TIN TỨC

Chuyện về nhà thơ Hoa Níp sau 10 năm rời cõi tạm

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-24 10:42:20
mail facebook google pos stwis
19 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Hoa Nip là nhà thơ trẻ từng tham gia hoạt động trong Ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn TP.HCM do nhà thơ Phan Hoàng làm trưởng ban.   Dù sinh sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng mỗi khi Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức các chuyến đi thực tế, sáng tác anh đều tham gia và hoạt động rất tích cực. Trong quan hệ đồng nghiệp, anh được bạn bè yêu thương, trân quý. Trong sáng tác anh được đánh giá là một nhà văn trẻ giàu triển vọng. Nhưng cuộc đời quả vô thường, năm 2016,  một tai nạn thương tâm xảy ra  đã cướp đi sinh mạng của anh trong sự đau đớn và tiếc thương của gia đình và đồng nghiệp. Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Hoa Nip, Phùng Hiệu xin giới thiệu bài viết của cha anh - tác giả Trần Vinh.

 

Nhà thơ Hoa Níp

 

Chuyện về nhà thơ Hoa Níp sau 10 năm rời cõi tạm

Ai rồi cũng đi qua kiếp người với cách của riêng mình. Có người đó là cuộc rong chơi, có người lại là cuộc vật vã và có người thì như chiếc lá vàng rơi… Còn nhà thơ Hoa Níp đi qua kiếp người giống như một vệt sao băng mang theo bao điều dang dở.

Thế là, đã tròn 10 năm (25/5/2016 - 25/5/2026) Hoa Níp rời xa cõi tạm.

Sự tiếc thương chia sẻ của nhiều người, đặc biệt là những tấm lòng của bạn hữu văn nghệ sĩ dành cho Hoa Níp dường như vượt qua khuôn khổ đời thường. Có lẽ chính sự thấu cảm đó đã giúp cho Hoa Nip phục sinh và gia đình chúng tôi vượt qua được nỗi đau kinh hoàng điên dại.

Nhân dịp tròn 10 năm Hoa Níp đi xa, tôi là Trần Vinh thân sinh của nhà thơ Hoa Níp, xin có những giải bày chia sẻ cùng mọi người.

 

Trần Quang Minh Giảng và bút danh Hoa Níp

Vợ chồng tôi đều là giáo viên dạy văn nên đặt tên con trai đầu lòng là Minh Giảng. Từ năm học lớp 2, Minh Giảng đã biết làm thơ. Lên lớp 3 Minh Giảng từng có thơ đăng báo và có tiền nhuận bút để khao cả nhà. Học đến cấp 2 Minh Giảng tiếp tục làm thơ với bút danh là Phong Khê. Thơ của Phong Khê lúc đó được nhận xét là “rất già dặn”, có những bài nặng trĩu suy tư.

Khi vào Đại học ở thành phố Hồ Chí Minh, Trần Quang Minh Giảng bắt đầu lấy bút danh là Hoa Nip. Nhà thơ Hoa Níp vốn vô cùng đam mê những điều mới lạ, rất thích tìm hiểu về nước Mỹ, nước Anh qua sách báo phim ảnh. Vì đam mê nên Hoa Níp đã lấy tên truyện ngắn “Nàng là nước Mỹ” đặt tên cho bản thảo tập truyện ngắn. Hai tiếng “nước Mỹ” trở thành một tính từ để nói về những giá trị muốn vươn tới. Đối với nước Anh, Hoa Níp cũng thường xuyên tìm đọc và xem những bộ phim của điện ảnh xứ sở sương mù. Mê đến nỗi Hoa Níp đã viết bản thảo tiểu thuyết “Rốc Shakespeare”.

 

Các nhà thơ TP.HCM cùng gia đình viếng mộ nhà thơ Hoa Nip

 

Tuy nhiên, vùng đất xa lạ mà Hoa Níp say đắm nhất chính là “Lục địa đen” nơi có con sông Nile dài nhất thế giới chảy qua. Từ tình yêu và niềm tin mãnh liệt về dòng sông Nile, Hoa Níp tin rằng không có dòng sông Nile sẽ không có nền văn minh Ai Cập cổ đại và cả vùng sa mạc Sahara chỉ là hoang mạc không bóng người. Chính vì vậy mà đất nước Ai Cập có biệt danh “Món quà của sông Nile”. Cảm xúc về hoang mạc - sông Nile - Ai Cập đã mê hoặc Hoa Níp. Sông Nile giúp cho hoang mạc nở hoa. Sông Nile sản sinh ra nền văn minh Ai Cập. Sông Nile là con đường kết nối giữa thực tại với thế giới bên kia nơi có “Cánh đồng lau sậy” - thiên đường cho sự tái sinh. Trong cảm xúc mê hoặc đó, bút danh Hoa Níp đã ra đời. “Hoa” là ba chữ cái đầu của từ “hoang mạc” và cũng có nghĩa bóng là dòng sông nở hoa trên hoang mạc. “Ni” là hai chữ cái đầu của sông Nile, ghép với chữ  “p” cuối của Ai Cập thành ra chữ “HOA NIP”. Bút danh này lúc đầu chỉ là “Hoa Nip” nhưng về sau nhiều người tự thêm dấu sắc vào cho dễ đọc mới thành ra “Hoa Níp”.

 

Quan điểm văn chương của Hoa Níp

Có thể nói Hoa Níp chịu ảnh hưởng lớn nhất về quan điểm sáng tác và cách tân đổi mới văn chương cũng như nhân cách lối sống từ ba nhà thơ nhà văn nổi tiếng là Nguyễn Quang Thiều, Phan Hoàng và Trần Nhã Thuỵ.

Vào năm 2011 trước khi Hoa Níp đi dự Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII, tôi hỏi Hoa Níp:

- Con rất có năng khiếu cả thơ và văn xuôi. Vậy con muốn mình được gọi là nhà thơ hay nhà văn?

Con trai trả lời ngay:

- Nhà thơ bố ạ! Nhà thơ Hoa Níp!

- Vì sao?

- Vì nhiều thứ lắm bố ạ. Nói về nền tảng truyền thống thì từ thời vua Lê Thánh Tông đã có hội Tao Đàn rồi. Được trở thành nhà văn hay nhà thơ đều rất tuyệt vời, tuy nhiên con thích làm nhà thơ hơn là vì nhà thơ luôn được viết ra những cảm xúc, nỗi niềm của chính mình. Viết không có cảm xúc, không thật lòng thì không thành thơ được. Còn nhà văn thì thường tưởng tượng ra cảm xúc của nhân vật, của người khác để mà áp đặt. Người ta cho đó là quyền hư cấu. Con thấy bản chất của sáng tạo thơ và văn khác nhau nhiều lắm.

Khi đó tôi rất vui vì con trai đã có nhận thức rõ ràng để dấn thân vào thế giới thi ca. Và cũng từ hôm đó, tôi bắt đầu trân trọng gọi con trai của mình là “Nhà thơ Hoa Níp”!

 

Gia đình xoay chiều theo Hoa Níp

Bản thân tôi từ khi còn nhỏ cũng đã đam mê văn chương. Vợ chồng tôi lập thân bằng nghề dạy văn. Chúng tôi từng suy ngẫm về câu thơ xưa của thi sĩ Viên Mai: “Lập thân tối hạ thị văn chương” và cũng rất thấu hiểu câu thơ “Cơm áo không đùa với khách thơ” của Xuân Diệu. Đó là sự thật nghiệt ngã giữa việc dấn thân vào văn chương với nỗi lo sinh kế.

Vì vậy vợ chồng tôi chỉ muốn con trai của mình phải có một cái nghề kiếm sống, đủ sức làm trụ cột cho gia đình trước khi dấn thân vào văn chương. Có nền tảng kinh tế thì văn chương càng có điều kiện thăng hoa.

Tuy nhiên, sự đam mê văn chương như một thứ định mệnh mà Hoa Níp không thể cưỡng lại được.

Đến lúc biết chắc Hoa Níp sẽ không đi theo sắp đặt, vợ chồng tôi đành phải “xoay chiều” tạo điều kiện để Hoa Níp theo đuổi sự nghiệp văn chương. Khi mọi sự chuẩn bị cho một nền tảng giúp Hoa Níp được tự do sáng tạo đã sẵn sàng thì bất ngờ tai hoạ ập xuống, tất cả đều dở dang.

 

Thơ Hoa Níp - điềm báo định mệnh

Đối với nhà thơ Hoa Níp thì hiện tượng thơ vận vào người là rất rõ ràng. Khi đang học Đại học tại thành phố Hồ Chí Minh, Hoa Níp đã đoạt giải trong một cuộc thi với bài thơ “Một ngày bình yên”.

 

“Một ngày,

nhặt được nỗi buồn

người ta đánh rớt trên đường đông vui

 

một ngày,

nhặt được tiếng cười

trên môi lũ trẻ mồ côi đánh giày

 

một ngày,

vét được cơn say

từ trong đáy cốc loay hoay gạo tiền

 

một ngày,

nghe được bình yên

trong cơn hoảng loạn, cuồng điên, vội vàng

 

một ngày,

may vội khăn tang

đeo vào trí nhớ để nàng quên tôi…

 

một ngày kia, rất xa xôi”.

 

Vừa đọc bài thơ tôi đã rợn người rồi nói với Hoa Níp: “Thơ khá hay nhưng nên sửa lại mấy câu cuối. Đang bình yên sao lại nỡ “một ngày may vội khăn tang…”?

Hoa Níp cũng nhận ra cái sự bẻ quặt rợn người đó nhưng chẳng hiểu sao lại không sửa được. Thì ra đó chính là điềm báo trong thơ đã vận vào người.

Đến bài thơ “Bao giờ đến được cánh đồng”, Hoa Níp không có ý định đưa bài này vào tập thơ đầu tay. Và không ngờ đó lại là bài thơ dùng để khắc lên phần mộ của Hoa Níp:

“Đời còn lắm cuộc nhiễu nhương

đành thôi nép lại bên đường cho xong

bao giờ đến được cánh đồng

quay đầu nhìn lại bóng hồng phôi pha…”.

Mỗi lần nhìn ngôi mộ của Hoa Níp đã “nép lại bên đường” vợ chồng tôi càng thêm ngậm ngùi. Câu thơ như một lời tiên đoán, trăng trối và buông xuôi. Một sự buông xuôi bất đắc dĩ. Buông xuôi “cho xong”, buông xuôi để tự giải thoát chính mình. Biết bao lần ngồi bên mộ con, tôi đã thầm thì: “Con ơi! Cuộc đời chỉ đưa con đến với bố mẹ chừng đó năm tháng mà thôi. Bây giờ con hãy yên lòng đến với cánh đồng mơ ước của con, đến nơi không còn nhiễu nhương đau khổ. “Bóng hồng” đã “phôi pha” thật rồi con ạ. Sự phôi pha nào mà không đáng tiếc phải không con? Anh Thư, Phùng Vân đành phải lùi vào khoảng lặng của đời; các bạn gái thương mến khác cũng đã cất giấu hình bóng của con vào miền sâu lắng… Hãy yên lòng siêu thoát, con ơi”!

Với Hoa Níp thơ đã vận vào đời. Thơ ẩn chứa những điềm báo rùng mình nhưng không thể nào tránh được.

 

Luận giải về câu thơ độc lạ

Hoa Níp viết bài thơ “Đi cạn chân trời” đúng ngày sinh nhật 2/3/2011. Viết xong hai câu thơ cuối:

“dưới gầm trời có một điều thật nhất

người yêu người như sâu bọ yêu nhau”.

Hoa Níp liền chia sẻ với mẹ: “Chẳng hiểu lấy đâu ra cảm hứng để con viết được một câu thơ như thế”!

Sau khi Hoa Níp rời cõi tạm, không ít người hỏi tôi về ý nghĩa của câu thơ độc lạ này. Tôi hẹn khi nào Hoa Níp tròn 10 năm đi xa thì tôi sẽ viết lại nội dung mà Hoa Níp đã tự luận giải về câu thơ đó.

Theo Hoa Níp, “dưới gầm trời” là tất cả mọi thứ hỉ nộ ái ố. Với một góc nhìn triết lí nhân sinh, không bị pha tạp lãng mạn hoá. Hoa Níp đã lạnh lùng nói ra bản chất sâu xa trần trụi nhất của tình người: “người yêu người như sâu bọ yêu nhau”.

Câu thơ dùng hình ảnh so sánh rất độc lạ tạo nên luồng cảm xúc vừa bất ngờ trần trụi vừa lạnh lùng bạo liệt. Một câu thơ thật lạ lẫm của nhà thơ trẻ.

Tình yêu vốn dĩ là sự gắn kết đồng cảm giữa người với người. Phải chăng loài người đã ngộ nhận những “mặt nạ” phù phiếm đang trộn lẫn trong nhân tình thế thái?

 

Quang cảnh trong buổi lễ ra mắt sách tưởng nhớ nhà thơ Hoa Níp

 

Sâu bọ chỉ là loài côn trùng nhỏ bé, tận cùng của sự yếm thế thua thiệt. Vậy mà được dùng làm hình ảnh ẩn dụ để nói đến thứ đẹp nhất, thật nhất của con người. Sâu bọ không biết diễn, không lãng mạn nhân văn. Chúng yêu nhau trên nền tảng sinh tồn; yêu nhau không sắp đặt toan tính. Tình yêu của con người nếu lột bỏ hết những thứ “không thật” hoa mĩ thì tận cùng cũng chỉ còn lại sự cuốn hút của bản năng sinh tồn như sâu bọ mà thôi.

Có ai dám thừa nhận trong cái sự “người yêu người” vẫn bị thói sang hèn chi phối? Những gì là nguồn cội thì đều là cốt lõi vững bền. Tình yêu thương dù cao đẹp văn hoá đến đâu cũng vẫn mang bản năng tự nhiên của sinh vật. Thực ra tôn vinh tình yêu của con người là tôn vinh thứ tình yêu không toan tính; thứ tình yêu như hơi thở của lẽ tự nhiên; thứ tình yêu của mạch nguồn để mà sinh tồn mãi mãi.

Câu thơ của Hoa Níp như một biểu tượng đầy ám ảnh về tình yêu, tình người. Một biểu tượng vừa có chút phiêu diêu của cõi vô thường vừa định danh được sự chân thành đến tận cùng trong cõi nhân sinh.

Hoa Níp “Đi cạn chân trời” với khát vọng tìm ra sự thuần khiết “dưới gầm trời” nhân sinh. Khi nào tình yêu của con người thật nhất, sạch nhất thì đó mới là thứ tình yêu đẹp nhất.

 

Tấm lòng đến với tấm lòng

Sau tang lễ của Hoa Níp, gia đình tôi và cả nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - một bậc thầy văn chương và cũng như một người cha tinh thần của Hoa Níp, đều mong muốn in ấn hai tác phẩm thơ và truyện của Hoa Níp. Tuy nhiên, các nhà văn trẻ của Hội Nhà văn TPHCM - nơi Hoa Níp luôn gắn bó và có nhiều đóng góp trong gần 7 năm trước khi ra đi đã giành quyền xuất bản. Nhà văn Trần Nhã Thụy - người anh vô cùng thân thiết của Hoa Níp đã bỏ nhiều công sức nhất cho việc hoàn thiện bản thảo, thiết kế và in ấn.

Về kinh phí, tập truyện ngắn “Nàng là nước Mỹ” được Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nơi nhà thơ Hoa Níp là hội viên, tài trợ một phần. Còn tập thơ “Bao giờ đến được cánh đồng” - tên sách đặt theo gợi ý của Phan Hoàng, thì do Quỹ Tình thơ cùng các bạn văn trẻ ở TPHCM chung tay tài trợ. NXB Hội Nhà văn cấp phép hoàn toàn miễn phí. Tập thơ này đã đoạt Tặng thưởng của Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh năm 2016. Tôi nhắc lại việc xuất bản hai tập sách để một lần nữa thay lời tri ân đến bạn hữu văn chương của Hoa Níp - những người thật sự chí tình chí nghĩa.

Bên cạnh nỗi đau kinh hoàng điên dại khi Hoa Níp mất đi, gia đình tôi cũng vô cùng ngỡ ngàng và xúc động trước “làn sóng” tiếc thương của bạn hữu văn chương dành cho Hoa Níp. Hàng loạt bài thơ, bài báo, bài hát rất xúc động đã xuất hiện ngay trong và sau mấy ngày tang lễ. Đồng thời có vô số lời sẻ chia, an ủi động viên đã tràn ngập không gian mạng. Gia đình tôi mãi mãi ghi nhớ tình nghĩa của các nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình, nhà báo, hoạ sĩ, nhạc sĩ và bạn hữu gần xa:

Nguyễn Quang Thiều, Phan Hoàng, Trần Nhã Thuỵ, Trần Văn Tuấn, Phạm Sĩ Sáu, Trầm Hương, Lê Thị Kim, Thu Trân, Trịnh Bích Ngân, Lê Huy Mậu, Phạm Quốc Toàn, Trần Đức Tiến, Vũ Thanh Hoa, Quách Thị Ngọc Thiện, Phùng Hiệu, Trần Huy Minh Phương, Bùi Đế Yên, Hoàng Quý, Châu Hoài Thanh, Lương Xuân Khôi, Văn Công Hùng, Ngô Thảo, Nguyễn Vũ Tiềm, Hoàng Hường, Triệu Từ Truyền, Tô Hoàng, Nguyễn Minh Ngọc, Nguyễn Trí, Xuân Trường, Trương Tri, Phạm Trung Tín, Nguyễn Tiến Toàn, Miên Đức Thắng, Vũ Cẩm, Hữu Đố, Lâm Xuân Thi, Lương Minh Chung, Hoàng Vũ Thuật, Hoàng Thuỵ Anh, Phan Huyền Thư, Hoàng A Sáng, Nguyễn Một, Phạm Phương Lan, Minh Đan, Nguyễn Hoàng Hải, Bình Địa Mộc, Đoàn Đại Trí, Trung Dũng, Nguyễn Sơn, Trần Trung Lĩnh, Ngô Thuý Nga, Bùi Chí Vinh, Trần Hữu Dũng, Lê Minh Quốc, Ngô Đình Hải, Bùi Thanh Truyền, Trần Thanh Hà, Nguyễn Hữu Duyên, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Thiếu Nhơn, Trương Gia Hoà, Hồ Thị Ngọc Hoài, Phạm Phương Lan, Hoà Bình, Trần Hoàng Nhân, Minh Đan, Đoàn Phương Huyền, Ngô Thuý Nga, Phan Duy, Như Trân, Tiểu Vũ, Trần Võ Thành Văn, Chu Ngọc, Hồ Tịnh Văn, Trường Giang…

Đặc biệt còn có các toà soạn báo chí, nhóm Du ca Sài Gòn, nhóm Cà phê Nhà hát, hội Vespa cổ, thầy cô giáo và thân bằng quyến thuộc gần xa đã giúp đỡ động viên chia sẻ cùng gia đình.

Có những sự việc mà mỗi lần nhớ lại tôi vẫn rất xúc động. Đó là nhóm bạn văn chương Văn Công Hùng từ Tây Nguyên đến thắp hương đã ôm lấy mẹ Hoa Níp rồi thốt lên một câu chia sẻ khác lạ, nó như liều thuốc an thần để làm dịu nỗi đau mất con: “Chị là người mẹ thật hạnh phúc, đã sinh ra Hoa Níp”!

Mấy ngày sau, thơ Hoàng Vũ Thuật cùng con gái là nhà thơ Hoàng Thuỵ Anh lặn lội từ Quảng Bình vào Vũng Tàu để thắp hương cho Hoa Níp và động viên gia đình tôi. Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật than thở tiếc nuối cho những tài thơ trẻ đoản mệnh như Hoa Níp, Lãng Thanh… rồi ông cảm thán: “Giá mà những người như tôi thay được lẽ sinh tử, thì tương lai của văn học nước nhà gặt hái được rất nhiều”!

 

“Hoa Níp vẫn sống bên cạnh chúng ta”

Khi Hoa Níp mất đi, gia đình tôi phải chịu nỗi đau buồn khủng khiếp. Có khi bỗng hoảng hốt giật mình đau đớn, có khi lại hụt hẫng chơi vơi như đang bị rơi tự do, mất phương hướng. Vợ chồng tôi lo sợ không đủ sức để sống qua kiếp nạn.

Rồi chúng tôi cũng phải bíu vào những lời an ủi mà sống. Và trong những ngày đã cạn nước mắt thì tôi nhận được lời khuyên chân thành từ nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: “Tôi chưa viết một bài thơ nào khóc ai. Nhưng tôi đã viết thơ khóc Hoa Níp và công khai cho mọi người biết những gì tôi nhìn thấy ở con người Hoa Níp.

Tôi xin anh và gia đình đừng quá đau buồn mãi. Hãy trò chuyện với em nó trong một tinh thần khác, chúng ta sẽ thấy Hoa Níp vẫn sống bên cạnh chúng ta. Đây không phải là một lời động viên. Đây là một sự thật”.

Thế là vợ chồng tôi cùng trò chuyện tâm sự với Hoa Níp “trong một tinh thần khác”. Và rồi chúng tôi cảm nhận được vẫn có Hoa Níp bên cạnh. Hoa Níp vẫn kết nối với bố mẹ, vẫn dẫn dắt che chở cho cả gia đình. Vợ chồng tôi đã được vực dậy để sống tiếp và sống thay cho Hoa Níp.

Đã 10 năm trời, dù nắng hay mưa vợ chồng tôi vẫn đều đặn viếng thăm mộ Hoa Níp. Những ngày cuối tuần, ngày Rằm, mồng Một, ngày lễ tết, sinh nhật hoặc bất cứ lúc nào có nhu cầu trò chuyện là vợ chồng tôi lại đến thăm viếng mộ Hoa Níp. Hình ảnh đôi vợ chồng già đội mưa đội nắng ròng rã trong 10 năm qua đã trở thành hình ảnh quen thuộc của nghĩa trang Long Hương.

Đã 10 năm trời, với hơn 500 lần đi thăm viếng mộ Hoa Níp, nếu tính ra quảng đường thì có lẽ đã dài hơn 10 lần chiều dài đất nước. Đó là chiều dài của tình thương con, mà tình thương con thì không bao giờ vơi cạn.

5/2026

Trần Vinh

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cái đẹp đời thường trong tranh họa sĩ Vũ Dương - Bút ký Trần Trung Sáng
“Vẽ cuộc đời bằng cảm xúc” là chủ đề chương trình giới thiệu cuốn sách tranh của họa sĩ Vũ Dương do Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng phối hợp với Chi hội Mỹ thuật Việt Nam tại Đà Nẵng và gia đình họa sĩ Vũ Dương tổ chức trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua.
Xem thêm
Hành trình lan tỏa tình yêu biển đảo từ những lá cờ Tổ quốc mang dấu Trường Sa
Giữa mênh mông biển trời, lá cờ Tổ quốc tung bay trên các điểm đảo thuộc Quần đảo Trường Sa không chỉ khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam, mà còn nhắc nhở mỗi người dân đất Việt về trách nhiệm gìn giữ biển đảo quê hương bằng những hành động thiết thực, từ những điều giản dị nhất.
Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm