- Bút ký - Tạp văn
- Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Thương binh Nguyễn Văn Hữu
Đưa tôi xem những tờ giấy chứng nhận dũng sĩ đã bị úa vàng, mực in lem luốt và mờ nét chữ… theo thời gian, thương binh Hữu vừa chỉ tay vào từng tờ giấy chứng nhận vừa kể lại từng chiến công mà mình đã chiến đấu với kẻ thù như mới vừa xảy ra, với những trận đánh tiêu biểu. Vào tháng 1/1968 trong một trận chống càng ác liệt với kẻ thù tại kênh ông Bường, xã An Thạnh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An, ông Nguyễn Văn Hữu đã trực tiếp bắn rơi một chiếc trực thăng chở 15 tên Mỹ và tiêu diệt 10 tên. Còn trong đợt 1 cuộc tổng tấn công vào Sài Gòn Tết Mậu Thân năm 1968 trên đường Hậu Giang, Quận 6, ông Hữu đã bắn cháy 2 xe tăng địch, tiêu diệt 6 tên Mỹ… Đến tháng 1/1969, trong một trận chống càng tại xã Bình Đức, huyện Bến Lức, ông Hữu tiếp tục bắn rơi một chiếc trực thăng, tiêu diệt 17 tên Mỹ. Trong trận đánh thọc sâu vào sân Lễ khánh thành xã Bình Định loại A của địch tại chợ Tân Bửu, xã Tân Bửu, huyện Bến Lức vào tháng 10/1970, ông Hữu tiêu diệt 27 tên Nguỵ và chỉ huy bẻ gãy kế hoạch hành quân của địch. Và trong Chiến dịch Nguyễn Huệ trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An năm 1972, ông Hữu tiếp tục tiêu diệt 5 tên Nguỵ… Với thành tích trên, nhiều người rất kính nể và thán phục trước tấm gương chỉ huy tài tình và chiến đấu gan dạ của thương binh Nguyễn Văn Hữu (SN 1948) nên lúc bấy giờ, ông Hữu đã được Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trao tặng 8 lần danh hiệu cao quý gồm các giấy Chứng nhận “Dũng sĩ diệt máy bay cấp 3 năm 1968, 1969”, Chứng nhận “Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 1, cấp 2 năm 1968, 1969”, Chứng nhận “Dũng sĩ Quyết thắng cấp 3 năm 1969”, Chứng nhận “Dũng sĩ diệt Cơ giới” và Chứng nhận “Dũng sĩ diệt Nguỵ ưu tú”!
Trò chuyện thâm tình, thương binh Nguyễn Văn Hữu không ngần ngại trao cho tôi cuốn lý lịch để minh chứng xác thực cho quá trình cống hiến xương trắng máu đào của bản thân mình góp phần cho quê hương, đất nước được độc lập tự do ấm no và hạnh phúc… Lật xem từng trang lý lịch, tôi được biế, ông Nguyễn Văn Hữu sớm giác ngộ Cách mạng, thoát ly gia đình đầu năm 1964 gia nhập Bộ đội Cụ Hồ chiến đấu chống giặc. Qua 5 năm chiến đấu, đến ngày 7/4/1969, ông Hữu vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và được giữ chức Trung đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 6, Phân khu 2. Sau đó, ông Hữu vừa Chỉ huy - vừa cùng đồng đội tham chiến rất ác liệt và lập nhiều chiến công hiển hách làm quân thù khiếp sợ. Ông Hữu bồi hồi nhớ lại: “Tôi tham gia đánh nhiều trận rất khốc liệt và bị thương rất nặng. Một phần cơ thể bỏ lại chiến trường như: Gãy xương đùi, lủng phổi, đứt 4 đoạn ruột và vết thương đặc biệt nặng là viên đạn đại liên xuyên qua cột sống cùng nhiều thương tích khác nữa… Bị thương quá nặng, tôi bất tỉnh nên bị giặc bắt. Khi tỉnh lại thấy mình đang nằm trong nhà thương của giặc. Nhờ Hiệp định Paris nên tôi được trao trả trở về với đồng đội, với Đảng Cộng sản quang vinh và tiếp tục điều trị, an dưỡng tại tỉnh Bình Định rồi chuyển ra miền Bắc an dưỡng, trị bệnh tại tỉnh Hà Bắc. Sức khoẻ dần hồi phục, tôi cùng đồng đội hành quân về miền Nam tiếp tục chiến đấu. Dù bị thương nặng, nhưng đổi lại là tôi đã tiêu diệt 57 tên Mỹ, Bắn rơi 2 máy bay trực thăng chở 30 tên Mỹ và tiêu diệt 32 tên lính Ngụy trên địa bàn tỉnh Long An. Trong trận Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, đánh vào Nội ô Sài Gòn 3 đợt, tôi đã bắn cháy 2 xe tăng, diệt 6 tên Mỹ và 5 tên lính chư Hầu Bắc Chung Hy (Hàn Quốc bây giờ). Tính chung là 100 tên Mỹ, Ngụy và Lính Chư Hầu... Và tôi rất vinh dự cùng đơn vị C 54Q thuộc Bộ Tổng tham mưu tham chiến và giải phóng thị xã Buôn Mê Thuộc. Ngày 10/3/1975, tôi cùng đơn vị tiếp tục hành quân về miền Nam và được Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh chỉ thị cùng Quân đoàn 4 (mũi phía bắc) phối hợp đánh thẳng vào nội đô tiếp quản Sài Gòn ngày 30/4/1975”
Sau giải phóng, ông Hữu phục vụ tác chiến cho Quân đoàn 4 và tiếp quản Quận 5. Sau đó, được phân công làm giáo viên Cải huấn Hạ sĩ quan, binh sĩ nguỵ tại tỉnh Long An rồi làm Đại Đội trưởng Huyện đội Bến Lức rồi được chuyển về huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp công tác và giữ nhiều chức vụ lãnh đạo chủ chốt ở đây. Trong quá trình công tác tại huyện Tam Nông dù những vết thương trong cơ thể luôn hoành hành, gây đau nhức mỗi khi trái gió trở trời, nhưng thương binh Hữu vẫn chịu đựng, giữ vững phẩm chất cao quý của “Bộ đội Cụ Hồ” và luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Tháng 3/2012, ông Hữu chuyển gia đình về huyện Bến Lức, tỉnh Long An (cũ) sinh sống tới nay có địa danh mới là ấp Bến Lức 2, xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh. Người thân, bạn bè, động đội và Nhân dân rất tự hào, kính nể và thán phục trước tấm gương sáng trong chiến đấu chống giặc và công tác nhiệt tình trong thời bình của thương binh Nguyễn Văn Hữu.

Nguyên Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân cùng các lãnh đạo đến thăm thương binh Nguyễn Văn Hữu
Suốt quá trình cống hiến công sức, tài trí; hy sinh xương trắng, máu đào cho sự nghiệp Cách mạng, ông Hữu đã được Đảng và Nhà nước tặng tưởng nhiều Huân chương, Huy Chương, Huy hiệu, Danh hiệu cao quý và nhiều Bằng khen, Giấy khen… Nổi bật là Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng ba; Huân chương Kháng chiến hạng ba; Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì và ba; Kỷ niệm chương Chiến sĩ Cách mạng bị địch bắt, tù đày; Huy hiệu 30 năm, 40 năm, 45 năm, 50 năm và 55 năm tuổi Đảng… Lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc Hội, Nhà nước và các Bộ, Ngành Trung Ương… cũng đã trực tiếp đến nhà thăm hỏi sức khoẻ, tình hình cuộc sống và tặng quà động viên ông Hữu trong các dịp Chào mừng Lễ kỷ niệm lớn và ngày Tết… Ông Nguyễn Văn Hữu phấn khởi cho biết: “Nhân dịp dự họp mặt Lễ kỷ niệm 50 năm giải phóng Sài Gòn, trong không khí đầy tự hào đó, mọi tầng lớp Nhân dân, từ già - trẻ - trai - gái, đặc biệt là các sinh viên, học sinh kể cả trẻ em và du khách nước ngoài đều rất ngưỡng mộ những Cựu chiến Binh chúng tôi. Mọi người thể hiện cử chỉ tôn kính, chào đón nghiêm trang và xưng hô đầy thiện cảm, xin chụp hình chung để làm kỷ niệm... Bản thân tôi rất xúc động, vinh dự và tự hào!”
Tại Nhà Bảo tàng, Thư viện Long An, tỉnh Tây Ninh; khu Di tích Bến Dược, thành phố Hồ Chí Minh; Nhà lưu niệm những kỷ vật chiến tranh của Huyện đội Bến Lức hiện đang lưu giữ, trưng bày những kỷ vật lịch sử trong chiến tranh của thương binh Nguyễn Văn Hữu do ông trao tặng, với mục đích giáo dục truyền thống tinh thần yêu nước, tự hào và tự tôn dân tộc cho thế hệ mai sau. Ông Hữu bày tỏ: “Tôi rất tự hào vì đã đóng góp một phần xương máu của mình để chiến đấu giành lấy độc lập tự do cho dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Và càng tự hào hơn khi sống trong một đất nước hoà bình và đổi mới từng ngày, giang san được sắp xếp tinh gọn, quê hương phát triển khởi sắc. Tệ nạn xã hội đã bị đẩy lùi. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, an toàn giao thông, an ninh mạng… luôn được giữ vững ổn định, người dân an tâm sản xuất kinh doanh phát triển kinh tế gia đình, vươn lên khá giàu... “sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới”. Một đất nước Việt Nam thời bình đang phát triển và thật đáng sống!”
Chị Bùi Thị Việt An - con dâu ông Nguyễn Văn Hữu xúc động bày tỏ từ tận đáy lòng mình: “Có những điều con chưa từng nói hết thành lời, nhưng luôn khắc sâu trong trí nhớ về người ba chồng mà con kính trọng bằng tất cả tình cảm chân thành của mình. Ba là một người lính! Không chỉ là một người lính bình thường mà là người lính đã đi qua những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh, mang trên mình những vết thương không bao giờ lành hẳn. Ba một thương binh nặng hạng 1/4, đã mất 81% sức khỏe, đó không chỉ là con số, mà là biết bao đau đớn, mất mát mà ba đã phải gánh chịu. Nhưng ba chưa từng than vãn. Ba vẫn sống, vẫn kiên cường, vẫn là chỗ dựa vững chắc cho gia đình. Con chưa từng nghĩ có ngày mình được chạm vào lịch sử gần đến vậy không phải qua những trang sách khô khan mà qua lời kể với chất giọng hào sảng của ba, một nhân chứng sống, mộc mạc mà ấm áp. Ba kể, trong từng câu chuyện, cả một thời bom đạn hiện lên dữ dội mà hào hùng. Mỗi câu chuyện như đưa con trở về những năm tháng bom đạn lịch sử ấy. Có những câu chuyện về ba mà mỗi lần nghe lại, con không khỏi xúc động và tự hào. Trong một trận đánh ác liệt ở Cần Đước - Long An, ba bị địch bắn rơi từ trên cây xuống một bụi lát, bị thương rất nặng - lòi ruột ra ngoài. Giữa lằn ranh sinh tử, khi một người đồng đội quay lại ôm lấy ba, tìm cách đưa ba rời khỏi nơi nguy hiểm, thì ba lại kêu chú ấy rút lui, để mặc ba ở lại. Không chỉ vậy, ba còn trao lại cây súng duy nhất của mình cho đồng đội như gửi lại cơ hội sống, cơ hội chiến đấu cho người khác. Một quyết định mà không phải ai cũng có thể làm được. Lúc đó, con nhớ đến câu “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Trong tay ba lúc đó vẫn còn một quả lựu đạn. Ba đã sẵn sàng, nếu địch tiến lại gần, ba sẽ rút chốt… chấp nhận hy sinh để không rơi vào tay địch, để bảo vệ đồng đội và giữ trọn khí tiết của một người lính. Nhưng do vết thương quá nặng, gãy đùi, thủng phổi, đứt ruột… ba ngất liệm, rồi ba bị bắt. Những ngày sau đó là những trận tra tấn tàn khốc mà ba phải chịu đựng. Con không thể hình dung hết những đau đớn mà ba đã trải qua, chỉ biết rằng ba vẫn không khuất phục, không phản bội đồng đội, không phản bội Tổ quốc. Sự kiên cường ấy khiến con vô cùng kính phục. Con luôn tự hào khi được làm con dâu của ba. Người đã trực tiếp tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn, góp phần mang lại hòa bình cho đất nước. Những gì ba đã trải qua không chỉ là ký ức cá nhân, mà là một phần của lịch sử. Con rất ngạc nhiên với rất nhiều huân chương, dũng sỹ và hàng loạt bằng khen mà ba được trao tặng… Nhưng hơn tất cả, điều khiến con kính trọng ba chính là con người của ba trong cuộc sống thường ngày. Người Đảng viên 57 tuổi Đảng. Dù mang thương tật nặng nề, ba vẫn luôn sống giản dị, mạnh mẽ và đầy trách nhiệm. Ba yêu thương gia đình, quan tâm con cháu và luôn là tấm gương về nghị lực sống! Ba có thể không nói nhiều về những năm tháng đã qua, nhưng với con, mỗi câu chuyện của ba đều là những bài học lớn. Con luôn trân trọng và biết ơn vì được làm con dâu của ba, được sống trong gia đình mình. Cảm ơn ba vì những hy sinh thầm lặng cho đất nước. Cảm ơn ba đã vượt qua tất cả”.
Thật vinh dự và tự hào với tấm gương “hy sinh thầm lặng”, sống đẹp của thương binh Nguyễn Văn Hữu để thế hệ con cháu học tập, noi theo.
T.T.T