TIN TỨC

Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-12 07:03:57
mail facebook google pos stwis
728 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).

 

Bác sĩ Lê Trung Hiếu

 

Vợ chồng bác sĩ Hiếu rất thân với vợ chồng tôi. Cách đây chưa được chục năm, khi vợ bác sĩ Hiếu còn sống, bán tân dược ở chợ Tràm Chim, bác Hiếu còn làm việc thì năm nào cũng vậy mỗi độ Tết đến - Xuân về, vợ chồng bác sĩ Hiếu đều ghé nhà chúc mừng năm mới vợ chồng tôi và lì xì cho con cháu tôi sau khi tụi nó mừng tuổi vợ chồng bác sĩ Hiếu. Một buổi sáng cuối tuần mới đây, bác sĩ Hiếu ghé nhà thăm được vợ chồng tôi mời điểm tâm. Sau đó là uống cà phê hàn uyên tâm sự, với những câu chuyện còn dang dở trước đây mà ông đã từng kể cho tôi nghe về việc cứu chữa thương, bịnh binh trong cuộc chiến tranh ở vùng biên giới Tây Nam Tổ quốc. Bây giờ, ông lại có dịp tiếp tục kể “câu chuyện năm xưa”. Bởi vì, ông sợ sau này tuổi tác càng cao, trí nhớ không còn minh mẫn như bây giờ nữa (?)…

Ngồi trong quán cà phê có mái che de ra bờ sông Tiền lộng gió của một xã vùng biên viễn, hồi tưởng lại ký ức ngày xưa cách đây gần nửa thế kỷ. Hớp miếng cà phê đá thơm lừng, nhưng lại có vị đắng chát vì không để đường, bác sĩ Hiếu kể: “Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước chưa lâu thì chiến tranh biên giới nổ ra rất khốc liệt. Đội phẫu Quân y tiền phương tỉnh được thành lập, các cán bộ, chiến sĩ quân y Đoàn 7706, Mặt trận 779, Quân khu 7 tiếp tục vác ba lô, khăn gói lên đường tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc thân yêu và làm nhiệm vụ quốc tế cao cả để giúp nước bạn Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng của bọn Ponpot tàn độc, ác ôn”

Tôi chen vào: “Đúng rồi. Đó là nghĩa vụ quốc tế thiêng liêng cao cả, giúp bạn cũng như giúp mình mà!”

Nhìn về hướng biên giới xa xa, với những ngọn cây thốt nốt nhô cao, vươn xòe những cành lá cọ vững chải, bác sĩ Hiếu tiếp lời: “Thời tiết miền biên viễn Tây Nam bộ rất khắc nghiệt. Cái nắng hầm hập cháy cả thịt da, đường xá đi lại rất khó khăn, lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm thiết yếu trong sinh hoạt vô cùng thiếu thốn - nhất là những y cụ, thuốc men khám, chữa bệnh cho thương binh, bịnh binh lại càng thiếu thốn trăm bề. Ở đây, không có nước máy, chỉ sử dụng nước giếng và nước kinh rạch, ao hồ… Vào mùa khô, nguồn nước cạn kiệt. Lấy nước dưới kinh phải xuống con dốc sâu, múc từng xô nước xách lên con dốc thoai thoải trơn trợt, khó nhọc, vất vả vô cùng. Nước kinh đục ngầu màu phù sa chỉ sử dụng cho việc tắm giặt, còn nấu ăn, uống thì phải lắng lọc kỷ lưỡng để đảm bảo vệ sinh”

Tôi đồng cảm: “Thật là cực khổ hả bác sĩ. Chiến tranh sinh - tử mà”

Bác sĩ Hiếu nói: “Chuyện ăn, uống, nước nôi, đường xá… đó là việc sinh hoạt bình thường mỗi ngày; còn việc cứu chữa thương binh, bịnh binh mới đáng nói”.

“Ừ. Rồi sao nữa bác sĩ ?”. Tôi hỏi.

Bác sĩ Hiếu từ tốn: “Tôi còn nhớ một trong các tình huống thử thách ý chí con người vô cùng khắc nghiệt mà tôi tưởng chừng vừa mới xảy ra. Đó là vào những ngày cuối năm 1978 đầu năm 1979, khói lửa chiến tranh nơi miền biên giới diễn ra liên tục. Nhà cửa, ruộng vườn bị lửa đạn thiêu cháy tan hoang; các cán bộ, chiến sĩ ta lớp bị bịnh, lớp bị thương máu me đầy người, rên la thảm thương được chuyển vào Đội phẫu Quân y tiền phương cấp cứu, điều trị. Lúc bấy giờ, Đội phẫu đã đóng đô ở tỉnh Preyveng, Campuchia và được sáp nhập với Quân khu 7, đổi tên là Đại đội quân y, Bệnh xá Đoàn 7706, Mặt trận 779”

Uống cạn ly cà phê đá, rót nước trà vào ly tôi hỏi: “Việc cứu chữa thương binh trong chiến tranh ở Bệnh xá Đoàn có gì đặc biệt mà bác sĩ còn nhớ như in cho tới tận tới bây giờ vậy ?”.

Ánh mắt bác sĩ Hiếu như bừng sáng, ông nói: “Việc này rất đặc biệt và đáng nhớ. Lúc đó, vào khoảng 14 giờ ngày đầu tháng 3/1979, Đội phẫu tiền phương tiếp nhận một thương binh bị đầu đạn M79 của địch bắn cắm vào vai nhưng chưa nổ”.

“Trời. Đàn bắn vào người mà chưa nổ. Vậy là trong cái rủi, có cái hên”. Tôi lên tiếng.

Bác sĩ Hiếu kể tiếp: “Lúc này, tính mạng của người thương binh như “chỉ mành treo chuông”. Không những thế mà những người thầy thuốc quân y như tụi tui cũng bị đe dọa tới tinh mạng”.

Tôi ngạc nhiên: “Ủa, vì sao lại bị đe dọa tới tính mạng vậy bác sĩ?”

Hớp miếng cà phê đá, bác sĩ Hiếu nói: “Không đe dọa tính mạng sao được. Bởi, trong quá trình phẫu thuật cho bịnh nhân nếu không cẩn thận, bác sĩ và cả kíp mổ sẽ bị đầu đạn M79 nổ tung, tiêu tùng!”

Tôi: “Ồ. Quá nguy hiểm!”

Bác sĩ Hiếu kể: “Bác sĩ trực tiếp mổ và anh em trong ê kíp đều biết một nguyên lý là: đầu đạn M79 khi bắn ra khỏi nòng súng sẽ xoay đủ 500 vòng chắc chắn sẽ phát nổ và khi đầu đạn nổ có thể văng tung tóe ra hơn 300 mảnh vụn, với bán kính sát thương tới 5 mét. Nhưng đầu đạn đã cắm vào vai người thương binh ấy không biết đã xoay được bao nhiêu vòng (?). Đây là trường hợp cá biệt nên mọi người đều cân nhắc cẩn thận giữa làn ranh sống và chết. Nhưng bằng mọi giá phải lấy đầu đạn chưa nổ ra cho bằng được! Ê kíp thực hiện ca mổ đó sau khi bàn bạc kỷ lưỡng, quyết định chấp nhận bước vào cuộc mổ “sinh - tử”, vì tính mạng của người thương binh, vì thiêng chức của người thầy thuốc quân hàm xanh “lương y như từ mẫu”.

Nhìn mặt nước Tiền giang lấp lánh ánh bình minh chiếu rọi, bác sĩ Hiếu nói: “Lúc đó, bác sĩ Huỳnh Sang quê ở tỉnh Tiền Giang làm đội trưởng là người mổ chính, y sĩ Trương Văn Thái - phụ mổ, y tá Nguyễn Trung Thành - phụ trách gây mê, y tá Lê Hữu Tâm - phụ trách chuyền y cụ, y tá Võ Văn Chúng - phụ trách băng bó. Trước khi vào ca mổ, bác sĩ Huỳnh Sang trấn an: “Mấy bây hãy bình tĩnh. Nếu ca mổ thất bại thì cùng lắm “tao” chỉ mất có một bàn tay, còn “mấy đứa bây” không có bị hề hấn gì đâu mà sợ!”.

Bác sĩ Hiếu uống cạn ly cà phê đá không đường rồi kể một mạch: “Trấn an mọi người xong, người thương binh được truyền dịch, gây mê nằm sấp trên băng ca rồi khiêng tới để sát một căn nhà tường bỏ hoang. Vách tường ngăn cách hai nhà được đục một lỗ vừa lọt một bàn tay. Đội ngũ y bác sĩ Đội phẫu tiền phương thì chạy bên ngoài núp phía sau ê kíp mổ để làm tạp vụ khi cần. Không gian lặng câm, tất cả chỉ biết hồi hộp chờ đợi và van vái trời phật cho người thương binh và cả ê kíp mổ thành công, an toàn... Trong quá trình mổ, bác sĩ Huỳnh Sang đưa một tay qua bên kia tường, không biết ông ấy làm gì trong khoảng 5 phút, sau thì ông rút tay lại thở phào nhẹ nhỏm, rồi nói rất nhỏ: "An toàn, thành công rồi mấy bây ơi!”. Lúc đó, trên trán và áo mổ của ông ấy ướt đẫm mồ hôi mồ kê. Một người lính quân khí đứng chờ sẵn đi qua bên kia tường, cạnh người thương binh, đưa đôi tay rất nhẹ nhàng bưng một cái hộp nhỏ có chứa đầu đạn M79 màu đồng vàng chói sáng, lớn hơn trứng vịt xiêm một chút; bên dưới có lót một lớp cát cho đầu đạn không lăn qua, lăn lại và đi một mạch ra ngoài xa để tiêu hủy”

Quá bản lĩnh. Quá tuyệt vời. Ly kỳ và hấp dẫn như phim “Mưa đỏ” vậy đó. Tự hào lắm những chiến sĩ quân y tiền phương! Tôi vui vẻ khen. Và như sựt nhớ một điều gì đó, tôi nhắc: “À, lúc trước bác sĩ có kể chuyện dùng nước dừa chế biến dịch truyền cứu chữa thương, bịnh binh. Chuyện này cụ thể ra sao, bác sĩ kể tiếp đi”.

Hình như nghe được câu chuyện của tôi và bác sĩ Hiếu, bà chủ quán cà phê bưng ra một ca nước trà đá miễn phí đặt lên bàn để hai người uống giải khát và trò chuyện tiếp. Nhìn ra con đường láng nhựa phẳng lì cặp bên dòng Tiền giang, xe cộ, người đi bộ qua lại nườm nượp… bác sĩ Hiếu nói: “Bây giờ, giao thông thủy, bộ đi lại, vận chuyển hàng hóa rất thuận tiện. Còn ca nước trà đá mà bà chủ quán đem ra uống giải khát bây giờ thì miễn phí, chứ cách đây gần nửa thế kỷ trước tại vùng biên viễn này là quý hơn vàng!”

Quay sang tôi, bác sĩ Hiếu kể: “Hồi ấy, việc chưng cất nước, pha chế thuốc, dịch truyền tất cả đều làm bằng thủ công, phải gánh nước từ sông lên lắng phèn, lọc tạp chất rồi mới chưng cất nước để pha chế. Sau đó, đem nấu sôi bằng củi hay bếp lò xô dầu lửa. Cái khó khăn, vất vả nhất là mực nước dưới sông và trên bờ có độ dốc gần như thẳng đứng. Để lấy được đôi thùng nước lên đến bờ vô cùng cực nhọc. Còn hệ thống lọc trong pha chế dịch truyền thì rất thô sơ. Mỗi lần pha chế đều phải lọc qua nhiều lớp vải mùng, bông gòn và phải kiểm tra bằng mắt thường coi có cặn trong chai dịch truyền không - nhất là cặn vải. Bông gòn thì càng khó phát hiện tạp chất. Tất cả đều được hấp tiệt trùng cẩn thận, được tiêm truyền hết cho thương, bịnh binh trong ngày. Nếu còn dư, để qua ngày sau cũng phải bỏ hết”.

Bà bán quán cà phê nghe tới đây liền xen vào: “Khó khăn, thiếu thốn trăm bề hé bác sĩ!”

Tôi nói: “Thời buổi chiến tranh loạn lạc mà. Khốn khổ lắm”

Uống miếng trà đá trong ly do tôi rót, bác sĩ Hiếu kể tiếp: “Lúc bấy giờ, một số thuốc, dịch truyền được sản xuất tại chỗ như: Nước cất, thuốc tê, dung dịch Glucose 5%, 10%, dung dịch Natriclorua 0,9%... Hàm lượng pha theo yêu cầu của y bác sĩ đối với từng trường hợp phẫu thuật. Tất cả đều được đựng trong chai sành 500ml, 1.000ml. Và còn pha chế tại chỗ thêm một số thuốc tiêm: Vitamin B1, B6, B12 và dung dịch dùng ngoài như: Nước muối sinh lý rửa vết thương, dung dịch sát khuẩn Povidon iod, thuốc đỏ... Đó lả việc làm hằng ngày, nhưng để an toàn hơn, khi Bệnh xá Đoàn 7706 đóng quân ở tỉnh Preyveng, tôi được cử về Quân khu 7 học lớp pha chế dã chiến cấp tốc trong 7 ngày rồi trở về tiếp tục làm nhiệm vụ, với quy mô lớn hơn cùng hai anh bạn nhập ngũ trước tôi; đó là dược tá Trần Văn Hoàng - quê Lấp Vò, Đồng Tháp và dược tá Lưu Thanh Hòa - quê Lai Vung, Đồng Tháp. Riêng dược tá Hòa ngày ấy còn làm trợ lý Ban Quân y kiêm nhiệm vụ nhận và phân phối thuốc cho các Tiểu đoàn 502 Đồng Tháp, Tiểu đoàn 514 Tiền Giang, Tiểu đoàn 516 Bến Tre, Trung đoàn 320 và các đơn vị trực thuộc Đoàn 7706, mặt trận 779. Thỉnh thoảng bộ phận dược còn cung cấp hỗ trợ nước cất pha tiêm cho bệnh viện tỉnh Prey-veng…”.

Ngừng một chút. Hít một hơi thật sâu, bác sĩ Hiếu tiếp tục kể: “Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Thương, bịnh binh ngày càng đông. Đường xá, phương tiện đi về hậu phương rất khó khăn, cản ngại. Mỗi ngày, không chỉ cung ứng thuốc men cho Đội phẫu mà nhu cầu về dịch truyền, nước cất sử dụng rất lớn nên yêu cầu phải chưng cất nước pha chế tại chỗ liên tục mới đủ phục vụ. Đặc biệt là những lúc cao điểm thương, bịnh binh chuyển về liên tục nên bộ phận Dược phải làm việc cật lực cả ngày lẫn đêm. Nhiều lúc pha chế không kịp phải sử dụng trực tiếp nước dừa xiêm thay dịch truyền cho bịnh nhân. Bác sĩ Huỳnh Sang và y sỹ Thái luôn dặn dò chúng tôi: “Phải lựa những trái dừa vừa ăn, cái dừa chưa cứng cạy. Khi hái dừa phải đem theo sợi dây buộc để hạ buồng dừa từ từ trên cây xuống đất, không để trái dừa rơi hoặc va chạm mạnh, cái dừa sẽ bị bong tróc bên trong thì không truyền được. Thật may là việc pha chế nước cất, dịch truyền thô sơ, nhưng cả quá trình sử dụng lại rất hiệu quả, an toàn, góp phần không nhỏ cho việc cấp cứu, điều trị thương, bịnh binh kịp thời. Duy nhất chỉ một lần xảy ra vụ một thương binh vừa được mổ xong bị lạnh run, không biết có phải do bị sốc dịch truyền hay không (?). Sau lần đó, bác sĩ Nguyễn Bá Thọ - Trưởng Ban Quân Y quy định, mỗi lần pha chế xong một mẻ dịch truyền, trước khi tiêm truyền cho thương, bịnh binh thì chúng tôi bắt buộc phải truyền cho mình trước. Sau khi anh em chúng tôi tự nguyện thử nghiệm truyền dịch an toàn, Quân y mới đem truyền cho thương, bịnh binh. Ngày ấy, y tá gây mê Nguyễn Trung Thành là người thường xuyên tình nguyện làm người thử nghiệm dịch truyền. Việc làm tuy nhỏ bé nhưng mang ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với thương, bịnh binh… Đó là cả một ký ức về chiến tranh biên giới Tây Nam và nghĩa vụ quốc tế cao cả của Đội phẫu tiền phương đã thực hiện mà tôi luôn ghi khắc mãi trong lòng, không bao giờ quên”.

 

Vợ chồng bác sĩ Lê Trung Hiếu thăm nhà tác giả

 

Cầm ly trà đá đưa lên miệng “nốc” ừn ực cho đã khát, bác sĩ Hiếu cho biết: “Mới đây, trong dịp gặp mặt đầu Xuân Bính Ngọ 2026 tại nhà anh Mai Minh Chiến - nguyên là dược tá Đội phẫu tiền phương, chúng tôi cũng gặp vợ chồng anh Thành Mọi người ôm nhau, tay bắt mặt mừng, cười nói vui vẻ và tranh nhau kể lại những chuyện “cổ tích”. Anh Thành nhắc: “Hồi đó, mấy thằng bây cứ lôi tao ra truyền dịch thí nghiệm hoài, hên là tao không sao nên bây giờ tao mới khỏe re như “bò kéo xe lên dốc nè”. Các loại dịch truyền này vô cùng cấp thiết, giúp thương binh mau hồi phục lại khối lượng tuần hoàn máu đã mất của cơ thể. Đặc biệt là thích hợp với thương binh mất nhiều máu, bịnh nặng”. Tất cả đều phá lên cười rần rần, rất vui!”

Nghe câu chuyện của bác sĩ Hiếu kể quá sinh động, hấp dẫn, thu hút  mà quên mất thời gian trôi qua đã xế trưa. Tôi và bác sĩ Hiếu đứng lên chào bà chủ quán cà phê và cảm ơn ca trà đá miễn phí của chủ quán đãi rồi chia tay ra về mà trong lòng cảm thấy xúc động xen lẫn niềm tự hào.

Hôm nay, bình minh ở một góc trời vùng biên viễn thật đẹp. Những tia nắng xen qua kẽ lá soi xuống mặt nước sông Tiền lấp lánh phù sa đang lửng lờ trôi. Cuộc chiến tranh khốc liệt mới đó đã trôi qua gần nửa thế kỷ  rồi. Thời gian như: “bóng câu qua cửa sổ”. Những người lính Đội phẫu tiền phương ngày ấy, hiện giờ có người đã mất như: bác sĩ Huỳnh Sang trực tiếp phẫu thuật lấy đầu đạn M79 cho thương binh và y tá Võ Văn Chúng; người còn sống thì hơn nửa mái đầu đã bạc trắng như bông tuyết. Nhắc những câu chuyện một thời gian khổ, một thời bom đạn chiến tranh ác liệt, một thời tuổi trẻ cống hiến, sáng tạo, bản lĩnh và đầy tinh thần trách nhiệm để giành lại sự sống cho các thương, bịnh binh… để thế hệ trẻ ngày nay tự hào về ông cha ta, dân tộc ta đã anh dũng can trường, thể hiện tinh thần lao động sáng tạo, ý chí quật cường trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh khó khăn, khắc nghiệt nhất. Dù thiếu thốn, khó khăn, vất vả, nhưng ý chí, nghị lực, bản lĩnh vững vàn, không chùn bước, không bỏ cuộc và đong đầy niềm tin, tinh thần miệt mài lao động, sáng tạo để cứu người lúc nguy cấp là vô cùng quý báu…

Thế hệ trẻ hôm nay và mai sau hãy tiếp tục noi gương, phát huy tinh thần sáng tạo, nghĩa khí cao quý, nghĩa tình cao cả, vượt lên chính mình trong khó khăn, vất vả để sống, cống hiến, học tập, sáng tạo theo tấm gương anh hùng của thế hệ đi trước bằng chính bản lĩnh và nghị lực của bản thân.

T.T.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hòn Chồng ngày trở lại
Tôi rời Hòn Chồng, mang theo một chút nắng chiều và một miền ký ức đã ngủ yên gần 60 năm. Những cục đá vẫn còn đó, biển vẫn xanh, chỉ có người trở lại là đã khác xưa nhiều lắm.
Xem thêm
Hà Nội và nỗi niềm hoa sữa – Tản văn Đào Thị Thu Hiền
Nhớ đến những mùa hoa Hà Nội, những người yêu mảnh đất này không thể không nhắc đến mùa hoa sữa. Đó là một mùa hoa nhưng cũng có thể gọi về cả mùa thơ, mùa nhạc khiến cho đất trời thủ đô khoảnh khắc cuối thu chầm chậm sang đông bỗng trở nên rạo rực, thao thức, nồng nàn với những vấn vương bởi cái hương thơm ngọt ngào, đằm sâu, quyến rũ đang dịu dàng gửi vào trong gió. Mùi hương ấy làm cho bao bước chân qua không khỏi ngập ngừng như thể đang bị níu lại. Có lẽ vì thế mà loài hoa này, từ lâu, đã được xem là tình yêu và nỗi nhớ của người Hà Nội.
Xem thêm
Kiến nghị lấy ngày 27/7 làm ngày Quốc giỗ
Tôi quan niệm rằng sự hy sinh của những người con đất Việt không bị giới hạn bởi một thời đại, một cuộc chiến tranh hay một thế hệ. Tất cả những người đã hy sinh vì độc lập, tự do và sự trường tồn của đất nước đều xứng đáng được các thế hệ hôm nay và mai sau tưởng nhớ. Bởi vậy, khi bàn về Ngày Quốc giỗ, cần phân biệt rõ giữa việc lựa chọn một ngày tưởng niệm chung và việc bảo đảm sự tri ân đối với từng đối tượng, từng giai đoạn lịch sử. Hai việc này không nhất thiết loại trừ nhau.
Xem thêm
Những người đi qua Trường Sơn – 55 năm một lời hẹn
Bài đăng Đặc san của Hội Nhà báo TPHCM chào mừng Đại hội Hội Nhà báo TPHCM
Xem thêm
Về bến Lộc An
Bài đăng báo Cựu chiến binh Việt Nam
Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm