội.
Xem thêm
Kiến nghị lấy ngày 27/7 làm ngày Quốc giỗ
Tôi quan niệm rằng sự hy sinh của những người con đất Việt không bị giới hạn bởi một thời đại, một cuộc chiến tranh hay một thế hệ. Tất cả những người đã hy sinh vì độc lập, tự do và sự trường tồn của đất nước đều xứng đáng được các thế hệ hôm nay và mai sau tưởng nhớ. Bởi vậy, khi bàn về Ngày Quốc giỗ, cần phân biệt rõ giữa việc lựa chọn một ngày tưởng niệm chung và việc bảo đảm sự tri ân đối với từng đối tượng, từng giai đoạn lịch sử. Hai việc này không nhất thiết loại trừ nhau.
Xem thêm
Những người đi qua Trường Sơn – 55 năm một lời hẹn
Bài đăng Đặc san của Hội Nhà báo TPHCM chào mừng Đại hội Hội Nhà báo TPHCM
Xem thêm
Về bến Lộc An
Bài đăng báo Cựu chiến binh Việt Nam
Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm