TIN TỨC

Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-06-08 18:48:28
mail facebook google pos stwis
1537 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

 

Thương binh Nguyễn Văn Hữu

 

Đưa tôi xem những tờ giấy chứng nhận dũng sĩ đã bị úa vàng, mực in lem luốt và mờ nét chữ… theo thời gian, thương binh Hữu vừa chỉ tay vào từng tờ giấy chứng nhận vừa kể lại từng chiến công mà mình đã chiến đấu với kẻ thù như mới vừa xảy ra, với những trận đánh tiêu biểu. Vào tháng 1/1968 trong một trận chống càng ác liệt với kẻ thù tại kênh ông Bường, xã An Thạnh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An, ông Nguyễn Văn Hữu đã trực tiếp bắn rơi một chiếc trực thăng chở 15 tên Mỹ và tiêu diệt 10 tên. Còn trong đợt 1 cuộc tổng tấn công vào Sài Gòn Tết Mậu Thân năm 1968 trên đường Hậu Giang, Quận 6, ông Hữu đã bắn cháy 2 xe tăng địch, tiêu diệt 6 tên Mỹ… Đến tháng 1/1969, trong một trận chống càng tại xã Bình Đức, huyện Bến Lức, ông Hữu tiếp tục bắn rơi một chiếc trực thăng, tiêu diệt 17 tên Mỹ. Trong trận đánh thọc sâu vào sân Lễ khánh thành xã Bình Định loại A của địch tại chợ Tân Bửu, xã Tân Bửu, huyện Bến Lức vào tháng 10/1970, ông Hữu tiêu diệt 27 tên Nguỵ và chỉ huy bẻ gãy kế hoạch hành quân của địch. Và trong Chiến dịch Nguyễn Huệ trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An năm 1972, ông Hữu tiếp tục tiêu diệt 5 tên Nguỵ… Với thành tích trên, nhiều người rất kính nể và thán phục trước tấm gương chỉ huy tài tình và chiến đấu gan dạ của thương binh Nguyễn Văn Hữu (SN 1948) nên lúc bấy giờ, ông Hữu đã được Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trao tặng 8 lần danh hiệu cao quý gồm các giấy Chứng nhận “Dũng sĩ diệt máy bay cấp 3 năm 1968, 1969”, Chứng nhận “Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 1, cấp 2 năm 1968, 1969”, Chứng nhận “Dũng sĩ Quyết thắng cấp 3 năm 1969”, Chứng nhận “Dũng sĩ diệt Cơ giới” và Chứng nhận “Dũng sĩ diệt Nguỵ ưu tú”!

Trò chuyện thâm tình, thương binh Nguyễn Văn Hữu không ngần ngại trao cho tôi cuốn lý lịch để minh chứng xác thực cho quá trình cống hiến xương trắng máu đào của bản thân mình góp phần cho quê hương, đất nước được độc lập tự do ấm no và hạnh phúc… Lật xem từng trang lý lịch, tôi được biế, ông Nguyễn Văn Hữu sớm giác ngộ Cách mạng, thoát ly gia đình đầu năm 1964 gia nhập Bộ đội Cụ Hồ chiến đấu chống giặc. Qua 5 năm chiến đấu, đến ngày 7/4/1969, ông Hữu vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và được giữ chức Trung đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 6, Phân khu 2. Sau đó, ông Hữu vừa Chỉ huy - vừa cùng đồng đội tham chiến rất ác liệt và lập nhiều chiến công hiển hách làm quân thù khiếp sợ. Ông Hữu bồi hồi nhớ lại: “Tôi tham gia đánh nhiều trận rất khốc liệt và bị thương rất nặng. Một phần cơ thể bỏ lại chiến trường như: Gãy xương đùi, lủng phổi, đứt 4 đoạn ruột và vết thương đặc biệt nặng là viên đạn đại liên xuyên qua cột sống cùng nhiều thương tích khác nữa… Bị thương quá nặng, tôi bất tỉnh nên bị giặc bắt. Khi tỉnh lại thấy mình đang nằm trong nhà thương của giặc. Nhờ Hiệp định Paris nên tôi được trao trả trở về với đồng đội, với Đảng Cộng sản quang vinh và tiếp tục điều trị, an dưỡng tại tỉnh Bình Định rồi chuyển ra miền Bắc an dưỡng, trị bệnh tại tỉnh Hà Bắc. Sức khoẻ dần hồi phục, tôi cùng đồng đội hành quân về miền Nam tiếp tục chiến đấu. Dù bị thương nặng, nhưng đổi lại là tôi đã tiêu diệt 57 tên Mỹ, Bắn rơi 2 máy bay trực thăng chở 30 tên Mỹ và tiêu diệt 32 tên lính Ngụy trên địa bàn tỉnh Long An. Trong trận Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, đánh vào Nội ô Sài Gòn 3 đợt, tôi đã bắn cháy 2 xe tăng, diệt 6 tên Mỹ và 5 tên lính chư Hầu Bắc Chung Hy (Hàn Quốc bây giờ). Tính chung là 100 tên Mỹ, Ngụy và Lính Chư Hầu... Và tôi rất vinh dự cùng đơn vị C 54Q thuộc Bộ Tổng tham mưu tham chiến và giải phóng thị xã Buôn Mê Thuộc. Ngày 10/3/1975, tôi cùng đơn vị tiếp tục hành quân về miền Nam và được Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh chỉ thị cùng Quân đoàn 4 (mũi phía bắc) phối hợp đánh thẳng vào nội đô tiếp quản Sài Gòn ngày 30/4/1975”

Sau giải phóng, ông Hữu phục vụ tác chiến cho Quân đoàn 4 và tiếp quản Quận 5. Sau đó, được phân công làm giáo viên Cải huấn Hạ sĩ quan, binh sĩ nguỵ tại tỉnh Long An rồi làm Đại Đội trưởng Huyện đội Bến Lức rồi được chuyển về huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp công tác và giữ nhiều chức vụ lãnh đạo chủ chốt ở đây. Trong quá trình công tác tại huyện Tam Nông dù những vết thương trong cơ thể luôn hoành hành, gây đau nhức mỗi khi trái gió trở trời, nhưng thương binh Hữu vẫn chịu đựng, giữ vững phẩm chất cao quý của “Bộ đội Cụ Hồ” và luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Tháng 3/2012, ông Hữu chuyển gia đình về huyện Bến Lức, tỉnh Long An (cũ) sinh sống tới nay có địa danh mới là ấp Bến Lức 2, xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh. Người thân, bạn bè, động đội và Nhân dân rất tự hào, kính nể và thán phục trước tấm gương sáng trong chiến đấu chống giặc và công tác nhiệt tình trong thời bình của thương binh Nguyễn Văn Hữu.

 

Nguyên Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân cùng các lãnh đạo đến thăm thương binh Nguyễn Văn Hữu

 

Suốt quá trình cống hiến công sức, tài trí; hy sinh xương trắng, máu đào cho sự nghiệp Cách mạng, ông Hữu đã được Đảng và Nhà nước tặng tưởng nhiều Huân chương, Huy Chương, Huy hiệu, Danh hiệu cao quý và nhiều Bằng khen, Giấy khen… Nổi bật là Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng ba; Huân chương Kháng chiến hạng ba; Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì và ba; Kỷ niệm chương Chiến sĩ Cách mạng bị địch bắt, tù đày; Huy hiệu 30 năm, 40 năm, 45 năm, 50 năm và 55 năm tuổi Đảng… Lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc Hội, Nhà nước và các Bộ, Ngành Trung Ương… cũng đã trực tiếp đến nhà thăm hỏi sức khoẻ, tình hình cuộc sống và tặng quà động viên ông Hữu trong các dịp Chào mừng Lễ kỷ niệm lớn và ngày Tết… Ông Nguyễn Văn Hữu phấn khởi cho biết: “Nhân dịp dự họp mặt Lễ kỷ niệm 50 năm giải phóng Sài Gòn, trong không khí đầy tự hào đó, mọi tầng lớp Nhân dân, từ già - trẻ - trai - gái, đặc biệt là các sinh viên, học sinh kể cả trẻ em và du khách nước ngoài đều rất ngưỡng mộ những Cựu chiến Binh chúng tôi. Mọi người thể hiện cử chỉ tôn kính, chào đón nghiêm trang và xưng hô đầy thiện cảm, xin chụp hình chung để làm kỷ niệm... Bản thân tôi rất xúc động, vinh dự và tự hào!”

Tại Nhà Bảo tàng, Thư viện Long An, tỉnh Tây Ninh; khu Di tích Bến Dược, thành phố Hồ Chí Minh; Nhà lưu niệm những kỷ vật chiến tranh của Huyện đội Bến Lức hiện đang lưu giữ, trưng bày những kỷ vật lịch sử trong chiến tranh của thương binh Nguyễn Văn Hữu do ông trao tặng, với mục đích giáo dục truyền thống tinh thần yêu nước, tự hào và tự tôn dân tộc cho thế hệ mai sau. Ông Hữu bày tỏ: “Tôi rất tự hào vì đã đóng góp một phần xương máu của mình để chiến đấu giành lấy độc lập tự do cho dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Và càng tự hào hơn khi sống trong một đất nước hoà bình và đổi mới từng ngày, giang san được sắp xếp tinh gọn, quê hương phát triển khởi sắc. Tệ nạn xã hội đã bị đẩy lùi. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, an toàn giao thông, an ninh mạng… luôn được giữ vững ổn định, người dân an tâm sản xuất kinh doanh phát triển kinh tế gia đình, vươn lên khá giàu... “sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới”. Một đất nước Việt Nam thời bình đang phát triển và thật đáng sống!”

Chị Bùi Thị Việt An - con dâu ông Nguyễn Văn Hữu xúc động bày tỏ từ tận đáy lòng mình: “Có những điều con chưa từng nói hết thành lời, nhưng luôn khắc sâu trong trí nhớ về người ba chồng mà con kính trọng bằng tất cả tình cảm chân thành của mình. Ba là một người lính! Không chỉ là một người lính bình thường mà là người lính đã đi qua những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh, mang trên mình những vết thương không bao giờ lành hẳn. Ba một thương binh nặng hạng 1/4, đã mất 81% sức khỏe, đó không chỉ là con số, mà là biết bao đau đớn, mất mát mà ba đã phải gánh chịu. Nhưng ba chưa từng than vãn. Ba vẫn sống, vẫn kiên cường, vẫn là chỗ dựa vững chắc cho gia đình. Con chưa từng nghĩ có ngày mình được chạm vào lịch sử gần đến vậy không phải qua những trang sách khô khan mà qua lời kể với chất giọng hào sảng của ba, một nhân chứng sống, mộc mạc mà ấm áp. Ba kể, trong từng câu chuyện, cả một thời bom đạn hiện lên dữ dội mà hào hùng. Mỗi câu chuyện như đưa con trở về những năm tháng bom đạn lịch sử ấy. Có những câu chuyện về ba mà mỗi lần nghe lại, con không khỏi xúc động và tự hào. Trong một trận đánh ác liệt ở Cần Đước - Long An, ba bị địch bắn rơi từ trên cây xuống một bụi lát, bị thương rất nặng - lòi ruột ra ngoài. Giữa lằn ranh sinh tử, khi một người đồng đội quay lại ôm lấy ba, tìm cách đưa ba rời khỏi nơi nguy hiểm, thì ba lại kêu chú ấy rút lui, để mặc ba ở lại. Không chỉ vậy, ba còn trao lại cây súng duy nhất của mình cho đồng đội như gửi lại cơ hội sống, cơ hội chiến đấu cho người khác. Một quyết định mà không phải ai cũng có thể làm được. Lúc đó, con nhớ đến câu “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Trong tay ba lúc đó vẫn còn một quả lựu đạn. Ba đã sẵn sàng, nếu địch tiến lại gần, ba sẽ rút chốt… chấp nhận hy sinh để không rơi vào tay địch, để bảo vệ đồng đội và giữ trọn khí tiết của một người lính. Nhưng do vết thương quá nặng, gãy đùi, thủng phổi, đứt ruột… ba ngất liệm, rồi ba bị bắt. Những ngày sau đó là những trận tra tấn tàn khốc mà ba phải chịu đựng. Con không thể hình dung hết những đau đớn mà ba đã trải qua, chỉ biết rằng ba vẫn không khuất phục, không phản bội đồng đội, không phản bội Tổ quốc. Sự kiên cường ấy khiến con vô cùng kính phục. Con luôn tự hào khi được làm con dâu của ba. Người đã trực tiếp tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn, góp phần mang lại hòa bình cho đất nước. Những gì ba đã trải qua không chỉ là ký ức cá nhân, mà là một phần của lịch sử. Con rất ngạc nhiên với rất nhiều huân chương, dũng sỹ và hàng loạt bằng khen mà ba được trao tặng… Nhưng hơn tất cả, điều khiến con kính trọng ba chính là con người của ba trong cuộc sống thường ngày. Người Đảng viên 57 tuổi Đảng. Dù mang thương tật nặng nề, ba vẫn luôn sống giản dị, mạnh mẽ và đầy trách nhiệm. Ba yêu thương gia đình, quan tâm con cháu và luôn là tấm gương về nghị lực sống! Ba có thể không nói nhiều về những năm tháng đã qua, nhưng với con, mỗi câu chuyện của ba đều là những bài học lớn. Con luôn trân trọng và biết ơn vì được làm con dâu của ba, được sống trong gia đình mình. Cảm ơn ba vì những hy sinh thầm lặng cho đất nước. Cảm ơn ba đã vượt qua tất cả”.

Thật vinh dự và tự hào với tấm gương “hy sinh thầm lặng”, sống đẹp của thương binh Nguyễn Văn Hữu để thế hệ con cháu học tập, noi theo.

T.T.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những người đi qua Trường Sơn – 55 năm một lời hẹn
Bài đăng Đặc san của Hội Nhà báo TPHCM chào mừng Đại hội Hội Nhà báo TPHCM
Xem thêm
Về bến Lộc An
Bài đăng báo Cựu chiến binh Việt Nam
Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm