TIN TỨC

Nấm Dẩn, một sinh thái trong lành – Bút ký Đào Thị Thu Hiền

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-06-06 08:29:04
mail facebook google pos stwis
858 lượt xem

(Vanchuongthanhphochiminh.vn) - Chiều buông, rời bước ra khỏi bãi đá cổ, lòng tôi cứ bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa hoang dại, vừa tôn nghiêm của vùng cao biên giới Nấm Dẩn. Những địa danh như đèo Gió, thác Tiên, hay bãi đá cổ Nấm Chanh giờ đây không còn là những cái tên vô danh giữa đại ngàn heo hút mà đã được định danh trên bản đồ di sản nước nhà. Di tích Bãi đá cổ bản Nấm Chanh ở xã Nấm Dẩn đã được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 2008 và khu danh lam thác Tiên - đèo Gió cũng được xếp hạng thắng cảnh quốc gia vào năm 2009. Nhưng rồi lại nghĩ, bản đồ du lịch ở Nấm Dẩn đã mở ra nhưng giao thông và hạ tầng ở đây còn chưa theo kịp. Muốn nhiều người biết hơn nữa về những thắng cảnh và di sản ở Nấm Dẩn đường đi và các dịch vụ chắc chắn phải đi trước một bước để đón chân du khách. Nghĩ thế, rồi lại nhìn sang những vùng đất khác. Du lịch mở ra và bản sắc văn hoá cứ mất dần vì làn sóng thương mại hóa. Bất giác, tôi giật mình và tự hỏi: liệu một mai, khi rộn rã thanh âm của những bước chân du lịch, Nấm Dẩn có còn giữ nổi cho mình là một sinh thái trong lành nữa hay không?

 

Đỉnh đèo Gió. Ảnh tác giả cung cấp

 

Cái tên Nấm Dẩn tôi từng được nghe danh từ rất lâu nhưng mãi đến tận hôm nay mới có duyên hạnh ngộ. Nói thực lòng, lần đầu tiên được đặt chân lên vùng đất rẻo cao nơi biên viễn cực Bắc xa xôi ở mãi tít xứ Tuyên Quang này (trước đây thuộc huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang) tôi thấy không khỏi ngẩn ngơ, ngỡ ngàng rồi thật sự đắm say, thích thú … ngay từ cái nhìn đầu tiên, bởi cảnh sắc nơi này quá đẹp, tựa như chốn bồng lai tiên cảnh đặt giữa miền nhân gian. Từ rừng cây, vách núi, triền đồi cho đến ngọn thác, dòng suối, bãi đá …, tất cả mọi vật còn nguyên vẹn sự cao cả, hùng vĩ với những nét hoang sơ, mộc mạc của tạo hoá, tựa như một “viên ngọc thô” tuyệt mỹ hiếm hoi còn sót dưới mặt đất. Chẳng những vậy, miền đất thuần khiết của tự nhiên ở nơi đầu nguồn con nước này (trong tiếng Nùng, hai chữ Nấm Dẩn có nghĩa là khu vực đầu nguồn nước, tên gọi này có lẽ được hình thành từ việc nhìn thấy những ngọn núi rất cao và những dòng nước chảy xuống làm thành nơi bắt đầu xuất phát của những con suối) còn là một trong những cái nôi văn hoá của loài người, hiện đang còn lưu giữ biết bao điều huyền bí của tiền nhân từ thủa hồng hoang. Bởi thế, cũng không ngoa khi nói rằng, đến với Nấm Dẩn là đến với một công chúa còn đang say giấc nồng giữa rừng xanh bao la; là một hành trình khám phá “ngọc báu” giữa đại ngàn biên cương cực Bắc.

Một sinh thái trong lành. Đấy là suy nghĩ chung của chúng tôi về vùng rẻo cao Nấm Dẩn, cách Hà Nội khoảng chừng hơn 300 cây số. Chúng tôi đến miền sinh thái này theo quốc lộ 2, tới ngã ba Vĩnh Tuy, rẽ trái vào đường 183, đi khoảng hơn 60 cây số đến xã Quang Bình (thị trấn Yên Bình huyện Quang Bình của tỉnh Hà Giang trước đây), rồi tiếp tục đi vào đường 178, theo hướng lên xã biên giới Pà Vầy Sủ, đi khoảng hơn 40 cây số là đến trung tâm xã Nấm Dẩn. Nói qua về lộ trình như thế, thoáng nghe tưởng có vẻ dễ đi nhưng không phải. Trải nghiệm trên đường đi, ta mới thấy bản đồ dẫn lối trên Google Map và thực tế di chuyển là hai thế giới hoàn toàn khác biệt, nhất là đoạn rẽ vào quốc lộ 178 trở đi. Bắt đầu từ đây, con đường đến với hệ sinh thái nguyên sơ và thuần khiết ở Nấm Dẩn là một cung đường đèo đầy thử thách với những khúc cua tay áo liên tiếp, cực gắt; dốc như dựng ngược, đều từ 10% đến hơn 10%. Cung đường này quả một thử thách, một bài kiểm tra về lòng quả cảm với các tay lái. Nó không có chỗ cho những tài xế thiếu kinh nghiệm. Nhưng đổi lại, đi trên cung đường này, du khách sẽ được mãn nhãn với những bức tranh tuyệt mỹ của thiên nhiên. Lúc này, đại ngàn cực Bắc hiện ra trong tầm mắt với một cảnh sắc vừa hùng vĩ vừa hoang sơ khiến cho ai nấy không khỏi nao lòng, rạo rực, mê đắm mà quên đi những mệt mỏi hay hiểm trở của đường đi. Có thể nói, phong cảnh núi rừng suốt dọc đường đi, mỗi một đoạn đường, một con đèo mà bánh xe lăn qua là một đặc ân của đất trời xứ này ban cho thị giác. Xa xa, có nơi, ngang lưng chừng núi là những thảm mây trắng bồng bềnh tràn ra như muốn giăng kín cả đại ngàn hay dâng lên như một dải lụa mềm mại khổng lồ để ôm ấp hoặc vắt mình nối liền các dải núi đá trùng điệp. Và, thấp thoáng, bên những sườn núi, ẩn mình dưới những rừng cây xanh thẫm, trên những triền ruộng bậc thang là những bản làng bình yên của đồng bào người H’Mông, người Dao, người Nùng … với những nếp nhà sàn vách gỗ, mái cọ hay trình tường, lợp ngói âm dương bảng lảng làn khói biếc nhìn rất thơ mộng; gợi lên một miền cổ tích đang hiện hữu giữa cuộc đời. Cũng có lúc, bức tranh sơn cước đẹp quá, chúng tôi phải dừng xe để thưởng ngoạn. Khi ấy, rời khỏi không gian máy điều hoà, chúng tôi ngay lập tức được hoà mình vào bầu không khí trong lành, thoáng đãng, dễ chịu của núi đồi vùng cao; được mở toang lồng ngực để hít hà hương rừng dịu nhẹ thoang thoảng cùng mây ngàn, gió núi. Cứ như thế mà bao nhiêu mệt mỏi, ưu phiền chẳng đuổi tự dưng bỗng thấy tiêu tan.

Đoạn đường từ Quang Bình đến đỉnh đèo Gió nhìn trên Google Map thấy báo 25 cây số và dự báo thời gian di chuyển đến nơi khoảng hơn 50 phút nhưng thực tế đường đi có quá nhiều đèo dốc cùng với các khúc cua liên tiếp và là đi lần đầu nên xe chúng tôi phải chạy khá chậm, mất gần một giờ rưỡi. Con đường quốc lộ 178 đi lên đỉnh đèo và từ đỉnh đèo đi về thị trấn Cốc Pài chỗ nào cũng cheo leo, ngoằn ngoèo như rồng rắn uốn lượn trong mây. Nhiều chỗ đường nghiêng, gió thổi mạnh khiến không ít các phượt thủ cũng phải e ngại. Người ta đặt tên cho con đèo là đèo Gió có lẽ là do đỉnh đèo ở trên độ cao khoảng 1500 mét so với mực nước biển nên gió ở đây rất nhiều, rất mạnh. Suốt dọc hai bên đường đèo Gió là những rừng già nguyên sinh rậm rạp (khoảng gần 4000 het ta) với nhiều cổ thụ có tuổi đời vài trăm năm (nhiều cây nghiến hàng ngàn năm tuổi). Người ta bảo, độ cao của cung đường đèo Gió tương đương với cung đường ở Mã Pí Lèng bên cao nguyên đá Đồng Văn, một trong tứ đại đỉnh đèo ở nước ta. Có lẽ sự hiểm trở và cảnh đẹp hùng vĩ của cung đèo như thế mà dân gian truyền nhau câu nói: “Chưa vượt đèo Gió chưa tới Xín Mần” để khẳng định vị trí, ý nghĩa quan trọng của đèo Gió, một điểm đến không thể thiếu được trong hàng trình khám phá huyện vùng cao Xín Mần trước đây. Có lẽ với ý nghĩa và đặc điểm địa hình như thế nên đèo gió không chỉ có giá trị về cảnh quan sinh thái mà còn có giá trị về mặt chiến lược quốc phòng rất cao. Chẳng thế, hồi đầu thế kỷ XX, sau khi người Pháp xâm lược được nước ta, để khẳng định sự có mặt của mình ở Đông Dương và nhằm mục đích kiểm soát, cai trị miền biên viễn xa xôi này mà họ đã cho làm cả một hệ thống đồn, bốt và giao thông hào trên đỉnh đèo hiểm trở để trấn giữ.

Cách đỉnh đèo Gió khoảng 2 cây số, tiếp tục đi theo quốc lộ 178, ta sẽ đến Thác Tiên, tiếng Nùng gọi là Văng Táng Tinh (Văng là vực, Táng Tinh là con vật giống con kỳ nhông, hình dạng như con rồng, nghĩa là vực rồng). Thác Tiên nằm cách mặt đường khoảng hơn 100 mét. Trước kia, muốn khám phá thác nước ta phải băng qua rừng trúc (vầu) xanh rì xen lẫn những cây nghiến cổ thụ cao chọc trời. Giờ đây, do khai thác du lịch nên người ta đã mở lối bằng các bậc xi măng để đi xuống chân thác cho an toàn và thư thái hơn. Đứng trên đường cái, dù chưa nhìn thấy thác nhưng ta đã nghe thấy tiếng nước đổ ầm ào, vang vọng cả núi rừng tựa như bản hoà tấu của đại ngàn để mời gọi, chào đón du khách. Đi theo các bậc xi măng xuống thác, gần đến nơi, ta sẽ nhìn thấy dòng nước trắng xoá như dải lụa mềm mại từ đỉnh núi cao buông xuống hồ (vực) nước dưới chân vách đá. Tuỳ theo mùa, lượng nước từ đỉnh núi đổ xuống nhiều hay ít mà thác Tiên có từ một đến hai dòng chảy. Dòng bên phải là dòng chính của thác nước. Dòng nước này được chia thành hai tầng. Tầng thứ nhất là một khối nước khổng lồ ở trên đỉnh núi rất cao đổ xuống tầng thác thứ hai. Tầng nước thứ hai cao khoảng 10 mét, bên dưới là một hồ nước, sâu chừng hơn 2 mét, rộng khoảng 20 mét vuông. Nước dưới hồ trong vắt, tràn ra lòng suối toàn đá, len lỏi trong rừng nguyên sinh, đi qua các bản Ngam Lâm, Nấm Chiến, Tân Sơn, Thống Nhất, Nấm Chanh rồi đổ ra sông Chảy ở ngã ba cầu treo thị trấn Cốc Pài. Dòng suối dưới chân thác Tiên rất thơ mộng. Nước suối rất nông, trong vắt, không một gợn bùn, để lộ từng viên sỏi vàng óng dưới đáy. Dọc bên đôi bờ, thảm rừng nguyên sinh đa tầng bao bọc lấy dòng nước. Những vỉa đá nhô ra xen lẫn tán cây là đà sát mặt nước, tạo nên một khung cảnh thiên nhiên tuyệt mỹ. Thỉnh thoảng, giữa lòng suối, ta lại bắt gặp những thân gỗ cổ thụ đổ xuống, không biết từ bao giờ, nằm trầm mặc theo thời gian, càng gợi lên sự hoang sơ, kỳ vĩ. Đứng dưới chân thác, ta sẽ thấy những cơn gió lồng lộng tràn qua, cuốn theo muôn ngàn bọt nước li ti toả ra khắp không gian tựa như một làn sương khói bảng lảng vương vít. Cái lạnh của nước hoà vào cái mát của gió mà xua tan hoàn toàn cái ngột ngạt của đất trời. Giữa trưa hè oi nồng, hơn bao giờ hết, ta sẽ cảm nhận được đầy đủ, rõ ràng, chân thực cái khí hậu mát mẻ, dễ chịu của thác nước đem lại mà chẳng đâu có thể sánh bằng.

Thác Tiên bắt nguồn từ dòng suối Tả Ngán hoang sơ nơi đại ngàn Tả Củ Tỷ (Lào Cai). Khi đi đến bản Ngam Lâm xã Nấm Dẩn (Tuyên Quang), dòng nước đổ xuống theo vách đá đèo Gió, giữa lòng rừng nguyên sinh xanh biếc và làm thành ngọn thác với dòng nước mềm mại, dịu dàng tựa như áng tóc mây huyền thoại, buông hờ từ cõi trời xa thẳm. Nước ở thác Tiên rất ổn định, quanh năm hiền hòa và không bao giờ cạn, khiến cho áng tóc mây ấy như bất tử, tạc vào lòng núi rừng thâm nghiêm một vẻ đẹp vĩnh cửu. Không biết, có phải thác nước thiên tạo như thế mà trí tưởng tượng dân gian đã dệt nên câu chuyện tình bi thương của đôi trai gái người Nùng để thổi hồn vào dòng nước bốn mùa tung bọt trăng xoá, vang vọng đất trời. Chuyện xưa kể rằng, ngày ấy, trong bản có một cô gái rất xinh. Da nàng trắng như măng bóc. Trai bản nhiều người thầm thương trộm nhớ. Rồi trong một lần đi hái măng, cô gái xinh đẹp ấy đã nghe thấy tiếng sáo của một người trai (con của thần rừng) và phải lòng. Nàng đã tìm đến với người con của thần rừng. Dưới chân thác nước, hai người đã thề non hẹn bể và quấn quýt bên nhau. Tuy nhiên mối tình sâu nặng ấy lại không được thần rừng đồng ý. Nhưng vì quá yêu chàng trai nên cô gái đã bỏ nhà, rời bản tìm đến nơi bắt đầu tình yêu để hoá giải nỗi đau. Tại chân thác nước định mệnh, nàng đã trầm mình xuống vực sâu, hóa thân vào dòng suối mát. Mái tóc óng ả của cô buông xuống tạo thành dòng thác êm mượt, đêm ngày réo rắt, ngân vang giống như thể đang kể cho nhân gian cùng nghe về mối tình dang dở, bi thương được lưu danh cùng đất trời. Đến thác Tiên, ngắm nhìn dòng nước trắng xoá đổ từ trên núi cao xuống và nghĩ về câu chuyện buồn của đôi trai gái tôi chợt ngộ ra cảnh càng mãn nhãn thì tình càng thấu cốt bi thương. Rõ ràng cảnh và tình kia chẳng liên quan gì đến nhau, ngọn thác vô tri và khối tình nhân thế vốn chẳng chung đường, vậy mà bao đời nay, người ta vẫn cứ gắn chúng vào với nhau và tin là sự thật. Để rồi, niềm tin ấy vô tình biến một thắng cảnh tự nhiên thành một cõi hoài niệm, trở thành một miền ký ức sống động, khiến lòng người không khỏi rưng rưng một niềm trắc ẩn. Ngắm cảnh thác Tiên, lòng tôi bất chợt bảng lảng trôi về những huyền thoại xa xưa. Tôi nhớ đến nàng Lở Lan xinh đẹp người Dao đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân của mình thành dòng thác Tác Tình (Lai Châu) đổ xuống chân núi Putaleng ngào ngạt hương đỗ quyên; nhớ đến mối tình hoá thành thác nước Trai Gái (Thanh Hoá) của đôi uyên ương người Thái; nhớ đến những giọt lệ nghẹn ngào của nàng B’Ri khóc đợi chàng K’Đam để rồi hoá thành dòng thác Dambri huyền thoại của người K’Ho … Thế đấy… Dọc trên dải đất hình chữ S này, còn biết bao dòng thác mang bóng hình bờ cõi và tâm linh như thế. Có lẽ, người xưa không chỉ đơn giản mượn thiên nhiên (nhân cách hoá) để bất tử hóa những mối tình chung thủy. Hẳn là, đằng sau những dòng nước tung bọt trắng xóa bi thương kia là những tiếng thét kiêu hãnh đầy chất thơ, dội thẳng vào những tầng lớp lễ giáo và định kiến hôn nhân phong kiến ngột ngạt. Đó không chỉ là giọt nước mắt thương xót của người đời mà còn là muôn lời cảnh tỉnh thiên thu gửi lại cho hậu thế về quyền được yêu và quyền được sống. Nghĩ thế, nhìn dòng thác tội lại thấy mở ra cả một cõi tấm lòng bao dung và nhân hậu.

Quả thực, nếu nói vùng cao Nấm Dẩn là một hệ sinh thái trong lành thì Thác Tiên chính là trái tim thuần khiết nhất của hệ sinh thái ấy. Cảnh quan ở Thác Tiên tươi đẹp, xanh mát làm mãn nhãn mọi du khách. Những thân vầu xanh biếc chen chúc vươn thẳng lên vòm trời, dệt thành tấm lưới khổng lồ sẵn sàng ngăn cản mọi bức xạ gay gắt. Giữa lòng rừng, hơi nước toả ra, bảng lảng khắp mọi nơi, tựa như một màn sương mỏng làm cho bầu không khí trở nên mát lạnh giữa trưa hè nắng cháy. Dưới chân thác, dòng suối trong veo như một dải lụa, không một gợn bóng, phơi ra từng viên sỏi lấp lánh dưới đáy sâu, uốn lượn dịu dàng giữa rừng nguyên sinh nhiệt đới tầng tầng lớp lớp cây phủ, khẽ khàng nâng niu những vệt nắng hè vàng sánh như mật ong xuyên qua kẽ lá, rơi nhẹ xuống mặt nước. Nước từ đỉnh đèo Gió dội xuống thẳng đứng nhưng không gầm thét vang động. Tiếng nước đổ nhẹ nhàng, thanh tao hoà cùng tiếng gió đại ngàn trên ngọn nghiến, ngọn vầu cùng tiếng chim rừng líu lo khi trầm khi bổng khiến cho khúc nhạc rừng xanh càng trở nên êm ái, du dương. Cái cảnh sắc ấy, cứ thế mà hiện lên trong tầm mắt một cách rất nhẹ nhàng, thoáng đãng và tinh khôi, tĩnh mịch; tựa như một bức tranh thuỷ mặc làm say lòng viễn khách.

Tạm biệt thác Tiên, chúng tôi chúng tôi tiếp tục ngược lên phía thị trấn Cốc Pài đến thảo nguyên Suôi Thầu để thưởng thức phong cảnh của một “Thuỵ Sỹ thu nhỏ trên rẻo biên cương”. Trên đường đi chúng tôi rẽ vào thăm bãi đá có những ký tự cổ của người xưa bên dòng suối Nậm Khoòng ở bản Nấm Chanh. Toạ độ di sản này nằm hoà mình giữa không gian ruộng bậc thang cùng với thấp thoáng những nếp nhà sàn mái cọ của đồng bào người Nùng. Trên bãi đá ấy có 7 phiến lớn và 2 phiến nhỏ; khắc hơn 80 hình vẽ và khoảng 80 lỗ vũng. Cũng bởi có những phiến đá mang những ký tự cổ đó mà đồng bào bản địa gọi triền núi ruộng bậc thang này với cái tên là “Nà Lai Shứ”, nghĩa là “cánh đồng nhiều chữ”. Bãi đá cách quốc lộ 178 khoảng hơn 2 cây số nhưng lối vào rất nhỏ và khúc khuỷu, gập ghềnh, trơn trượt; có chỗ dốc như dựng ngược. Chúng tôi phải nhờ xe máy của dân địa phương đưa lên chỗ phiến đá to nhất, ở tít trên đỉnh đồi cao để chiêm ngưỡng, tìm hiểu nhưng ký tự mờ mờ khắc trên mình đá. Phiến đá rất to, như một mai rùa khổng lồ, dài hơn 10 mét rộng khoảng 9 mét, trên khắc rất nhiều hình vẽ cổ, giống hình người (đang giơ tay dạng chân), hình bàn chân với kích cớ lớn, hình mặt trời, hình ruộng bậc thang, hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật, hình vũ khí, hình công cụ lao động, hình sinh thực khí, các vạch song song, các rãnh mài … Theo thông tin khảo cổ học ghi trên các bảng hướng dẫn du lịch trên bãi đá thì bãi đá có niên đại khoảng 2000 năm. Những ký tự trên các phiến đá ấy hiện nay vẫn là một bí ẩn, chưa thể giải mã hết được. Khả năng, những hình vẽ trên các phiến đá ấy là các ký hiệu mã hoá về tập tục văn hoá cổ xưa của người tiền sử. Và bãi đá này cũng có thể đây là khu đất tâm linh của cộng đồng. Người lái xe kể với tôi rằng, “cánh đồng nhiều chữ” này là nơi thần linh cất giữ những bí mật về sổ sách của trời. Hàng năm, vào ngày mùng một tháng sáu, dân bản đến bên các phiến đá dâng lễ vật và cúng thần đá. Chính bởi thế, với đồng bào Nùng ở Nấm Dẩn, bãi đá có những ký tự cổ chính là miền “đất thánh”. Bao đời nay đồng bào tin là thần đá sẽ giúp dân bản mưa thuận, gió hòa, hoa màu tốt tươi, nhân khang, vật thịnh. Đứng nhìn những phiến đá trầm mặc trên cánh đồng, những vết chạm khắc từng hằn sâu trên mặt đá nay cứ mờ dần theo sương gió, nắng mưa ta mới thấy thời gian vô cùng khắc nghiệt nhưng cũng mê hoặc đến lạ kỳ. Mê mải thả hồn theo dòng suy tưởng, trong tôi lại thấy trào dâng những nỗi niềm hoài cổ nghẹn ngào. Bất giác, tôi lại chợt nghĩ, cứ dầm mưa dãi nắng giữa trời như vậy liệu những dòng ký tự cổ xưa của tiền nhân ở Nấm Chanh kia trụ được bao lâu nữa. Trăm năm của một đời người thì đằng đẵng nhưng với “cuốn sử bằng đá” kia, vạn kỷ qua đi cũng chỉ là một bóng chớp qua thềm. Liệu rồi một mai những trang vở đá linh thiêng ấy có tan thành cát bụi, tan vào cõi gió sương vô định? Vẫn biết trên đời chẳng có gì là tồn tại vĩnh viễn nhưng nếu mỗi phiến đá ghi chữ của tiền nhân đang dầm mưa dãi nắng phơi sương ngoài kia có một mái nhà che mưa, chắn gió thì những vết chạm khắc của tổ tiên cũng có thể kéo dài tuổi thọ thêm được hàng trăm ngàn năm nữa để những thế hệ mai sau, khi đứng trước rêu phong, vẫn còn cơ hội giải mã bức thông điệp thâm trầm mà tổ tiên từ nghìn xưa gửi lại.

Chiều buông, rời bước ra khỏi bãi đá cổ, lòng tôi cứ bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa hoang dại, vừa tôn nghiêm của vùng cao biên giới Nấm Dẩn. Những địa danh như đèo Gió, thác Tiên, hay bãi đá cổ Nấm Chanh giờ đây không còn là những cái tên vô danh giữa đại ngàn heo hút mà đã được định danh trên bản đồ di sản nước nhà. Di tích Bãi đá cổ bản Nấm Chanh ở xã Nấm Dẩn đã được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 2008 và khu danh lam thác Tiên - đèo Gió cũng được xếp hạng thắng cảnh quốc gia vào năm 2009. Nhưng rồi lại nghĩ, bản đồ du lịch ở Nấm Dẩn đã mở ra nhưng giao thông và hạ tầng ở đây còn chưa theo kịp. Muốn nhiều người biết hơn nữa về những thắng cảnh và di sản ở Nấm Dẩn đường đi và các dịch vụ chắc chắn phải đi trước một bước để đón chân du khách. Nghĩ thế, rồi lại nhìn sang những vùng đất khác. Du lịch mở ra và bản sắc văn hoá cứ mất dần vì làn sóng thương mại hóa. Bất giác, tôi giật mình và tự hỏi: liệu một mai, khi rộn rã thanh âm của những bước chân du lịch, Nấm Dẩn có còn giữ nổi cho mình là một sinh thái trong lành nữa hay không?

Đ.T.T.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm
Chân mây 6 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Thành Tuyên trong câu chuyện thời thiếu nữ của ai. Trong rung động thời trai trẻ của ai. Hương hoa rừng ngào ngạt. Đồi núi bạt ngàn xanh mướt. Những bông hoa gạo nóng bỏng. Những dây leo lộng lẫy hoa vàng. Những viên gạch cổ rêu phong thiêng liêng. Và sông Lô hào hùng. Sông Lô dạt dào sóng nước.
Xem thêm
Chuyện về nhà thơ Hoa Níp sau 10 năm rời cõi tạm
Hoa Nip là nhà thơ trẻ từng tham gia hoạt động trong Ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn TP.HCM do nhà thơ Phan Hoàng làm trưởng ban. Dù sinh sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng mỗi khi Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức các chuyến đi thực tế, sáng tác anh đều tham gia và hoạt động rất tích cực. Trong quan hệ đồng nghiệp, anh được bạn bè yêu thương, trân quý. Trong sáng tác anh được đánh giá là một nhà văn trẻ giàu triển vọng. Nhưng cuộc đời quả vô thường, năm 2016, một tai nạn thương tâm xảy ra đã cướp đi sinh mạng của anh trong sự đau đớn và tiếc thương của gia đình và đồng nghiệp. Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Hoa Nip, Phùng Hiệu xin giới thiệu bài viết của cha anh - tác giả Trần Vinh.
Xem thêm
Cái đẹp đời thường trong tranh họa sĩ Vũ Dương - Bút ký Trần Trung Sáng
“Vẽ cuộc đời bằng cảm xúc” là chủ đề chương trình giới thiệu cuốn sách tranh của họa sĩ Vũ Dương do Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng phối hợp với Chi hội Mỹ thuật Việt Nam tại Đà Nẵng và gia đình họa sĩ Vũ Dương tổ chức trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua.
Xem thêm
Hành trình lan tỏa tình yêu biển đảo từ những lá cờ Tổ quốc mang dấu Trường Sa
Giữa mênh mông biển trời, lá cờ Tổ quốc tung bay trên các điểm đảo thuộc Quần đảo Trường Sa không chỉ khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam, mà còn nhắc nhở mỗi người dân đất Việt về trách nhiệm gìn giữ biển đảo quê hương bằng những hành động thiết thực, từ những điều giản dị nhất.
Xem thêm