- Bút ký - Tạp văn
- Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).

Bác sĩ Lê Trung Hiếu
Vợ chồng bác sĩ Hiếu rất thân với vợ chồng tôi. Cách đây chưa được chục năm, khi vợ bác sĩ Hiếu còn sống, bán tân dược ở chợ Tràm Chim, bác Hiếu còn làm việc thì năm nào cũng vậy mỗi độ Tết đến - Xuân về, vợ chồng bác sĩ Hiếu đều ghé nhà chúc mừng năm mới vợ chồng tôi và lì xì cho con cháu tôi sau khi tụi nó mừng tuổi vợ chồng bác sĩ Hiếu. Một buổi sáng cuối tuần mới đây, bác sĩ Hiếu ghé nhà thăm được vợ chồng tôi mời điểm tâm. Sau đó là uống cà phê hàn uyên tâm sự, với những câu chuyện còn dang dở trước đây mà ông đã từng kể cho tôi nghe về việc cứu chữa thương, bịnh binh trong cuộc chiến tranh ở vùng biên giới Tây Nam Tổ quốc. Bây giờ, ông lại có dịp tiếp tục kể “câu chuyện năm xưa”. Bởi vì, ông sợ sau này tuổi tác càng cao, trí nhớ không còn minh mẫn như bây giờ nữa (?)…
Ngồi trong quán cà phê có mái che de ra bờ sông Tiền lộng gió của một xã vùng biên viễn, hồi tưởng lại ký ức ngày xưa cách đây gần nửa thế kỷ. Hớp miếng cà phê đá thơm lừng, nhưng lại có vị đắng chát vì không để đường, bác sĩ Hiếu kể: “Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước chưa lâu thì chiến tranh biên giới nổ ra rất khốc liệt. Đội phẫu Quân y tiền phương tỉnh được thành lập, các cán bộ, chiến sĩ quân y Đoàn 7706, Mặt trận 779, Quân khu 7 tiếp tục vác ba lô, khăn gói lên đường tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc thân yêu và làm nhiệm vụ quốc tế cao cả để giúp nước bạn Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng của bọn Ponpot tàn độc, ác ôn”
Tôi chen vào: “Đúng rồi. Đó là nghĩa vụ quốc tế thiêng liêng cao cả, giúp bạn cũng như giúp mình mà!”
Nhìn về hướng biên giới xa xa, với những ngọn cây thốt nốt nhô cao, vươn xòe những cành lá cọ vững chải, bác sĩ Hiếu tiếp lời: “Thời tiết miền biên viễn Tây Nam bộ rất khắc nghiệt. Cái nắng hầm hập cháy cả thịt da, đường xá đi lại rất khó khăn, lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm thiết yếu trong sinh hoạt vô cùng thiếu thốn - nhất là những y cụ, thuốc men khám, chữa bệnh cho thương binh, bịnh binh lại càng thiếu thốn trăm bề. Ở đây, không có nước máy, chỉ sử dụng nước giếng và nước kinh rạch, ao hồ… Vào mùa khô, nguồn nước cạn kiệt. Lấy nước dưới kinh phải xuống con dốc sâu, múc từng xô nước xách lên con dốc thoai thoải trơn trợt, khó nhọc, vất vả vô cùng. Nước kinh đục ngầu màu phù sa chỉ sử dụng cho việc tắm giặt, còn nấu ăn, uống thì phải lắng lọc kỷ lưỡng để đảm bảo vệ sinh”
Tôi đồng cảm: “Thật là cực khổ hả bác sĩ. Chiến tranh sinh - tử mà”
Bác sĩ Hiếu nói: “Chuyện ăn, uống, nước nôi, đường xá… đó là việc sinh hoạt bình thường mỗi ngày; còn việc cứu chữa thương binh, bịnh binh mới đáng nói”.
“Ừ. Rồi sao nữa bác sĩ ?”. Tôi hỏi.
Bác sĩ Hiếu từ tốn: “Tôi còn nhớ một trong các tình huống thử thách ý chí con người vô cùng khắc nghiệt mà tôi tưởng chừng vừa mới xảy ra. Đó là vào những ngày cuối năm 1978 đầu năm 1979, khói lửa chiến tranh nơi miền biên giới diễn ra liên tục. Nhà cửa, ruộng vườn bị lửa đạn thiêu cháy tan hoang; các cán bộ, chiến sĩ ta lớp bị bịnh, lớp bị thương máu me đầy người, rên la thảm thương được chuyển vào Đội phẫu Quân y tiền phương cấp cứu, điều trị. Lúc bấy giờ, Đội phẫu đã đóng đô ở tỉnh Preyveng, Campuchia và được sáp nhập với Quân khu 7, đổi tên là Đại đội quân y, Bệnh xá Đoàn 7706, Mặt trận 779”
Uống cạn ly cà phê đá, rót nước trà vào ly tôi hỏi: “Việc cứu chữa thương binh trong chiến tranh ở Bệnh xá Đoàn có gì đặc biệt mà bác sĩ còn nhớ như in cho tới tận tới bây giờ vậy ?”.
Ánh mắt bác sĩ Hiếu như bừng sáng, ông nói: “Việc này rất đặc biệt và đáng nhớ. Lúc đó, vào khoảng 14 giờ ngày đầu tháng 3/1979, Đội phẫu tiền phương tiếp nhận một thương binh bị đầu đạn M79 của địch bắn cắm vào vai nhưng chưa nổ”.
“Trời. Đàn bắn vào người mà chưa nổ. Vậy là trong cái rủi, có cái hên”. Tôi lên tiếng.
Bác sĩ Hiếu kể tiếp: “Lúc này, tính mạng của người thương binh như “chỉ mành treo chuông”. Không những thế mà những người thầy thuốc quân y như tụi tui cũng bị đe dọa tới tinh mạng”.
Tôi ngạc nhiên: “Ủa, vì sao lại bị đe dọa tới tính mạng vậy bác sĩ?”
Hớp miếng cà phê đá, bác sĩ Hiếu nói: “Không đe dọa tính mạng sao được. Bởi, trong quá trình phẫu thuật cho bịnh nhân nếu không cẩn thận, bác sĩ và cả kíp mổ sẽ bị đầu đạn M79 nổ tung, tiêu tùng!”
Tôi: “Ồ. Quá nguy hiểm!”
Bác sĩ Hiếu kể: “Bác sĩ trực tiếp mổ và anh em trong ê kíp đều biết một nguyên lý là: đầu đạn M79 khi bắn ra khỏi nòng súng sẽ xoay đủ 500 vòng chắc chắn sẽ phát nổ và khi đầu đạn nổ có thể văng tung tóe ra hơn 300 mảnh vụn, với bán kính sát thương tới 5 mét. Nhưng đầu đạn đã cắm vào vai người thương binh ấy không biết đã xoay được bao nhiêu vòng (?). Đây là trường hợp cá biệt nên mọi người đều cân nhắc cẩn thận giữa làn ranh sống và chết. Nhưng bằng mọi giá phải lấy đầu đạn chưa nổ ra cho bằng được! Ê kíp thực hiện ca mổ đó sau khi bàn bạc kỷ lưỡng, quyết định chấp nhận bước vào cuộc mổ “sinh - tử”, vì tính mạng của người thương binh, vì thiêng chức của người thầy thuốc quân hàm xanh “lương y như từ mẫu”.
Nhìn mặt nước Tiền giang lấp lánh ánh bình minh chiếu rọi, bác sĩ Hiếu nói: “Lúc đó, bác sĩ Huỳnh Sang quê ở tỉnh Tiền Giang làm đội trưởng là người mổ chính, y sĩ Trương Văn Thái - phụ mổ, y tá Nguyễn Trung Thành - phụ trách gây mê, y tá Lê Hữu Tâm - phụ trách chuyền y cụ, y tá Võ Văn Chúng - phụ trách băng bó. Trước khi vào ca mổ, bác sĩ Huỳnh Sang trấn an: “Mấy bây hãy bình tĩnh. Nếu ca mổ thất bại thì cùng lắm “tao” chỉ mất có một bàn tay, còn “mấy đứa bây” không có bị hề hấn gì đâu mà sợ!”.
Bác sĩ Hiếu uống cạn ly cà phê đá không đường rồi kể một mạch: “Trấn an mọi người xong, người thương binh được truyền dịch, gây mê nằm sấp trên băng ca rồi khiêng tới để sát một căn nhà tường bỏ hoang. Vách tường ngăn cách hai nhà được đục một lỗ vừa lọt một bàn tay. Đội ngũ y bác sĩ Đội phẫu tiền phương thì chạy bên ngoài núp phía sau ê kíp mổ để làm tạp vụ khi cần. Không gian lặng câm, tất cả chỉ biết hồi hộp chờ đợi và van vái trời phật cho người thương binh và cả ê kíp mổ thành công, an toàn... Trong quá trình mổ, bác sĩ Huỳnh Sang đưa một tay qua bên kia tường, không biết ông ấy làm gì trong khoảng 5 phút, sau thì ông rút tay lại thở phào nhẹ nhỏm, rồi nói rất nhỏ: "An toàn, thành công rồi mấy bây ơi!”. Lúc đó, trên trán và áo mổ của ông ấy ướt đẫm mồ hôi mồ kê. Một người lính quân khí đứng chờ sẵn đi qua bên kia tường, cạnh người thương binh, đưa đôi tay rất nhẹ nhàng bưng một cái hộp nhỏ có chứa đầu đạn M79 màu đồng vàng chói sáng, lớn hơn trứng vịt xiêm một chút; bên dưới có lót một lớp cát cho đầu đạn không lăn qua, lăn lại và đi một mạch ra ngoài xa để tiêu hủy”
Quá bản lĩnh. Quá tuyệt vời. Ly kỳ và hấp dẫn như phim “Mưa đỏ” vậy đó. Tự hào lắm những chiến sĩ quân y tiền phương! Tôi vui vẻ khen. Và như sựt nhớ một điều gì đó, tôi nhắc: “À, lúc trước bác sĩ có kể chuyện dùng nước dừa chế biến dịch truyền cứu chữa thương, bịnh binh. Chuyện này cụ thể ra sao, bác sĩ kể tiếp đi”.
Hình như nghe được câu chuyện của tôi và bác sĩ Hiếu, bà chủ quán cà phê bưng ra một ca nước trà đá miễn phí đặt lên bàn để hai người uống giải khát và trò chuyện tiếp. Nhìn ra con đường láng nhựa phẳng lì cặp bên dòng Tiền giang, xe cộ, người đi bộ qua lại nườm nượp… bác sĩ Hiếu nói: “Bây giờ, giao thông thủy, bộ đi lại, vận chuyển hàng hóa rất thuận tiện. Còn ca nước trà đá mà bà chủ quán đem ra uống giải khát bây giờ thì miễn phí, chứ cách đây gần nửa thế kỷ trước tại vùng biên viễn này là quý hơn vàng!”
Quay sang tôi, bác sĩ Hiếu kể: “Hồi ấy, việc chưng cất nước, pha chế thuốc, dịch truyền tất cả đều làm bằng thủ công, phải gánh nước từ sông lên lắng phèn, lọc tạp chất rồi mới chưng cất nước để pha chế. Sau đó, đem nấu sôi bằng củi hay bếp lò xô dầu lửa. Cái khó khăn, vất vả nhất là mực nước dưới sông và trên bờ có độ dốc gần như thẳng đứng. Để lấy được đôi thùng nước lên đến bờ vô cùng cực nhọc. Còn hệ thống lọc trong pha chế dịch truyền thì rất thô sơ. Mỗi lần pha chế đều phải lọc qua nhiều lớp vải mùng, bông gòn và phải kiểm tra bằng mắt thường coi có cặn trong chai dịch truyền không - nhất là cặn vải. Bông gòn thì càng khó phát hiện tạp chất. Tất cả đều được hấp tiệt trùng cẩn thận, được tiêm truyền hết cho thương, bịnh binh trong ngày. Nếu còn dư, để qua ngày sau cũng phải bỏ hết”.
Bà bán quán cà phê nghe tới đây liền xen vào: “Khó khăn, thiếu thốn trăm bề hé bác sĩ!”
Tôi nói: “Thời buổi chiến tranh loạn lạc mà. Khốn khổ lắm”
Uống miếng trà đá trong ly do tôi rót, bác sĩ Hiếu kể tiếp: “Lúc bấy giờ, một số thuốc, dịch truyền được sản xuất tại chỗ như: Nước cất, thuốc tê, dung dịch Glucose 5%, 10%, dung dịch Natriclorua 0,9%... Hàm lượng pha theo yêu cầu của y bác sĩ đối với từng trường hợp phẫu thuật. Tất cả đều được đựng trong chai sành 500ml, 1.000ml. Và còn pha chế tại chỗ thêm một số thuốc tiêm: Vitamin B1, B6, B12 và dung dịch dùng ngoài như: Nước muối sinh lý rửa vết thương, dung dịch sát khuẩn Povidon iod, thuốc đỏ... Đó lả việc làm hằng ngày, nhưng để an toàn hơn, khi Bệnh xá Đoàn 7706 đóng quân ở tỉnh Preyveng, tôi được cử về Quân khu 7 học lớp pha chế dã chiến cấp tốc trong 7 ngày rồi trở về tiếp tục làm nhiệm vụ, với quy mô lớn hơn cùng hai anh bạn nhập ngũ trước tôi; đó là dược tá Trần Văn Hoàng - quê Lấp Vò, Đồng Tháp và dược tá Lưu Thanh Hòa - quê Lai Vung, Đồng Tháp. Riêng dược tá Hòa ngày ấy còn làm trợ lý Ban Quân y kiêm nhiệm vụ nhận và phân phối thuốc cho các Tiểu đoàn 502 Đồng Tháp, Tiểu đoàn 514 Tiền Giang, Tiểu đoàn 516 Bến Tre, Trung đoàn 320 và các đơn vị trực thuộc Đoàn 7706, mặt trận 779. Thỉnh thoảng bộ phận dược còn cung cấp hỗ trợ nước cất pha tiêm cho bệnh viện tỉnh Prey-veng…”.
Ngừng một chút. Hít một hơi thật sâu, bác sĩ Hiếu tiếp tục kể: “Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Thương, bịnh binh ngày càng đông. Đường xá, phương tiện đi về hậu phương rất khó khăn, cản ngại. Mỗi ngày, không chỉ cung ứng thuốc men cho Đội phẫu mà nhu cầu về dịch truyền, nước cất sử dụng rất lớn nên yêu cầu phải chưng cất nước pha chế tại chỗ liên tục mới đủ phục vụ. Đặc biệt là những lúc cao điểm thương, bịnh binh chuyển về liên tục nên bộ phận Dược phải làm việc cật lực cả ngày lẫn đêm. Nhiều lúc pha chế không kịp phải sử dụng trực tiếp nước dừa xiêm thay dịch truyền cho bịnh nhân. Bác sĩ Huỳnh Sang và y sỹ Thái luôn dặn dò chúng tôi: “Phải lựa những trái dừa vừa ăn, cái dừa chưa cứng cạy. Khi hái dừa phải đem theo sợi dây buộc để hạ buồng dừa từ từ trên cây xuống đất, không để trái dừa rơi hoặc va chạm mạnh, cái dừa sẽ bị bong tróc bên trong thì không truyền được. Thật may là việc pha chế nước cất, dịch truyền thô sơ, nhưng cả quá trình sử dụng lại rất hiệu quả, an toàn, góp phần không nhỏ cho việc cấp cứu, điều trị thương, bịnh binh kịp thời. Duy nhất chỉ một lần xảy ra vụ một thương binh vừa được mổ xong bị lạnh run, không biết có phải do bị sốc dịch truyền hay không (?). Sau lần đó, bác sĩ Nguyễn Bá Thọ - Trưởng Ban Quân Y quy định, mỗi lần pha chế xong một mẻ dịch truyền, trước khi tiêm truyền cho thương, bịnh binh thì chúng tôi bắt buộc phải truyền cho mình trước. Sau khi anh em chúng tôi tự nguyện thử nghiệm truyền dịch an toàn, Quân y mới đem truyền cho thương, bịnh binh. Ngày ấy, y tá gây mê Nguyễn Trung Thành là người thường xuyên tình nguyện làm người thử nghiệm dịch truyền. Việc làm tuy nhỏ bé nhưng mang ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với thương, bịnh binh… Đó là cả một ký ức về chiến tranh biên giới Tây Nam và nghĩa vụ quốc tế cao cả của Đội phẫu tiền phương đã thực hiện mà tôi luôn ghi khắc mãi trong lòng, không bao giờ quên”.

Vợ chồng bác sĩ Lê Trung Hiếu thăm nhà tác giả
Cầm ly trà đá đưa lên miệng “nốc” ừn ực cho đã khát, bác sĩ Hiếu cho biết: “Mới đây, trong dịp gặp mặt đầu Xuân Bính Ngọ 2026 tại nhà anh Mai Minh Chiến - nguyên là dược tá Đội phẫu tiền phương, chúng tôi cũng gặp vợ chồng anh Thành Mọi người ôm nhau, tay bắt mặt mừng, cười nói vui vẻ và tranh nhau kể lại những chuyện “cổ tích”. Anh Thành nhắc: “Hồi đó, mấy thằng bây cứ lôi tao ra truyền dịch thí nghiệm hoài, hên là tao không sao nên bây giờ tao mới khỏe re như “bò kéo xe lên dốc nè”. Các loại dịch truyền này vô cùng cấp thiết, giúp thương binh mau hồi phục lại khối lượng tuần hoàn máu đã mất của cơ thể. Đặc biệt là thích hợp với thương binh mất nhiều máu, bịnh nặng”. Tất cả đều phá lên cười rần rần, rất vui!”
Nghe câu chuyện của bác sĩ Hiếu kể quá sinh động, hấp dẫn, thu hút mà quên mất thời gian trôi qua đã xế trưa. Tôi và bác sĩ Hiếu đứng lên chào bà chủ quán cà phê và cảm ơn ca trà đá miễn phí của chủ quán đãi rồi chia tay ra về mà trong lòng cảm thấy xúc động xen lẫn niềm tự hào.
Hôm nay, bình minh ở một góc trời vùng biên viễn thật đẹp. Những tia nắng xen qua kẽ lá soi xuống mặt nước sông Tiền lấp lánh phù sa đang lửng lờ trôi. Cuộc chiến tranh khốc liệt mới đó đã trôi qua gần nửa thế kỷ rồi. Thời gian như: “bóng câu qua cửa sổ”. Những người lính Đội phẫu tiền phương ngày ấy, hiện giờ có người đã mất như: bác sĩ Huỳnh Sang trực tiếp phẫu thuật lấy đầu đạn M79 cho thương binh và y tá Võ Văn Chúng; người còn sống thì hơn nửa mái đầu đã bạc trắng như bông tuyết. Nhắc những câu chuyện một thời gian khổ, một thời bom đạn chiến tranh ác liệt, một thời tuổi trẻ cống hiến, sáng tạo, bản lĩnh và đầy tinh thần trách nhiệm để giành lại sự sống cho các thương, bịnh binh… để thế hệ trẻ ngày nay tự hào về ông cha ta, dân tộc ta đã anh dũng can trường, thể hiện tinh thần lao động sáng tạo, ý chí quật cường trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh khó khăn, khắc nghiệt nhất. Dù thiếu thốn, khó khăn, vất vả, nhưng ý chí, nghị lực, bản lĩnh vững vàn, không chùn bước, không bỏ cuộc và đong đầy niềm tin, tinh thần miệt mài lao động, sáng tạo để cứu người lúc nguy cấp là vô cùng quý báu…
Thế hệ trẻ hôm nay và mai sau hãy tiếp tục noi gương, phát huy tinh thần sáng tạo, nghĩa khí cao quý, nghĩa tình cao cả, vượt lên chính mình trong khó khăn, vất vả để sống, cống hiến, học tập, sáng tạo theo tấm gương anh hùng của thế hệ đi trước bằng chính bản lĩnh và nghị lực của bản thân.
T.T.T