TIN TỨC

Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-01 21:57:49
mail facebook google pos stwis
10 lượt xem

Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...

 

Minh họa Nguyễn Văn Đức

 

Anh Dết đi trước, theo sau là tôi, anh Hùng và anh Dư. Áng chừng cũng đã 7 giờ mà không gian vẫn cứ phân vân một màu sáng - tối.

Khắp Tây Nguyên có lẽ chẳng nơi đâu rừng đậm đặc như xứ KBang này. Trùng trùng những dãy núi xanh ngằn ngặt, cảm giác như chúng không phải mọc từ đất lên mà buông xuống từ biển mây sũng nước. Đã qua ba ngày đường, quanh tôi vẫn ngăn ngắt một màu cây...

Mặc cái cảm giác ngôn ngốt khó chịu cứ chờn vờn trên da thịt, mặc những đám vắt xanh lè hăm hở bật mình tanh tách trên những thảm lá mục lún đến bắp chân, chúng tôi vẫn cứ cắm cúi đi. Đi như trong ảo giác, như trong vô thức, có thế mới quên được chặng đường gian nan dằng dặc này...

Cõng hàng, có thể nói đấy là công việc vất vả, nhọc nhằn vào bậc nhất. Trừ lương thực làm rẫy tự túc, tất cả nhu cầu thiết yếu cho hàng trăm con người ở căn cứ Khu 10 (Gia Lai) - từ thuốc men, mắm muối, vải vóc đến tờ giấy viết đều phải xuống cơ sở dưới Bình Định cõng về. Mỗi chuyến đi phải mất bảy ngày xuống, mười ngày lên. Cứ bình quân mỗi tháng phải đi một lần, bất kể mùa nắng hay mùa mưa. Trừ lãnh đạo và một số anh em làm nhiệm vụ đặc biệt, ai cũng phải thay phiên nhau đi... Sáng tinh mơ, mọi người đã trở dậy nhóm bếp nấu cơm, ăn một nửa, một nửa để lại cho bữa trưa rồi mải miết đi, cho đến lúc màn đêm chập chờn buông xuống mới mắc võng nghỉ lấy sức để sáng mai tiếp tục lên đường... Ngày tiếp ngày, thoảng hoặc mới thấy le lói chút nắng mặt trời, còn thì cứ miên man một màu cây. Thế nhưng mùa khô hãy còn chút ánh sáng ấm áp, mùa mưa vòm trời suốt ngày sũng nước. Những cơn mưa lúc dữ dằn như xối nước, lúc rả rích, dai dẳng, miên man trong cái âm điệu ướt át khiến rừng già chỉ còn mờ ảo trong màu sương xám ngắt. Cái cảm giác nửa nóng, nửa lạnh cứ suốt ngày chờn vờn trên da thịt. Muỗi, vắt, ruồi vàng bấy giờ lại được dịp trỗi lên tác quái. Những bãi vắt lổn nhổn, đen đặc như lúa sạ. Chỉ thoáng thấy hơi người từ xa, chúng đã huơ vòi, bật tanh tách trên lá khô như tằm ăn rỗi. Đối phó với chúng chỉ có cách dùng lá thuốc xanh của đồng bào dân tộc, vò nát xát vào chân, nhưng rồi cũng chẳng xuể được, cứ mặc cho chúng hút no máu rồi tự nhả ra. Đôi khi cả hai chân máu chảy thấm ướt cả ống quần, dẻo quánh cả dép đi...

Rồi thì rắn rết, rồi thú dữ... Đã có những cái chết đầy bi thương bởi điều không ai ngờ tới. Đã bao năm trôi qua, tôi vẫn không thể quên cái chết của anh Trước...Hôm đó chúng tôi đang chuẩn bị xuống cơ sở để nhận hàng thì được tin báo lên tình hình đang căng thẳng. Vậy là phải dựng lán, ém quân lại chờ. Mỗi người mỗi việc, nghĩ anh Trước đang loanh quanh đâu đó nên không ai để ý. Mãi đến khi công việc xong xuôi đã lâu mà chẳng thấy anh đâu, bấy giờ mọi người mới hốt hoảng bổ đi tìm. Lần theo dấu vết, chúng tôi biết chắc anh đã bị cọp vồ, có lẽ là lúc xuống suối chặt cây. Mặc dù ra sức tìm kiếm, hi vọng nhặt nhạnh được chút thi thể của anh nhưng cuối cùng chúng tôi đã không thể... Dù vậy trên tất cả mọi nỗi gian khổ, hiểm nguy thì vẫn là kẻ địch. Mỗi chuyến đi đòi hỏi phải cảnh giác cao độ bởi đụng phải bọn biệt kích hay máy bay ném bom chặn đường là điều có thể xảy ra bất cứ lúc nào... Mỗi chuyến hàng lên được căn cứ phải đánh đổi bằng bao nhiêu gian khổ và hi sinh như thế, nên không ai tiếc sức mình. Mỗi gùi hàng chất lên vai 50-60kg là chuyện bình thường. Riêng tôi, nặng chỉ hơn năm chục cân cũng đã có chuyến cõng được tới bảy chục cân hàng. Mà những chuyến hàng ấy phải lội sông, luồn rừng, vượt qua những con dốc cao thăm thẳm, lại còn phải đi ban đêm, dò dẫm từng bước chân trong bóng tối như bưng lấy mắt...

Tuy nhiên nói tới điều này thì phải nói tới anh Huỳnh Xuân Cát. Anh Cát đã lập nên những kỉ lục mà không ai trong cứ có thể vượt qua: Nhiều chuyến hàng anh cõng tới 1,2 tạ, thậm chí có những chuyến lên tới 1,5 tạ. Cũng bởi những “kỉ lục” ấy mà đã có lần anh suýt chết... Một lần chúng tôi vượt sông Ba đi cõng hàng. Trời mưa to, nước đổ về cuồn cuộn. Chiếc cầu dây chăng qua sông trơn nhẫy, chao đảo mong manh trên dòng nước lũ. Biết tình thế nguy hiểm nhưng hàng lên căn cứ cũng không thể chờ. Anh Cát tiên phong sang trước. Dò dẫm từng bước, mồ hôi đổ giọt vì căng thẳng, qua được hơn nửa cầu vì gùi hàng quá nặng, anh trượt chân chới với không gượng lại được. Vậy là cả hàng lẫn người rơi tõm xuống sông. Thật may là nó đã rơi trúng bãi cát nổi, nếu không chắc hẳn hôm đó anh đã bị dòng nước hung dữ cuốn đi… Không ngại gian khổ hi sinh, tất cả cho những chuyến hàng về căn cứ, với thành tích đó, ba năm liền anh đều đạt danh hiệu “Chiến sĩ thi đua”. Anh em cứ nói vui: Lẽ ra thì ông phải được phong Anh hùng!

Không chỉ để bù lại sự đánh đổi bằng bao nhiêu hi sinh gian khổ, cố thêm gói muối, túi bột ngọt, ai cũng hiểu là sẽ bớt thêm cho anh em trong cứ một chút thiếu thốn, cơ cực. Sau Tết Mậu Thân, tình hình càng ác liệt. Cái ăn bây giờ chủ yếu là dựa vào nguồn tăng gia, sản xuất tại chỗ. Gạo, tiêu chuẩn mỗi bữa ba người một lon mà nhiều khi phải dùng đến thứ dự trữ đã lâu ngày, mốc, mọt xốp xộp, cho nước vào cứ nổi lều phều, bóp mạnh một chút đã vỡ vụn. Nói “cơm độn mì” (sắn) nhưng đúng ra phải nói ngược lại “mì độn cơm”. Mỗi ngày được ăn ba bữa nhưng sáng và tối là bữa chính, còn trưa mỗi người chỉ được hai khúc mì luộc... Thường trực là mì nhưng không có nghĩa là được ăn thả cửa. Để tiết kiệm, rẫy mì nào có “tuổi” hai năm mới được nhổ. Một lần bếp ăn thiếu, chúng tôi lén đi trộm mì của anh em bộ đội, vậy là hôm đó bị lãnh đạo la: “Sao tụi bây lại đi nhổ mì một năm, không tiết kiệm rồi bữa sau lấy gì ăn?”

Cơm nước đã vậy, thức ăn cũng kham khổ không kém. Trừ đôi lần anh em bất chợt săn được thú rừng, đánh lưới được chút cá suối, còn thì quanh năm suốt tháng chỉ lá mì, rau lang nấu với muối pha chút bột ngọt. Có lúc thiếu cả rau, chị nuôi phải chặt chuối rừng lấy lõi, giã ra nấu với muối để đưa cơm... Chúng tôi còn trẻ, dẫu sao cũng có sức chịu đựng, chỉ thương các chú lãnh đạo đã có tuổi, nhất là Bí thư Tỉnh ủy Trần Văn Bình. Là người lãnh đạo cao nhất nhưng ông không bao giờ chịu để anh em ưu tiên cho riêng mình một chút gì. Tới bữa, ông cũng ngồi chung bàn, chung nồi “mì độn cơm”, nồi canh nấu muối với mọi người. Thương ông, nếu hôm nào ông bận phải ăn sau, chúng tôi lại gạt bớt mì, cho cơm nhiều hơn mọi người một chút. Thế nhưng cũng phải khéo léo không được để cơm quá nhiều, nếu không sẽ bị ông la... Có một chuyện mà bây giờ mỗi lúc nhớ lại, lòng tôi vẫn rưng rưng... Lệ thường, cứ mỗi năm vào kì tuốt lúa, anh em sẽ được cơ quan cho ăn thỏa sức hai bữa cơm không độn cho bõ những ngày mài họng với củ mì. Thế nhưng vụ lúa năm 1967, rẫy lúa tăng gia của cơ quan ở Buôn Lới bị địch rải chất độc hóa học. Lúc chúng tôi vào thu hoạch thì lúa đã mềm oặt, rã cả xuống bùn. Tuy nhiên vì tiếc công và tiếc cả hai bữa cơm không độn, mọi người vẫn cố gắng nhặt nhạnh, mong vớt vát được hạt nào hay hạt ấy... Rồi thì cũng được một ít, chúng tôi mừng rơn mang về tíu tít xay giã. Không khí vui nhộn cứ như ngày Tết. Có người đề nghị: “Hôm nay phải nấu mỗi người hai lon thì ăn mới đã.” Người khác gàn: “Có ăn hết không mà... thôi, mỗi người một lon rưỡi vậy!” Cuối cùng thì “quyết nghị” là cứ mỗi người nấu một lon rưỡi. Háo hức quá, ai cũng ngồi chuyện gẫu cho quên đi quãng thời gian đợi chờ đến phút giây hạnh phúc... Nhưng cơm vừa sôi, ai nấy đều khịt mũi. Quái, sao lại có cái mùi gì như thuốc Penicillin bốc ra từ nồi cơm? Bây giờ mọi người mới chợt nghĩ ra: Hẳn là chất độc hóa học đã ngấm vào hạt lúa nên nó mới bốc lên cái mùi kinh khủng ấy! Vừa lúc Bí thư Trần Văn Bình đi qua thấy vậy bèn la: “Đổ nồi cơm đi, tụi bây ăn vào là chết đấy!” Nghe vậy chúng tôi đã toan làm theo lời ông nhưng nghĩ tiếc công và quá thèm nên cứ chần chừ. Cuối cùng thì cái thèm đã lấn át nỗi sợ. Mọi người đều xới cơm ăn một cách ngon lành. Có người còn đùa: “Thôi thì thà chết no còn hơn sống thèm.” Riêng Bí thư, tất nhiên là không thể để ông ăn thứ cơm này được, chị Tuất lấy một lon gạo khác nấu riêng bảo anh Tính mang lên. Nhưng vừa giở nắp ănggô ông đã hỏi ngay: “Sao cơm này lại có mùi khác? Nồi cơm lúc chiều đâu?” Anh Tính thú thật là vì thèm quá, anh em đã lén ăn hết rồi. Nghe vậy ông bật khóc, nghẹn ngào: “Cơm nhiễm chất độc hóa học, tụi bây ăn vào chết thì sao?” Rồi ngồi thừ ra không chịu ăn. Anh Tính phải năn nỉ mãi, lúc lâu sau ông mới chịu cầm đũa. Vừa ăn ông vừa khóc: “Anh em sống chết có nhau, gian khổ sẻ chia cùng nhau, tôi làm sao lại có thể sống khác...”

... Những giọt nắng lọt qua tán cây nhễu xuống đã nhạt màu. Áng chừng cũng đã 3 giờ chiều. Vậy là chúng tôi đã cách sông Côn khá xa. Quãng đường từ đây về cứ tuy còn dài nhưng có thể coi là an toàn. Tôi toan kêu ba anh dừng lại nghỉ chút, thốt nhiên tiếng máy bay từ đâu rền vang trên đầu. Đầu tiên, những chiếc máy bay phản lực rít như xé gió, giội bom liên tục xuống cánh rừng. Tiếp đó lũ trực thăng bay sát ngọn cây, xả đạn như mưa. Cả cánh rừng rung chuyển, cây cối tả tơi như đang trong vòng xoáy của trận cuồng phong. Chẳng biết chúng đã phát hiện ra chúng tôi hay anh em đoàn nào đó đã bị lộ? Sau khoảng nửa giờ bắn phá điên cuồng, tiếng máy bay bỗng im bặt. Cứ nghĩ chúng đã rút thì bỗng từng tràng âm thanh AR15 vọng đến... “Địch đổ quân. Bỏ hàng lại, chạy thoát thân đã!” anh Hùng ra lệnh. Ba anh chạy trước, tôi theo sau. Con dốc cao và dài quá, được một quãng thì tôi đuối sức, cứ tụt lại dần rồi không thấy ba anh đâu nữa. Cây cối dày đặc che khuất, cũng chẳng còn biết các anh chạy hướng nào để theo, trong khi phía sau địch vẫn bắn rát. Hẳn là chúng đã nhìn thấy chúng tôi. Cứ thế này thì chúng sẽ đuổi kịp mình mất - lòng đầy hoang mang và lo sợ, đang chưa biết tính sao thì chợt phát hiện ra phía trước có một cái hang đá. Mừng quá, tôi lập tức chạy tới chui vào. Chưa kịp thở lấy hơi thì bọn địch đã sục tới. Chúng phát loa oang oang: “Hỡi các cán binh Việt Cộng, đừng lẩn trốn vô ích, hãy quay về với chánh nghĩa Quốc gia, các bạn sẽ được đối đãi tử tế...” Ẩn kín sau một tảng đá lớn, tôi nhìn ra thấy bốn, năm tên Mĩ chỉ tay vào hang nói xì xồ gì đó với nhau... Trống ngực tôi đánh thình thịch, hơi thở như tắc nghẹn. Nếu chúng xông vào hang thì sao? Giá có vũ khí trong tay, tôi sẵn sàng liều chết với chúng, nhưng tay không thế này chắc hẳn là phải chịu cho chúng bắt rồi… Quan sát một hồi, hẳn là không thấy dấu vết gì để nghi ngờ, và cũng có thể sợ lỡ có “Việt Cộng” trong hang thì chết uổng mạng, chúng thả mấy trái lựu đạn vào cửa hang thăm dò rồi bỏ đi...

Quá bất ngờ vì sự may mắn đến không tin nổi, chờ một lúc thật lâu, tôi mới dám lần ra cửa hang nghe ngóng. Tiếng súng vẫn còn nổ khá gần. Lũ trực thăng vẫn quần đảo soi mói, như vậy là chúng sẽ ém quân lại tiếp tục lùng sục. Không thể rời hang lúc này được. Vừa bươn bả chạy giặc, vừa căng thẳng thần kinh, bụng đói cồn cào lại thêm cái khát khiến thân thể tôi rã rời. Thôi đành cố chịu, tới đâu hay đó... Ánh ngày tắt dần. Đêm xuống hang tối như bưng lấy mắt. Lạnh quá, tôi ngồi co ro lưng dựa vào vách đá, tay ôm gối sát vào bụng cho đỡ rét. Rồi tôi thiếp đi, chẳng biết được bao lâu thì trời hửng sáng. Lúc này bên cạnh cơn đói như chà xát gan ruột là cái khát. Ngày càng trôi về chiều, cơn khát càng giày vò dữ dội. Miệng dẻo quánh, lưỡi đưa qua lại như không còn cảm giác. Người ta có thể nhịn đói được mươi ngày nhưng nhịn khát thì không quá nổi ba ngày. Tôi biết vậy nhưng ra ngoài tìm nước lúc này rất nguy hiểm. Địch vẫn còn lùng sục, vả chăng chẳng biết hướng nào có nước để tìm. Trong cơn tuyệt vọng, tôi bò ra cửa hang cố quan sát thật kĩ xung quanh. Thì kìa, cách hang không xa lắm có một vạt chuối rừng. “Sống rồi” - tôi thầm reo lên trong tâm trí. Nhưng phải chờ trời tối mới ra đó được... Thời khắc trôi đi chậm chạp ngỡ như qua từng thế kỉ. Trời vừa sẩm tối, biết chắc đây là quãng thời gian an toàn, tôi lần tới vạt chuối chọn những cây nhỏ bẻ ngang thân tước lấy lõi. Thật lắm trầy trật, may là chuối rừng không dai như cây chuối nhà. Mệt lả người, cuối cùng thì tôi cũng tước được một bó để dành cho cả hôm sau nữa. Về tới hang, tôi bẻ vụn từng khúc ruột chuối nhai ngấu nghiến. Nhưng cơn khát dịu đi thì cái đói lại trỗi dậy mạnh hơn, ruột gan càng cồn cào khó chịu. Hẳn là do nước chát trong nõn chuối. Tôi cứ phải liên tục tự động viên mình: “Không chết khát thì không thể chết đói được.” Rồi để quên đi, tôi cố dỗ mình vào giấc ngủ. Nhưng ngủ sao được khi một mình trong hang lạnh lẽo, màn đêm như có thể xắn ra từng miếng mà gan ruột thì cứ như ai lấy tay vò... Sáng ngày thứ tư, tỉnh dậy sau một lúc thiếp đi ngắn ngủi, tôi lắng tai nghe ngóng. Núi rừng bỗng im ắng hẳn. May quá, như vậy là bọn địch đã rút quân. Phải nhanh chóng ra đi. Nhưng biết đi đâu bây giờ, trở lại quê hay lên căn cứ? Cả hai phía đều xa, vả chăng đi một mình tôi không dám. Nhưng không đi thì chắc chắn là chết ở đây không ai biết. Thôi cứ đi, sớm muộn thế nào rồi cũng gặp người của ta...

Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...

Về tới nhà, má tôi nhìn tôi trân trối rồi bỗng khóc òa lên. Tôi đứng ngây ra không hiểu. Thì ra trên cứ nghĩ là tôi chết rồi nên nhắn về cho má. Tin là thật, bà đang làm cơm cúng tôi... Mới kịp an ủi má mấy câu, tiếng súng bỗng rộ lên. Địch đang đi sục. Má tôi vừa kịp đẩy tôi xuống hầm bí mật thì chúng sục tới. Ngồi trong hầm tôi nghe tiếng bước chân của chúng lượn quanh mồn một. Rồi chúng tra vấn má tôi: “Con Hưu nhà bà đi theo Việt Cộng rồi phải không? Mau gọi nó về không có bà lãnh đủ.” Má tôi bình thản trả lời: “Nó đi làm ăn chỗ nào tui đâu có hay. Các ông thấy nó ở đâu thì cứ bắt về mà tra hỏi...” Cứ nghĩ cố nán lại mươi bữa, có anh em nào xuống thì mình theo lên, nào ngờ tình hình căng thẳng vẫn cứ kéo dài. Cứ suốt ngày ăn, thấy động thì lẩn trốn thế này chắc điên đầu mất. Sốt ruột quá, tôi viết liền bốn lá thư nhờ cơ sở nếu có ai xuống thì chuyển cho cơ quan giúp. Thế nhưng ngày tiếp ngày vẫn cứ bặt vô âm tín. Cho mãi đến khi anh Bá xuống lấy hàng, tôi mới liên lạc được và theo lên.

Tính từ ngày đi, vậy là đã bốn tháng trời tôi vắng mặt ở cơ quan. Thấy tôi, ai cũng ngẩn ra như không tin vào mắt mình. Anh Hùng thì ôm chầm lấy tôi mà khóc: “Trời ơi, ba anh em tao trở lại tìm mầy suốt một ngày mà đâu có thấy. Ai cũng đinh ninh mầy chết rồi!” Quả thật là nếu về trễ thêm chút nữa thì tôi đã thấy lễ truy điệu mình đang được cơ quan chuẩn bị tiến hành...

Sau năm 1969, tôi được tổ chức rút về ban Binh vận. Cũng như với mọi anh chị em, thời gian khổ ở căn cứ mỗi ngày là mỗi kỉ niệm. Dẫu sao thì trong muôn vàn kỉ niệm ấy, đáng kể nhất với tôi vẫn là những chuyến đi cõng hàng “máu lửa”... Bây giờ kể lại, chắc nhiều người khó mà tin được một cô gái bé nhỏ lại có thể chất lên mình những gùi hàng nặng đến 60-70kg vượt qua bao dốc cao, suối sâu, bất kể mưa nắng, bất kể mọi nỗi hiểm nguy. Chính tôi, đôi khi nhớ lại cũng không hiểu nổi mình. Nhưng một thời là như thế. Dường như ai cũng làm việc bằng ý chí tinh thần hơn là thực lực của thể xác.

N.T

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm