TIN TỨC

Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-12 07:03:57
mail facebook google pos stwis
14 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).

 

Bác sĩ Lê Trung Hiếu

 

Vợ chồng bác sĩ Hiếu rất thân với vợ chồng tôi. Cách đây chưa được chục năm, khi vợ bác sĩ Hiếu còn sống, bán tân dược ở chợ Tràm Chim, bác Hiếu còn làm việc thì năm nào cũng vậy mỗi độ Tết đến - Xuân về, vợ chồng bác sĩ Hiếu đều ghé nhà chúc mừng năm mới vợ chồng tôi và lì xì cho con cháu tôi sau khi tụi nó mừng tuổi vợ chồng bác sĩ Hiếu. Một buổi sáng cuối tuần mới đây, bác sĩ Hiếu ghé nhà thăm được vợ chồng tôi mời điểm tâm. Sau đó là uống cà phê hàn uyên tâm sự, với những câu chuyện còn dang dở trước đây mà ông đã từng kể cho tôi nghe về việc cứu chữa thương, bịnh binh trong cuộc chiến tranh ở vùng biên giới Tây Nam Tổ quốc. Bây giờ, ông lại có dịp tiếp tục kể “câu chuyện năm xưa”. Bởi vì, ông sợ sau này tuổi tác càng cao, trí nhớ không còn minh mẫn như bây giờ nữa (?)…

Ngồi trong quán cà phê có mái che de ra bờ sông Tiền lộng gió của một xã vùng biên viễn, hồi tưởng lại ký ức ngày xưa cách đây gần nửa thế kỷ. Hớp miếng cà phê đá thơm lừng, nhưng lại có vị đắng chát vì không để đường, bác sĩ Hiếu kể: “Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước chưa lâu thì chiến tranh biên giới nổ ra rất khốc liệt. Đội phẫu Quân y tiền phương tỉnh được thành lập, các cán bộ, chiến sĩ quân y Đoàn 7706, Mặt trận 779, Quân khu 7 tiếp tục vác ba lô, khăn gói lên đường tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc thân yêu và làm nhiệm vụ quốc tế cao cả để giúp nước bạn Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng của bọn Ponpot tàn độc, ác ôn”

Tôi chen vào: “Đúng rồi. Đó là nghĩa vụ quốc tế thiêng liêng cao cả, giúp bạn cũng như giúp mình mà!”

Nhìn về hướng biên giới xa xa, với những ngọn cây thốt nốt nhô cao, vươn xòe những cành lá cọ vững chải, bác sĩ Hiếu tiếp lời: “Thời tiết miền biên viễn Tây Nam bộ rất khắc nghiệt. Cái nắng hầm hập cháy cả thịt da, đường xá đi lại rất khó khăn, lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm thiết yếu trong sinh hoạt vô cùng thiếu thốn - nhất là những y cụ, thuốc men khám, chữa bệnh cho thương binh, bịnh binh lại càng thiếu thốn trăm bề. Ở đây, không có nước máy, chỉ sử dụng nước giếng và nước kinh rạch, ao hồ… Vào mùa khô, nguồn nước cạn kiệt. Lấy nước dưới kinh phải xuống con dốc sâu, múc từng xô nước xách lên con dốc thoai thoải trơn trợt, khó nhọc, vất vả vô cùng. Nước kinh đục ngầu màu phù sa chỉ sử dụng cho việc tắm giặt, còn nấu ăn, uống thì phải lắng lọc kỷ lưỡng để đảm bảo vệ sinh”

Tôi đồng cảm: “Thật là cực khổ hả bác sĩ. Chiến tranh sinh - tử mà”

Bác sĩ Hiếu nói: “Chuyện ăn, uống, nước nôi, đường xá… đó là việc sinh hoạt bình thường mỗi ngày; còn việc cứu chữa thương binh, bịnh binh mới đáng nói”.

“Ừ. Rồi sao nữa bác sĩ ?”. Tôi hỏi.

Bác sĩ Hiếu từ tốn: “Tôi còn nhớ một trong các tình huống thử thách ý chí con người vô cùng khắc nghiệt mà tôi tưởng chừng vừa mới xảy ra. Đó là vào những ngày cuối năm 1978 đầu năm 1979, khói lửa chiến tranh nơi miền biên giới diễn ra liên tục. Nhà cửa, ruộng vườn bị lửa đạn thiêu cháy tan hoang; các cán bộ, chiến sĩ ta lớp bị bịnh, lớp bị thương máu me đầy người, rên la thảm thương được chuyển vào Đội phẫu Quân y tiền phương cấp cứu, điều trị. Lúc bấy giờ, Đội phẫu đã đóng đô ở tỉnh Preyveng, Campuchia và được sáp nhập với Quân khu 7, đổi tên là Đại đội quân y, Bệnh xá Đoàn 7706, Mặt trận 779”

Uống cạn ly cà phê đá, rót nước trà vào ly tôi hỏi: “Việc cứu chữa thương binh trong chiến tranh ở Bệnh xá Đoàn có gì đặc biệt mà bác sĩ còn nhớ như in cho tới tận tới bây giờ vậy ?”.

Ánh mắt bác sĩ Hiếu như bừng sáng, ông nói: “Việc này rất đặc biệt và đáng nhớ. Lúc đó, vào khoảng 14 giờ ngày đầu tháng 3/1979, Đội phẫu tiền phương tiếp nhận một thương binh bị đầu đạn M79 của địch bắn cắm vào vai nhưng chưa nổ”.

“Trời. Đàn bắn vào người mà chưa nổ. Vậy là trong cái rủi, có cái hên”. Tôi lên tiếng.

Bác sĩ Hiếu kể tiếp: “Lúc này, tính mạng của người thương binh như “chỉ mành treo chuông”. Không những thế mà những người thầy thuốc quân y như tụi tui cũng bị đe dọa tới tinh mạng”.

Tôi ngạc nhiên: “Ủa, vì sao lại bị đe dọa tới tính mạng vậy bác sĩ?”

Hớp miếng cà phê đá, bác sĩ Hiếu nói: “Không đe dọa tính mạng sao được. Bởi, trong quá trình phẫu thuật cho bịnh nhân nếu không cẩn thận, bác sĩ và cả kíp mổ sẽ bị đầu đạn M79 nổ tung, tiêu tùng!”

Tôi: “Ồ. Quá nguy hiểm!”

Bác sĩ Hiếu kể: “Bác sĩ trực tiếp mổ và anh em trong ê kíp đều biết một nguyên lý là: đầu đạn M79 khi bắn ra khỏi nòng súng sẽ xoay đủ 500 vòng chắc chắn sẽ phát nổ và khi đầu đạn nổ có thể văng tung tóe ra hơn 300 mảnh vụn, với bán kính sát thương tới 5 mét. Nhưng đầu đạn đã cắm vào vai người thương binh ấy không biết đã xoay được bao nhiêu vòng (?). Đây là trường hợp cá biệt nên mọi người đều cân nhắc cẩn thận giữa làn ranh sống và chết. Nhưng bằng mọi giá phải lấy đầu đạn chưa nổ ra cho bằng được! Ê kíp thực hiện ca mổ đó sau khi bàn bạc kỷ lưỡng, quyết định chấp nhận bước vào cuộc mổ “sinh - tử”, vì tính mạng của người thương binh, vì thiêng chức của người thầy thuốc quân hàm xanh “lương y như từ mẫu”.

Nhìn mặt nước Tiền giang lấp lánh ánh bình minh chiếu rọi, bác sĩ Hiếu nói: “Lúc đó, bác sĩ Huỳnh Sang quê ở tỉnh Tiền Giang làm đội trưởng là người mổ chính, y sĩ Trương Văn Thái - phụ mổ, y tá Nguyễn Trung Thành - phụ trách gây mê, y tá Lê Hữu Tâm - phụ trách chuyền y cụ, y tá Võ Văn Chúng - phụ trách băng bó. Trước khi vào ca mổ, bác sĩ Huỳnh Sang trấn an: “Mấy bây hãy bình tĩnh. Nếu ca mổ thất bại thì cùng lắm “tao” chỉ mất có một bàn tay, còn “mấy đứa bây” không có bị hề hấn gì đâu mà sợ!”.

Bác sĩ Hiếu uống cạn ly cà phê đá không đường rồi kể một mạch: “Trấn an mọi người xong, người thương binh được truyền dịch, gây mê nằm sấp trên băng ca rồi khiêng tới để sát một căn nhà tường bỏ hoang. Vách tường ngăn cách hai nhà được đục một lỗ vừa lọt một bàn tay. Đội ngũ y bác sĩ Đội phẫu tiền phương thì chạy bên ngoài núp phía sau ê kíp mổ để làm tạp vụ khi cần. Không gian lặng câm, tất cả chỉ biết hồi hộp chờ đợi và van vái trời phật cho người thương binh và cả ê kíp mổ thành công, an toàn... Trong quá trình mổ, bác sĩ Huỳnh Sang đưa một tay qua bên kia tường, không biết ông ấy làm gì trong khoảng 5 phút, sau thì ông rút tay lại thở phào nhẹ nhỏm, rồi nói rất nhỏ: "An toàn, thành công rồi mấy bây ơi!”. Lúc đó, trên trán và áo mổ của ông ấy ướt đẫm mồ hôi mồ kê. Một người lính quân khí đứng chờ sẵn đi qua bên kia tường, cạnh người thương binh, đưa đôi tay rất nhẹ nhàng bưng một cái hộp nhỏ có chứa đầu đạn M79 màu đồng vàng chói sáng, lớn hơn trứng vịt xiêm một chút; bên dưới có lót một lớp cát cho đầu đạn không lăn qua, lăn lại và đi một mạch ra ngoài xa để tiêu hủy”

Quá bản lĩnh. Quá tuyệt vời. Ly kỳ và hấp dẫn như phim “Mưa đỏ” vậy đó. Tự hào lắm những chiến sĩ quân y tiền phương! Tôi vui vẻ khen. Và như sựt nhớ một điều gì đó, tôi nhắc: “À, lúc trước bác sĩ có kể chuyện dùng nước dừa chế biến dịch truyền cứu chữa thương, bịnh binh. Chuyện này cụ thể ra sao, bác sĩ kể tiếp đi”.

Hình như nghe được câu chuyện của tôi và bác sĩ Hiếu, bà chủ quán cà phê bưng ra một ca nước trà đá miễn phí đặt lên bàn để hai người uống giải khát và trò chuyện tiếp. Nhìn ra con đường láng nhựa phẳng lì cặp bên dòng Tiền giang, xe cộ, người đi bộ qua lại nườm nượp… bác sĩ Hiếu nói: “Bây giờ, giao thông thủy, bộ đi lại, vận chuyển hàng hóa rất thuận tiện. Còn ca nước trà đá mà bà chủ quán đem ra uống giải khát bây giờ thì miễn phí, chứ cách đây gần nửa thế kỷ trước tại vùng biên viễn này là quý hơn vàng!”

Quay sang tôi, bác sĩ Hiếu kể: “Hồi ấy, việc chưng cất nước, pha chế thuốc, dịch truyền tất cả đều làm bằng thủ công, phải gánh nước từ sông lên lắng phèn, lọc tạp chất rồi mới chưng cất nước để pha chế. Sau đó, đem nấu sôi bằng củi hay bếp lò xô dầu lửa. Cái khó khăn, vất vả nhất là mực nước dưới sông và trên bờ có độ dốc gần như thẳng đứng. Để lấy được đôi thùng nước lên đến bờ vô cùng cực nhọc. Còn hệ thống lọc trong pha chế dịch truyền thì rất thô sơ. Mỗi lần pha chế đều phải lọc qua nhiều lớp vải mùng, bông gòn và phải kiểm tra bằng mắt thường coi có cặn trong chai dịch truyền không - nhất là cặn vải. Bông gòn thì càng khó phát hiện tạp chất. Tất cả đều được hấp tiệt trùng cẩn thận, được tiêm truyền hết cho thương, bịnh binh trong ngày. Nếu còn dư, để qua ngày sau cũng phải bỏ hết”.

Bà bán quán cà phê nghe tới đây liền xen vào: “Khó khăn, thiếu thốn trăm bề hé bác sĩ!”

Tôi nói: “Thời buổi chiến tranh loạn lạc mà. Khốn khổ lắm”

Uống miếng trà đá trong ly do tôi rót, bác sĩ Hiếu kể tiếp: “Lúc bấy giờ, một số thuốc, dịch truyền được sản xuất tại chỗ như: Nước cất, thuốc tê, dung dịch Glucose 5%, 10%, dung dịch Natriclorua 0,9%... Hàm lượng pha theo yêu cầu của y bác sĩ đối với từng trường hợp phẫu thuật. Tất cả đều được đựng trong chai sành 500ml, 1.000ml. Và còn pha chế tại chỗ thêm một số thuốc tiêm: Vitamin B1, B6, B12 và dung dịch dùng ngoài như: Nước muối sinh lý rửa vết thương, dung dịch sát khuẩn Povidon iod, thuốc đỏ... Đó lả việc làm hằng ngày, nhưng để an toàn hơn, khi Bệnh xá Đoàn 7706 đóng quân ở tỉnh Preyveng, tôi được cử về Quân khu 7 học lớp pha chế dã chiến cấp tốc trong 7 ngày rồi trở về tiếp tục làm nhiệm vụ, với quy mô lớn hơn cùng hai anh bạn nhập ngũ trước tôi; đó là dược tá Trần Văn Hoàng - quê Lấp Vò, Đồng Tháp và dược tá Lưu Thanh Hòa - quê Lai Vung, Đồng Tháp. Riêng dược tá Hòa ngày ấy còn làm trợ lý Ban Quân y kiêm nhiệm vụ nhận và phân phối thuốc cho các Tiểu đoàn 502 Đồng Tháp, Tiểu đoàn 514 Tiền Giang, Tiểu đoàn 516 Bến Tre, Trung đoàn 320 và các đơn vị trực thuộc Đoàn 7706, mặt trận 779. Thỉnh thoảng bộ phận dược còn cung cấp hỗ trợ nước cất pha tiêm cho bệnh viện tỉnh Prey-veng…”.

Ngừng một chút. Hít một hơi thật sâu, bác sĩ Hiếu tiếp tục kể: “Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Thương, bịnh binh ngày càng đông. Đường xá, phương tiện đi về hậu phương rất khó khăn, cản ngại. Mỗi ngày, không chỉ cung ứng thuốc men cho Đội phẫu mà nhu cầu về dịch truyền, nước cất sử dụng rất lớn nên yêu cầu phải chưng cất nước pha chế tại chỗ liên tục mới đủ phục vụ. Đặc biệt là những lúc cao điểm thương, bịnh binh chuyển về liên tục nên bộ phận Dược phải làm việc cật lực cả ngày lẫn đêm. Nhiều lúc pha chế không kịp phải sử dụng trực tiếp nước dừa xiêm thay dịch truyền cho bịnh nhân. Bác sĩ Huỳnh Sang và y sỹ Thái luôn dặn dò chúng tôi: “Phải lựa những trái dừa vừa ăn, cái dừa chưa cứng cạy. Khi hái dừa phải đem theo sợi dây buộc để hạ buồng dừa từ từ trên cây xuống đất, không để trái dừa rơi hoặc va chạm mạnh, cái dừa sẽ bị bong tróc bên trong thì không truyền được. Thật may là việc pha chế nước cất, dịch truyền thô sơ, nhưng cả quá trình sử dụng lại rất hiệu quả, an toàn, góp phần không nhỏ cho việc cấp cứu, điều trị thương, bịnh binh kịp thời. Duy nhất chỉ một lần xảy ra vụ một thương binh vừa được mổ xong bị lạnh run, không biết có phải do bị sốc dịch truyền hay không (?). Sau lần đó, bác sĩ Nguyễn Bá Thọ - Trưởng Ban Quân Y quy định, mỗi lần pha chế xong một mẻ dịch truyền, trước khi tiêm truyền cho thương, bịnh binh thì chúng tôi bắt buộc phải truyền cho mình trước. Sau khi anh em chúng tôi tự nguyện thử nghiệm truyền dịch an toàn, Quân y mới đem truyền cho thương, bịnh binh. Ngày ấy, y tá gây mê Nguyễn Trung Thành là người thường xuyên tình nguyện làm người thử nghiệm dịch truyền. Việc làm tuy nhỏ bé nhưng mang ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với thương, bịnh binh… Đó là cả một ký ức về chiến tranh biên giới Tây Nam và nghĩa vụ quốc tế cao cả của Đội phẫu tiền phương đã thực hiện mà tôi luôn ghi khắc mãi trong lòng, không bao giờ quên”.

 

Vợ chồng bác sĩ Lê Trung Hiếu thăm nhà tác giả

 

Cầm ly trà đá đưa lên miệng “nốc” ừn ực cho đã khát, bác sĩ Hiếu cho biết: “Mới đây, trong dịp gặp mặt đầu Xuân Bính Ngọ 2026 tại nhà anh Mai Minh Chiến - nguyên là dược tá Đội phẫu tiền phương, chúng tôi cũng gặp vợ chồng anh Thành Mọi người ôm nhau, tay bắt mặt mừng, cười nói vui vẻ và tranh nhau kể lại những chuyện “cổ tích”. Anh Thành nhắc: “Hồi đó, mấy thằng bây cứ lôi tao ra truyền dịch thí nghiệm hoài, hên là tao không sao nên bây giờ tao mới khỏe re như “bò kéo xe lên dốc nè”. Các loại dịch truyền này vô cùng cấp thiết, giúp thương binh mau hồi phục lại khối lượng tuần hoàn máu đã mất của cơ thể. Đặc biệt là thích hợp với thương binh mất nhiều máu, bịnh nặng”. Tất cả đều phá lên cười rần rần, rất vui!”

Nghe câu chuyện của bác sĩ Hiếu kể quá sinh động, hấp dẫn, thu hút  mà quên mất thời gian trôi qua đã xế trưa. Tôi và bác sĩ Hiếu đứng lên chào bà chủ quán cà phê và cảm ơn ca trà đá miễn phí của chủ quán đãi rồi chia tay ra về mà trong lòng cảm thấy xúc động xen lẫn niềm tự hào.

Hôm nay, bình minh ở một góc trời vùng biên viễn thật đẹp. Những tia nắng xen qua kẽ lá soi xuống mặt nước sông Tiền lấp lánh phù sa đang lửng lờ trôi. Cuộc chiến tranh khốc liệt mới đó đã trôi qua gần nửa thế kỷ  rồi. Thời gian như: “bóng câu qua cửa sổ”. Những người lính Đội phẫu tiền phương ngày ấy, hiện giờ có người đã mất như: bác sĩ Huỳnh Sang trực tiếp phẫu thuật lấy đầu đạn M79 cho thương binh và y tá Võ Văn Chúng; người còn sống thì hơn nửa mái đầu đã bạc trắng như bông tuyết. Nhắc những câu chuyện một thời gian khổ, một thời bom đạn chiến tranh ác liệt, một thời tuổi trẻ cống hiến, sáng tạo, bản lĩnh và đầy tinh thần trách nhiệm để giành lại sự sống cho các thương, bịnh binh… để thế hệ trẻ ngày nay tự hào về ông cha ta, dân tộc ta đã anh dũng can trường, thể hiện tinh thần lao động sáng tạo, ý chí quật cường trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh khó khăn, khắc nghiệt nhất. Dù thiếu thốn, khó khăn, vất vả, nhưng ý chí, nghị lực, bản lĩnh vững vàn, không chùn bước, không bỏ cuộc và đong đầy niềm tin, tinh thần miệt mài lao động, sáng tạo để cứu người lúc nguy cấp là vô cùng quý báu…

Thế hệ trẻ hôm nay và mai sau hãy tiếp tục noi gương, phát huy tinh thần sáng tạo, nghĩa khí cao quý, nghĩa tình cao cả, vượt lên chính mình trong khó khăn, vất vả để sống, cống hiến, học tập, sáng tạo theo tấm gương anh hùng của thế hệ đi trước bằng chính bản lĩnh và nghị lực của bản thân.

T.T.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm