TIN TỨC

Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-06-08 18:48:28
mail facebook google pos stwis
1314 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

 

Thương binh Nguyễn Văn Hữu

 

Đưa tôi xem những tờ giấy chứng nhận dũng sĩ đã bị úa vàng, mực in lem luốt và mờ nét chữ… theo thời gian, thương binh Hữu vừa chỉ tay vào từng tờ giấy chứng nhận vừa kể lại từng chiến công mà mình đã chiến đấu với kẻ thù như mới vừa xảy ra, với những trận đánh tiêu biểu. Vào tháng 1/1968 trong một trận chống càng ác liệt với kẻ thù tại kênh ông Bường, xã An Thạnh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An, ông Nguyễn Văn Hữu đã trực tiếp bắn rơi một chiếc trực thăng chở 15 tên Mỹ và tiêu diệt 10 tên. Còn trong đợt 1 cuộc tổng tấn công vào Sài Gòn Tết Mậu Thân năm 1968 trên đường Hậu Giang, Quận 6, ông Hữu đã bắn cháy 2 xe tăng địch, tiêu diệt 6 tên Mỹ… Đến tháng 1/1969, trong một trận chống càng tại xã Bình Đức, huyện Bến Lức, ông Hữu tiếp tục bắn rơi một chiếc trực thăng, tiêu diệt 17 tên Mỹ. Trong trận đánh thọc sâu vào sân Lễ khánh thành xã Bình Định loại A của địch tại chợ Tân Bửu, xã Tân Bửu, huyện Bến Lức vào tháng 10/1970, ông Hữu tiêu diệt 27 tên Nguỵ và chỉ huy bẻ gãy kế hoạch hành quân của địch. Và trong Chiến dịch Nguyễn Huệ trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An năm 1972, ông Hữu tiếp tục tiêu diệt 5 tên Nguỵ… Với thành tích trên, nhiều người rất kính nể và thán phục trước tấm gương chỉ huy tài tình và chiến đấu gan dạ của thương binh Nguyễn Văn Hữu (SN 1948) nên lúc bấy giờ, ông Hữu đã được Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trao tặng 8 lần danh hiệu cao quý gồm các giấy Chứng nhận “Dũng sĩ diệt máy bay cấp 3 năm 1968, 1969”, Chứng nhận “Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 1, cấp 2 năm 1968, 1969”, Chứng nhận “Dũng sĩ Quyết thắng cấp 3 năm 1969”, Chứng nhận “Dũng sĩ diệt Cơ giới” và Chứng nhận “Dũng sĩ diệt Nguỵ ưu tú”!

Trò chuyện thâm tình, thương binh Nguyễn Văn Hữu không ngần ngại trao cho tôi cuốn lý lịch để minh chứng xác thực cho quá trình cống hiến xương trắng máu đào của bản thân mình góp phần cho quê hương, đất nước được độc lập tự do ấm no và hạnh phúc… Lật xem từng trang lý lịch, tôi được biế, ông Nguyễn Văn Hữu sớm giác ngộ Cách mạng, thoát ly gia đình đầu năm 1964 gia nhập Bộ đội Cụ Hồ chiến đấu chống giặc. Qua 5 năm chiến đấu, đến ngày 7/4/1969, ông Hữu vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và được giữ chức Trung đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 6, Phân khu 2. Sau đó, ông Hữu vừa Chỉ huy - vừa cùng đồng đội tham chiến rất ác liệt và lập nhiều chiến công hiển hách làm quân thù khiếp sợ. Ông Hữu bồi hồi nhớ lại: “Tôi tham gia đánh nhiều trận rất khốc liệt và bị thương rất nặng. Một phần cơ thể bỏ lại chiến trường như: Gãy xương đùi, lủng phổi, đứt 4 đoạn ruột và vết thương đặc biệt nặng là viên đạn đại liên xuyên qua cột sống cùng nhiều thương tích khác nữa… Bị thương quá nặng, tôi bất tỉnh nên bị giặc bắt. Khi tỉnh lại thấy mình đang nằm trong nhà thương của giặc. Nhờ Hiệp định Paris nên tôi được trao trả trở về với đồng đội, với Đảng Cộng sản quang vinh và tiếp tục điều trị, an dưỡng tại tỉnh Bình Định rồi chuyển ra miền Bắc an dưỡng, trị bệnh tại tỉnh Hà Bắc. Sức khoẻ dần hồi phục, tôi cùng đồng đội hành quân về miền Nam tiếp tục chiến đấu. Dù bị thương nặng, nhưng đổi lại là tôi đã tiêu diệt 57 tên Mỹ, Bắn rơi 2 máy bay trực thăng chở 30 tên Mỹ và tiêu diệt 32 tên lính Ngụy trên địa bàn tỉnh Long An. Trong trận Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, đánh vào Nội ô Sài Gòn 3 đợt, tôi đã bắn cháy 2 xe tăng, diệt 6 tên Mỹ và 5 tên lính chư Hầu Bắc Chung Hy (Hàn Quốc bây giờ). Tính chung là 100 tên Mỹ, Ngụy và Lính Chư Hầu... Và tôi rất vinh dự cùng đơn vị C 54Q thuộc Bộ Tổng tham mưu tham chiến và giải phóng thị xã Buôn Mê Thuộc. Ngày 10/3/1975, tôi cùng đơn vị tiếp tục hành quân về miền Nam và được Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh chỉ thị cùng Quân đoàn 4 (mũi phía bắc) phối hợp đánh thẳng vào nội đô tiếp quản Sài Gòn ngày 30/4/1975”

Sau giải phóng, ông Hữu phục vụ tác chiến cho Quân đoàn 4 và tiếp quản Quận 5. Sau đó, được phân công làm giáo viên Cải huấn Hạ sĩ quan, binh sĩ nguỵ tại tỉnh Long An rồi làm Đại Đội trưởng Huyện đội Bến Lức rồi được chuyển về huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp công tác và giữ nhiều chức vụ lãnh đạo chủ chốt ở đây. Trong quá trình công tác tại huyện Tam Nông dù những vết thương trong cơ thể luôn hoành hành, gây đau nhức mỗi khi trái gió trở trời, nhưng thương binh Hữu vẫn chịu đựng, giữ vững phẩm chất cao quý của “Bộ đội Cụ Hồ” và luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Tháng 3/2012, ông Hữu chuyển gia đình về huyện Bến Lức, tỉnh Long An (cũ) sinh sống tới nay có địa danh mới là ấp Bến Lức 2, xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh. Người thân, bạn bè, động đội và Nhân dân rất tự hào, kính nể và thán phục trước tấm gương sáng trong chiến đấu chống giặc và công tác nhiệt tình trong thời bình của thương binh Nguyễn Văn Hữu.

 

Nguyên Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân cùng các lãnh đạo đến thăm thương binh Nguyễn Văn Hữu

 

Suốt quá trình cống hiến công sức, tài trí; hy sinh xương trắng, máu đào cho sự nghiệp Cách mạng, ông Hữu đã được Đảng và Nhà nước tặng tưởng nhiều Huân chương, Huy Chương, Huy hiệu, Danh hiệu cao quý và nhiều Bằng khen, Giấy khen… Nổi bật là Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng ba; Huân chương Kháng chiến hạng ba; Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì và ba; Kỷ niệm chương Chiến sĩ Cách mạng bị địch bắt, tù đày; Huy hiệu 30 năm, 40 năm, 45 năm, 50 năm và 55 năm tuổi Đảng… Lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc Hội, Nhà nước và các Bộ, Ngành Trung Ương… cũng đã trực tiếp đến nhà thăm hỏi sức khoẻ, tình hình cuộc sống và tặng quà động viên ông Hữu trong các dịp Chào mừng Lễ kỷ niệm lớn và ngày Tết… Ông Nguyễn Văn Hữu phấn khởi cho biết: “Nhân dịp dự họp mặt Lễ kỷ niệm 50 năm giải phóng Sài Gòn, trong không khí đầy tự hào đó, mọi tầng lớp Nhân dân, từ già - trẻ - trai - gái, đặc biệt là các sinh viên, học sinh kể cả trẻ em và du khách nước ngoài đều rất ngưỡng mộ những Cựu chiến Binh chúng tôi. Mọi người thể hiện cử chỉ tôn kính, chào đón nghiêm trang và xưng hô đầy thiện cảm, xin chụp hình chung để làm kỷ niệm... Bản thân tôi rất xúc động, vinh dự và tự hào!”

Tại Nhà Bảo tàng, Thư viện Long An, tỉnh Tây Ninh; khu Di tích Bến Dược, thành phố Hồ Chí Minh; Nhà lưu niệm những kỷ vật chiến tranh của Huyện đội Bến Lức hiện đang lưu giữ, trưng bày những kỷ vật lịch sử trong chiến tranh của thương binh Nguyễn Văn Hữu do ông trao tặng, với mục đích giáo dục truyền thống tinh thần yêu nước, tự hào và tự tôn dân tộc cho thế hệ mai sau. Ông Hữu bày tỏ: “Tôi rất tự hào vì đã đóng góp một phần xương máu của mình để chiến đấu giành lấy độc lập tự do cho dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Và càng tự hào hơn khi sống trong một đất nước hoà bình và đổi mới từng ngày, giang san được sắp xếp tinh gọn, quê hương phát triển khởi sắc. Tệ nạn xã hội đã bị đẩy lùi. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, an toàn giao thông, an ninh mạng… luôn được giữ vững ổn định, người dân an tâm sản xuất kinh doanh phát triển kinh tế gia đình, vươn lên khá giàu... “sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới”. Một đất nước Việt Nam thời bình đang phát triển và thật đáng sống!

Chị Bùi Thị Việt An - con dâu ông Nguyễn Văn Hữu xúc động bày tỏ từ tận đáy lòng mình: “Có những điều con chưa từng nói hết thành lời, nhưng luôn khắc sâu trong trí nhớ về người ba chồng mà con kính trọng bằng tất cả tình cảm chân thành của mình. Ba là một người lính! Không chỉ là một người lính bình thường mà là người lính đã đi qua những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh, mang trên mình những vết thương không bao giờ lành hẳn. Ba một thương binh nặng hạng 1/4, đã mất 81% sức khỏe, đó không chỉ là con số, mà là biết bao đau đớn, mất mát mà ba đã phải gánh chịu. Nhưng ba chưa từng than vãn. Ba vẫn sống, vẫn kiên cường, vẫn là chỗ dựa vững chắc cho gia đình. Con chưa từng nghĩ có ngày mình được chạm vào lịch sử gần đến vậy không phải qua những trang sách khô khan mà qua lời kể với chất giọng hào sảng của ba, một nhân chứng sống, mộc mạc mà ấm áp. Ba kể, trong từng câu chuyện, cả một thời bom đạn hiện lên dữ dội mà hào hùng. Mỗi câu chuyện như đưa con trở về những năm tháng bom đạn lịch sử ấy. Có những câu chuyện về ba mà mỗi lần nghe lại, con không khỏi xúc động và tự hào. Trong một trận đánh ác liệt ở Cần Đước - Long An, ba bị địch bắn rơi từ trên cây xuống một bụi lát, bị thương rất nặng - lòi ruột ra ngoài. Giữa lằn ranh sinh tử, khi một người đồng đội quay lại ôm lấy ba, tìm cách đưa ba rời khỏi nơi nguy hiểm, thì ba lại kêu chú ấy rút lui, để mặc ba ở lại. Không chỉ vậy, ba còn trao lại cây súng duy nhất của mình cho đồng đội như gửi lại cơ hội sống, cơ hội chiến đấu cho người khác. Một quyết định mà không phải ai cũng có thể làm được. Lúc đó, con nhớ đến câu “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Trong tay ba lúc đó vẫn còn một quả lựu đạn. Ba đã sẵn sàng, nếu địch tiến lại gần, ba sẽ rút chốt… chấp nhận hy sinh để không rơi vào tay địch, để bảo vệ đồng đội và giữ trọn khí tiết của một người lính. Nhưng do vết thương quá nặng, gãy đùi, thủng phổi, đứt ruột… ba ngất liệm, rồi ba bị bắt. Những ngày sau đó là những trận tra tấn tàn khốc mà ba phải chịu đựng. Con không thể hình dung hết những đau đớn mà ba đã trải qua, chỉ biết rằng ba vẫn không khuất phục, không phản bội đồng đội, không phản bội Tổ quốc. Sự kiên cường ấy khiến con vô cùng kính phục. Con luôn tự hào khi được làm con dâu của ba. Người đã trực tiếp tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn, góp phần mang lại hòa bình cho đất nước. Những gì ba đã trải qua không chỉ là ký ức cá nhân, mà là một phần của lịch sử. Con rất ngạc nhiên với rất nhiều huân chương, dũng sỹ và hàng loạt bằng khen mà ba được trao tặng… Nhưng hơn tất cả, điều khiến con kính trọng ba chính là con người của ba trong cuộc sống thường ngày. Người Đảng viên 57 tuổi Đảng. Dù mang thương tật nặng nề, ba vẫn luôn sống giản dị, mạnh mẽ và đầy trách nhiệm. Ba yêu thương gia đình, quan tâm con cháu và luôn là tấm gương về nghị lực sống! Ba có thể không nói nhiều về những năm tháng đã qua, nhưng với con, mỗi câu chuyện của ba đều là những bài học lớn. Con luôn trân trọng và biết ơn vì được làm con dâu của ba, được sống trong gia đình mình. Cảm ơn ba vì những hy sinh thầm lặng cho đất nước. Cảm ơn ba đã vượt qua tất cả”.

Thật vinh dự và tự hào với tấm gương “hy sinh thầm lặng”, sống đẹp của thương binh Nguyễn Văn Hữu để thế hệ con cháu học tập, noi theo.

T.T.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm