- Bút ký - Tạp văn
- Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...

Minh họa Nguyễn Văn Đức
Anh Dết đi trước, theo sau là tôi, anh Hùng và anh Dư. Áng chừng cũng đã 7 giờ mà không gian vẫn cứ phân vân một màu sáng - tối.
Khắp Tây Nguyên có lẽ chẳng nơi đâu rừng đậm đặc như xứ KBang này. Trùng trùng những dãy núi xanh ngằn ngặt, cảm giác như chúng không phải mọc từ đất lên mà buông xuống từ biển mây sũng nước. Đã qua ba ngày đường, quanh tôi vẫn ngăn ngắt một màu cây...
Mặc cái cảm giác ngôn ngốt khó chịu cứ chờn vờn trên da thịt, mặc những đám vắt xanh lè hăm hở bật mình tanh tách trên những thảm lá mục lún đến bắp chân, chúng tôi vẫn cứ cắm cúi đi. Đi như trong ảo giác, như trong vô thức, có thế mới quên được chặng đường gian nan dằng dặc này...
Cõng hàng, có thể nói đấy là công việc vất vả, nhọc nhằn vào bậc nhất. Trừ lương thực làm rẫy tự túc, tất cả nhu cầu thiết yếu cho hàng trăm con người ở căn cứ Khu 10 (Gia Lai) - từ thuốc men, mắm muối, vải vóc đến tờ giấy viết đều phải xuống cơ sở dưới Bình Định cõng về. Mỗi chuyến đi phải mất bảy ngày xuống, mười ngày lên. Cứ bình quân mỗi tháng phải đi một lần, bất kể mùa nắng hay mùa mưa. Trừ lãnh đạo và một số anh em làm nhiệm vụ đặc biệt, ai cũng phải thay phiên nhau đi... Sáng tinh mơ, mọi người đã trở dậy nhóm bếp nấu cơm, ăn một nửa, một nửa để lại cho bữa trưa rồi mải miết đi, cho đến lúc màn đêm chập chờn buông xuống mới mắc võng nghỉ lấy sức để sáng mai tiếp tục lên đường... Ngày tiếp ngày, thoảng hoặc mới thấy le lói chút nắng mặt trời, còn thì cứ miên man một màu cây. Thế nhưng mùa khô hãy còn chút ánh sáng ấm áp, mùa mưa vòm trời suốt ngày sũng nước. Những cơn mưa lúc dữ dằn như xối nước, lúc rả rích, dai dẳng, miên man trong cái âm điệu ướt át khiến rừng già chỉ còn mờ ảo trong màu sương xám ngắt. Cái cảm giác nửa nóng, nửa lạnh cứ suốt ngày chờn vờn trên da thịt. Muỗi, vắt, ruồi vàng bấy giờ lại được dịp trỗi lên tác quái. Những bãi vắt lổn nhổn, đen đặc như lúa sạ. Chỉ thoáng thấy hơi người từ xa, chúng đã huơ vòi, bật tanh tách trên lá khô như tằm ăn rỗi. Đối phó với chúng chỉ có cách dùng lá thuốc xanh của đồng bào dân tộc, vò nát xát vào chân, nhưng rồi cũng chẳng xuể được, cứ mặc cho chúng hút no máu rồi tự nhả ra. Đôi khi cả hai chân máu chảy thấm ướt cả ống quần, dẻo quánh cả dép đi...
Rồi thì rắn rết, rồi thú dữ... Đã có những cái chết đầy bi thương bởi điều không ai ngờ tới. Đã bao năm trôi qua, tôi vẫn không thể quên cái chết của anh Trước...Hôm đó chúng tôi đang chuẩn bị xuống cơ sở để nhận hàng thì được tin báo lên tình hình đang căng thẳng. Vậy là phải dựng lán, ém quân lại chờ. Mỗi người mỗi việc, nghĩ anh Trước đang loanh quanh đâu đó nên không ai để ý. Mãi đến khi công việc xong xuôi đã lâu mà chẳng thấy anh đâu, bấy giờ mọi người mới hốt hoảng bổ đi tìm. Lần theo dấu vết, chúng tôi biết chắc anh đã bị cọp vồ, có lẽ là lúc xuống suối chặt cây. Mặc dù ra sức tìm kiếm, hi vọng nhặt nhạnh được chút thi thể của anh nhưng cuối cùng chúng tôi đã không thể... Dù vậy trên tất cả mọi nỗi gian khổ, hiểm nguy thì vẫn là kẻ địch. Mỗi chuyến đi đòi hỏi phải cảnh giác cao độ bởi đụng phải bọn biệt kích hay máy bay ném bom chặn đường là điều có thể xảy ra bất cứ lúc nào... Mỗi chuyến hàng lên được căn cứ phải đánh đổi bằng bao nhiêu gian khổ và hi sinh như thế, nên không ai tiếc sức mình. Mỗi gùi hàng chất lên vai 50-60kg là chuyện bình thường. Riêng tôi, nặng chỉ hơn năm chục cân cũng đã có chuyến cõng được tới bảy chục cân hàng. Mà những chuyến hàng ấy phải lội sông, luồn rừng, vượt qua những con dốc cao thăm thẳm, lại còn phải đi ban đêm, dò dẫm từng bước chân trong bóng tối như bưng lấy mắt...
Tuy nhiên nói tới điều này thì phải nói tới anh Huỳnh Xuân Cát. Anh Cát đã lập nên những kỉ lục mà không ai trong cứ có thể vượt qua: Nhiều chuyến hàng anh cõng tới 1,2 tạ, thậm chí có những chuyến lên tới 1,5 tạ. Cũng bởi những “kỉ lục” ấy mà đã có lần anh suýt chết... Một lần chúng tôi vượt sông Ba đi cõng hàng. Trời mưa to, nước đổ về cuồn cuộn. Chiếc cầu dây chăng qua sông trơn nhẫy, chao đảo mong manh trên dòng nước lũ. Biết tình thế nguy hiểm nhưng hàng lên căn cứ cũng không thể chờ. Anh Cát tiên phong sang trước. Dò dẫm từng bước, mồ hôi đổ giọt vì căng thẳng, qua được hơn nửa cầu vì gùi hàng quá nặng, anh trượt chân chới với không gượng lại được. Vậy là cả hàng lẫn người rơi tõm xuống sông. Thật may là nó đã rơi trúng bãi cát nổi, nếu không chắc hẳn hôm đó anh đã bị dòng nước hung dữ cuốn đi… Không ngại gian khổ hi sinh, tất cả cho những chuyến hàng về căn cứ, với thành tích đó, ba năm liền anh đều đạt danh hiệu “Chiến sĩ thi đua”. Anh em cứ nói vui: Lẽ ra thì ông phải được phong Anh hùng!
Không chỉ để bù lại sự đánh đổi bằng bao nhiêu hi sinh gian khổ, cố thêm gói muối, túi bột ngọt, ai cũng hiểu là sẽ bớt thêm cho anh em trong cứ một chút thiếu thốn, cơ cực. Sau Tết Mậu Thân, tình hình càng ác liệt. Cái ăn bây giờ chủ yếu là dựa vào nguồn tăng gia, sản xuất tại chỗ. Gạo, tiêu chuẩn mỗi bữa ba người một lon mà nhiều khi phải dùng đến thứ dự trữ đã lâu ngày, mốc, mọt xốp xộp, cho nước vào cứ nổi lều phều, bóp mạnh một chút đã vỡ vụn. Nói “cơm độn mì” (sắn) nhưng đúng ra phải nói ngược lại “mì độn cơm”. Mỗi ngày được ăn ba bữa nhưng sáng và tối là bữa chính, còn trưa mỗi người chỉ được hai khúc mì luộc... Thường trực là mì nhưng không có nghĩa là được ăn thả cửa. Để tiết kiệm, rẫy mì nào có “tuổi” hai năm mới được nhổ. Một lần bếp ăn thiếu, chúng tôi lén đi trộm mì của anh em bộ đội, vậy là hôm đó bị lãnh đạo la: “Sao tụi bây lại đi nhổ mì một năm, không tiết kiệm rồi bữa sau lấy gì ăn?”
Cơm nước đã vậy, thức ăn cũng kham khổ không kém. Trừ đôi lần anh em bất chợt săn được thú rừng, đánh lưới được chút cá suối, còn thì quanh năm suốt tháng chỉ lá mì, rau lang nấu với muối pha chút bột ngọt. Có lúc thiếu cả rau, chị nuôi phải chặt chuối rừng lấy lõi, giã ra nấu với muối để đưa cơm... Chúng tôi còn trẻ, dẫu sao cũng có sức chịu đựng, chỉ thương các chú lãnh đạo đã có tuổi, nhất là Bí thư Tỉnh ủy Trần Văn Bình. Là người lãnh đạo cao nhất nhưng ông không bao giờ chịu để anh em ưu tiên cho riêng mình một chút gì. Tới bữa, ông cũng ngồi chung bàn, chung nồi “mì độn cơm”, nồi canh nấu muối với mọi người. Thương ông, nếu hôm nào ông bận phải ăn sau, chúng tôi lại gạt bớt mì, cho cơm nhiều hơn mọi người một chút. Thế nhưng cũng phải khéo léo không được để cơm quá nhiều, nếu không sẽ bị ông la... Có một chuyện mà bây giờ mỗi lúc nhớ lại, lòng tôi vẫn rưng rưng... Lệ thường, cứ mỗi năm vào kì tuốt lúa, anh em sẽ được cơ quan cho ăn thỏa sức hai bữa cơm không độn cho bõ những ngày mài họng với củ mì. Thế nhưng vụ lúa năm 1967, rẫy lúa tăng gia của cơ quan ở Buôn Lới bị địch rải chất độc hóa học. Lúc chúng tôi vào thu hoạch thì lúa đã mềm oặt, rã cả xuống bùn. Tuy nhiên vì tiếc công và tiếc cả hai bữa cơm không độn, mọi người vẫn cố gắng nhặt nhạnh, mong vớt vát được hạt nào hay hạt ấy... Rồi thì cũng được một ít, chúng tôi mừng rơn mang về tíu tít xay giã. Không khí vui nhộn cứ như ngày Tết. Có người đề nghị: “Hôm nay phải nấu mỗi người hai lon thì ăn mới đã.” Người khác gàn: “Có ăn hết không mà... thôi, mỗi người một lon rưỡi vậy!” Cuối cùng thì “quyết nghị” là cứ mỗi người nấu một lon rưỡi. Háo hức quá, ai cũng ngồi chuyện gẫu cho quên đi quãng thời gian đợi chờ đến phút giây hạnh phúc... Nhưng cơm vừa sôi, ai nấy đều khịt mũi. Quái, sao lại có cái mùi gì như thuốc Penicillin bốc ra từ nồi cơm? Bây giờ mọi người mới chợt nghĩ ra: Hẳn là chất độc hóa học đã ngấm vào hạt lúa nên nó mới bốc lên cái mùi kinh khủng ấy! Vừa lúc Bí thư Trần Văn Bình đi qua thấy vậy bèn la: “Đổ nồi cơm đi, tụi bây ăn vào là chết đấy!” Nghe vậy chúng tôi đã toan làm theo lời ông nhưng nghĩ tiếc công và quá thèm nên cứ chần chừ. Cuối cùng thì cái thèm đã lấn át nỗi sợ. Mọi người đều xới cơm ăn một cách ngon lành. Có người còn đùa: “Thôi thì thà chết no còn hơn sống thèm.” Riêng Bí thư, tất nhiên là không thể để ông ăn thứ cơm này được, chị Tuất lấy một lon gạo khác nấu riêng bảo anh Tính mang lên. Nhưng vừa giở nắp ănggô ông đã hỏi ngay: “Sao cơm này lại có mùi khác? Nồi cơm lúc chiều đâu?” Anh Tính thú thật là vì thèm quá, anh em đã lén ăn hết rồi. Nghe vậy ông bật khóc, nghẹn ngào: “Cơm nhiễm chất độc hóa học, tụi bây ăn vào chết thì sao?” Rồi ngồi thừ ra không chịu ăn. Anh Tính phải năn nỉ mãi, lúc lâu sau ông mới chịu cầm đũa. Vừa ăn ông vừa khóc: “Anh em sống chết có nhau, gian khổ sẻ chia cùng nhau, tôi làm sao lại có thể sống khác...”
... Những giọt nắng lọt qua tán cây nhễu xuống đã nhạt màu. Áng chừng cũng đã 3 giờ chiều. Vậy là chúng tôi đã cách sông Côn khá xa. Quãng đường từ đây về cứ tuy còn dài nhưng có thể coi là an toàn. Tôi toan kêu ba anh dừng lại nghỉ chút, thốt nhiên tiếng máy bay từ đâu rền vang trên đầu. Đầu tiên, những chiếc máy bay phản lực rít như xé gió, giội bom liên tục xuống cánh rừng. Tiếp đó lũ trực thăng bay sát ngọn cây, xả đạn như mưa. Cả cánh rừng rung chuyển, cây cối tả tơi như đang trong vòng xoáy của trận cuồng phong. Chẳng biết chúng đã phát hiện ra chúng tôi hay anh em đoàn nào đó đã bị lộ? Sau khoảng nửa giờ bắn phá điên cuồng, tiếng máy bay bỗng im bặt. Cứ nghĩ chúng đã rút thì bỗng từng tràng âm thanh AR15 vọng đến... “Địch đổ quân. Bỏ hàng lại, chạy thoát thân đã!” anh Hùng ra lệnh. Ba anh chạy trước, tôi theo sau. Con dốc cao và dài quá, được một quãng thì tôi đuối sức, cứ tụt lại dần rồi không thấy ba anh đâu nữa. Cây cối dày đặc che khuất, cũng chẳng còn biết các anh chạy hướng nào để theo, trong khi phía sau địch vẫn bắn rát. Hẳn là chúng đã nhìn thấy chúng tôi. Cứ thế này thì chúng sẽ đuổi kịp mình mất - lòng đầy hoang mang và lo sợ, đang chưa biết tính sao thì chợt phát hiện ra phía trước có một cái hang đá. Mừng quá, tôi lập tức chạy tới chui vào. Chưa kịp thở lấy hơi thì bọn địch đã sục tới. Chúng phát loa oang oang: “Hỡi các cán binh Việt Cộng, đừng lẩn trốn vô ích, hãy quay về với chánh nghĩa Quốc gia, các bạn sẽ được đối đãi tử tế...” Ẩn kín sau một tảng đá lớn, tôi nhìn ra thấy bốn, năm tên Mĩ chỉ tay vào hang nói xì xồ gì đó với nhau... Trống ngực tôi đánh thình thịch, hơi thở như tắc nghẹn. Nếu chúng xông vào hang thì sao? Giá có vũ khí trong tay, tôi sẵn sàng liều chết với chúng, nhưng tay không thế này chắc hẳn là phải chịu cho chúng bắt rồi… Quan sát một hồi, hẳn là không thấy dấu vết gì để nghi ngờ, và cũng có thể sợ lỡ có “Việt Cộng” trong hang thì chết uổng mạng, chúng thả mấy trái lựu đạn vào cửa hang thăm dò rồi bỏ đi...
Quá bất ngờ vì sự may mắn đến không tin nổi, chờ một lúc thật lâu, tôi mới dám lần ra cửa hang nghe ngóng. Tiếng súng vẫn còn nổ khá gần. Lũ trực thăng vẫn quần đảo soi mói, như vậy là chúng sẽ ém quân lại tiếp tục lùng sục. Không thể rời hang lúc này được. Vừa bươn bả chạy giặc, vừa căng thẳng thần kinh, bụng đói cồn cào lại thêm cái khát khiến thân thể tôi rã rời. Thôi đành cố chịu, tới đâu hay đó... Ánh ngày tắt dần. Đêm xuống hang tối như bưng lấy mắt. Lạnh quá, tôi ngồi co ro lưng dựa vào vách đá, tay ôm gối sát vào bụng cho đỡ rét. Rồi tôi thiếp đi, chẳng biết được bao lâu thì trời hửng sáng. Lúc này bên cạnh cơn đói như chà xát gan ruột là cái khát. Ngày càng trôi về chiều, cơn khát càng giày vò dữ dội. Miệng dẻo quánh, lưỡi đưa qua lại như không còn cảm giác. Người ta có thể nhịn đói được mươi ngày nhưng nhịn khát thì không quá nổi ba ngày. Tôi biết vậy nhưng ra ngoài tìm nước lúc này rất nguy hiểm. Địch vẫn còn lùng sục, vả chăng chẳng biết hướng nào có nước để tìm. Trong cơn tuyệt vọng, tôi bò ra cửa hang cố quan sát thật kĩ xung quanh. Thì kìa, cách hang không xa lắm có một vạt chuối rừng. “Sống rồi” - tôi thầm reo lên trong tâm trí. Nhưng phải chờ trời tối mới ra đó được... Thời khắc trôi đi chậm chạp ngỡ như qua từng thế kỉ. Trời vừa sẩm tối, biết chắc đây là quãng thời gian an toàn, tôi lần tới vạt chuối chọn những cây nhỏ bẻ ngang thân tước lấy lõi. Thật lắm trầy trật, may là chuối rừng không dai như cây chuối nhà. Mệt lả người, cuối cùng thì tôi cũng tước được một bó để dành cho cả hôm sau nữa. Về tới hang, tôi bẻ vụn từng khúc ruột chuối nhai ngấu nghiến. Nhưng cơn khát dịu đi thì cái đói lại trỗi dậy mạnh hơn, ruột gan càng cồn cào khó chịu. Hẳn là do nước chát trong nõn chuối. Tôi cứ phải liên tục tự động viên mình: “Không chết khát thì không thể chết đói được.” Rồi để quên đi, tôi cố dỗ mình vào giấc ngủ. Nhưng ngủ sao được khi một mình trong hang lạnh lẽo, màn đêm như có thể xắn ra từng miếng mà gan ruột thì cứ như ai lấy tay vò... Sáng ngày thứ tư, tỉnh dậy sau một lúc thiếp đi ngắn ngủi, tôi lắng tai nghe ngóng. Núi rừng bỗng im ắng hẳn. May quá, như vậy là bọn địch đã rút quân. Phải nhanh chóng ra đi. Nhưng biết đi đâu bây giờ, trở lại quê hay lên căn cứ? Cả hai phía đều xa, vả chăng đi một mình tôi không dám. Nhưng không đi thì chắc chắn là chết ở đây không ai biết. Thôi cứ đi, sớm muộn thế nào rồi cũng gặp người của ta...
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Về tới nhà, má tôi nhìn tôi trân trối rồi bỗng khóc òa lên. Tôi đứng ngây ra không hiểu. Thì ra trên cứ nghĩ là tôi chết rồi nên nhắn về cho má. Tin là thật, bà đang làm cơm cúng tôi... Mới kịp an ủi má mấy câu, tiếng súng bỗng rộ lên. Địch đang đi sục. Má tôi vừa kịp đẩy tôi xuống hầm bí mật thì chúng sục tới. Ngồi trong hầm tôi nghe tiếng bước chân của chúng lượn quanh mồn một. Rồi chúng tra vấn má tôi: “Con Hưu nhà bà đi theo Việt Cộng rồi phải không? Mau gọi nó về không có bà lãnh đủ.” Má tôi bình thản trả lời: “Nó đi làm ăn chỗ nào tui đâu có hay. Các ông thấy nó ở đâu thì cứ bắt về mà tra hỏi...” Cứ nghĩ cố nán lại mươi bữa, có anh em nào xuống thì mình theo lên, nào ngờ tình hình căng thẳng vẫn cứ kéo dài. Cứ suốt ngày ăn, thấy động thì lẩn trốn thế này chắc điên đầu mất. Sốt ruột quá, tôi viết liền bốn lá thư nhờ cơ sở nếu có ai xuống thì chuyển cho cơ quan giúp. Thế nhưng ngày tiếp ngày vẫn cứ bặt vô âm tín. Cho mãi đến khi anh Bá xuống lấy hàng, tôi mới liên lạc được và theo lên.
Tính từ ngày đi, vậy là đã bốn tháng trời tôi vắng mặt ở cơ quan. Thấy tôi, ai cũng ngẩn ra như không tin vào mắt mình. Anh Hùng thì ôm chầm lấy tôi mà khóc: “Trời ơi, ba anh em tao trở lại tìm mầy suốt một ngày mà đâu có thấy. Ai cũng đinh ninh mầy chết rồi!” Quả thật là nếu về trễ thêm chút nữa thì tôi đã thấy lễ truy điệu mình đang được cơ quan chuẩn bị tiến hành...
Sau năm 1969, tôi được tổ chức rút về ban Binh vận. Cũng như với mọi anh chị em, thời gian khổ ở căn cứ mỗi ngày là mỗi kỉ niệm. Dẫu sao thì trong muôn vàn kỉ niệm ấy, đáng kể nhất với tôi vẫn là những chuyến đi cõng hàng “máu lửa”... Bây giờ kể lại, chắc nhiều người khó mà tin được một cô gái bé nhỏ lại có thể chất lên mình những gùi hàng nặng đến 60-70kg vượt qua bao dốc cao, suối sâu, bất kể mưa nắng, bất kể mọi nỗi hiểm nguy. Chính tôi, đôi khi nhớ lại cũng không hiểu nổi mình. Nhưng một thời là như thế. Dường như ai cũng làm việc bằng ý chí tinh thần hơn là thực lực của thể xác.
N.T
Nguồn: Báo Văn Nghệ