TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được

Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-07-02 02:52:40
mail facebook google pos stwis
11 lượt xem

PGS.TS HỒ THẾ HÀ

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắngNợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.

 

Nhà thơ Bùi Việt Mỹ

 

Khoảng gió nắng

 

Ta đã nghe thấy những điều gió hát

chưa nhận ra người gió bao giờ

Có thể gió còng như thân tre

Ngày đốn dưới bão giông xóc gù gánh lúa

Có thể gió tròn như vỏ ốc

Ngày cát xoáy trơ gốc rạ ven sông.

 

Thì vẫn hoà chung với cái nắng mặn nồng

Nhưng chưa thấy nắng hiện thân củi, lửa

Có thể nắng hình cánh núi cong vênh

Ngày chiếc bi-đông khát khô vòng trận mạc

Có thể nắng tròn trên cánh mũ

Ngày sốt cao con vẫn đội tới trường.

 

Nhưng ta không nhận ra điều bất bình thường

Cứ nhẹ dạ, gửi tin vào nắng, gió

Rồi mai đây không gian già nua, rạc rời lối phố

Khoảng mông lung hụt hẫng bước chân mình. 

 

 Nợ vô hình

 

Chưa bao giờ tôi đi hết một ngày.

Một nửa hay một phần ba, chừng ấy

Còn nợ nắng, gió, mưa và nợ bạn bè.

 

Ngày ngày mang nợ

Những muộn phiền theo đó cứ gia tăng.

Sức tôi cạn đi

Đến lúc không còn khả năng đếm tính

Con nợ hiện hình sinh động sói trong tâm

Những luống cày mất mùa

Chỗ nằm không cửa

Viên thuốc và con chữ nơi con, đụm vá nơi thầy.

 

Chưa bao giờ tôi đi hết một ngày

Tôi muốn trả đủ đầy từng nợ ấy

Nhưng trời không cho

Bạn bè nữa, không ai đòi cả.

 

Năm trôi nhanh quá

Chưa có bùa cho cuộc mưu sinh

Và bởi thế

Một khoản nợ vô thường rốt cuộc đeo đuổi

Hình như đó là món nợ muôn đời

Với chính người mà tôi đã cho vay.

1/ Với bài thơ Khoảng gió nắng, anh bình tĩnh ngẫm suy về sự hiện hữu của cổ mẫu gió trên mặt đất và tác động của nó đến sự tồn tại của con người và tạo vật như thế nào: “Ta đã nghe thấy những điều gió hát/ chưa nhận ra người gió bao giờ/ Có thể gió còng như thân tre/ Ngày đốn dưới bão giông xóc gù gánh lúa/ Có thể gió tròn như vỏ ốc/ Ngày cát xoáy trơ gốc rạ ven sông”. Hình dung và tưởng tượng về gió như thế, Bùi Việt Mỹ đã tạo nên hình tượng gió với nhiều đặc điểm và ý nghĩa nhân hoá và biểu trưng bất ngờ: “gió hát”, “gió còng như thân tre”, “gió tròn như vỏ ốc”… Tất cả những trạng thái ấy của gió đều có tác động đến mọi sinh thể trên mặt đất, cả tích cực, nâng đỡ lẫn thử thách, tàn hại. Nhưng về mặt biểu trưng và triết mỹ, thì gió là hiện tượng tự do, luôn vận động, không bị giam cầm, giúp con người hiểu được sự vượt thoát những giới hạn ràng buộc trong mưu sinh thường nhật để vươn đến chiếm lĩnh và làm chủ cuộc sống.

Tiếp đến, Bùi Việt Mỹ liên hệ gió với nắng - cũng là một cổ mẫu có ý nghĩa biểu trưng sâu sắc, đi vào thơ anh như một hình tượng mang tính triết lý nhân sinh cả tích cực lẫn tiêu cực:

Thì vẫn hoà chung với cái nắng mặn nồng

Nhưng chưa thấy nắng hiện thân củi, lửa

Có thể nắng hình cánh núi cong vênh

Ngày chiếc bi-đông khát khô vòng trận mạc

Có thể nắng tròn trên cánh mũ

Ngày sốt cao con vẫn đội tới trường

Nắng không thể thiếu trong đời sống của con người, tượng trưng cho sự hồi sinh, mang lại năng lượng sống của mọi vật. Nắng tồn tại, làm hồi sinh và tươi xanh cây trái và mang lại niềm tin, sức sống mới cho nhân sinh. Dù gì, nắng và gió đều cần cho sự sống của con người hơn là cần cho chính chúng. Có điều, con người phải nhận ra sự tích cực và hạn chế, tiêu cực của chúng để khỏi rơi vào tình trạng nhẹ dạ, cả tin vào nắng gió một cách thất thường, dẫn đến những hệ luỵ cho thân thể và môi sinh (vì nắng và gió có thể làm ảnh hưởng đến sức khoẻ và có thể gây ra những đám cháy rừng ghê gớm, làm ảnh hưởng đến cấu trúc không gian xanh của trái đất…). Con người phải biết cách điều hướng nắng, gió để điều bình, đem lại lợi ích và sự phát triển tốt đẹp, hợp quy luật cho thiên nhiên và con người:

Nhưng ta không nhận ra điều bất bình thường

Cứ nhẹ dạ, gửi tin vào nắng, gió

Rồi mai đây không gian già nua, rạc rời lối phố

Khoảng mông lung hụt hẫng bước chân mình. 

Hiểu được ý nghĩa hàm ẩn, triết mỹ như thế của bài thơ, chúng ta mới thấy sự âu lo của Bùi Việt Mỹ trước sự biến đổi, nóng dần lên của trái đất đang từng phút từng giờ tương tác tích cực và tiêu cực đến từng không gian sống. Hiểu được sự vận hành của nắng, gió và ảnh hưởng của nó đến mọi sinh vật trên trái đất chính là sự hiểu biết, vươn lên làm chủ chính mình, làm chủ môi trường sinh hoạt ngày một tốt đẹp hơn. Nắng gió cũng có thể là hình tượng ẩn dụ mà nhà thơ Bùi Biệt Mỹ muốn liên hệ đến con người. Trong quan hệ nhân sinh, nhiều khi con người đối xử với nhau vô cùng tốt đẹp, nhưng cũng có lúc họ phản bội tình bạn và có những hành vi làm tổn hại người khác vì nhiều lý do và động cơ khác nhau. Đôi khi gửi tin vào người khác lại dẫn đến sự hụt hẫng rất đáng tiếc!. Mỗi người phải biết ứng xử và lựa chọn hành vi đạo đức theo phán đoán đúng để chống lại cái các, cái xấu xa, đớn hèn và bảo vệ lẽ phải để cái tốt được lên ngôi.

Với ý nghĩa đó, bài thơ Khoảng gió nắng mang lại giá trị nhận thức và ý nghĩa nhân sinh mới mẻ, có khả năng thanh lọc tâm hồn con người trong từng hoàn cảnh hiện sinh của thời hiện tại đang tiếp diễn.

2/ Bên cạnh bài thơ Khoảng gió nắng, Bùi Việt Mỹ viết tiếp bài thơ Nợ vô hình để liên hệ và triết nghiệm về sự mắc nợ của con người trước chính mình và trước mọi hiện hữu khác trên trần gian. Nắng, gió - hai hiện tượng tự nhiên, biểu hiện sinh động sự vận động vật lý trong thiên nhiên, dù con người không thể nắm bắt hoặc nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng con người cảm nhận được chúng một cách cụ thể trong từng trạng thái thời tiết và cảm xúc của chính mình. Con người luôn nhận đặc ân từ chúng và nợ chúng cũng như nhận đặc ân từ con người và nợ con người những món nợ hữu hình và vô hình nhưng đeo đẳng, dai dẳng trong từng suy nghĩ và cảm giác bé nhỏ mà Bùi Việt Mỹ đã nhận ra: “Chưa bao giờ tôi đi hết một ngày./ Một nửa hay một phần ba, chừng ấy/ Còn nợ nắng, gió, mưa và nợ bạn bè”. Sống trên đời, mỗi chúng ta đều luôn mắc nợ. Nợ nghĩa ân và nợ tình cảm là món nợ lớn nhất vì con người sinh ra không tồn tại độc lập mà phải luôn tương tác trong nhiều mối quan hệ nhân sinh. Ta nợ mẹ cha, người thân, bạn bè, sự tri ân, tri kỷ ngày một nhiều thêm. Đó là những món nợ vô giá mà ta mong lấy cả cuộc đời để trả nghĩa ân, nhưng không bao giờ trả được:

Ngày ngày mang nợ

Những muộn phiền theo đó cứ gia tăng.

Sức tôi cạn đi

Đến lúc không còn khả năng đếm tính

Con nợ hiện hình sinh động xói trong tâm  

Những luống cày mất mùa

Chỗ nằm không cửa

Viên thuốc và con chữ nơi con, đụm vá nơi thầy.

Từ nợ cuộc đời đến ý thức mắc nợ với thời gian và cuộc sống là hành động tích cực để nhớ ơn/ hàm ơn và có trách nhiệm trả nợ, nhưng không phải ai cũng nhận ra và ghi lòng, tạc dạ:

Chưa bao giờ tôi đi hết một ngày

Tôi muốn trả đủ đầy từng nợ ấy

Nhưng trời không cho

Bạn bè nữa, không ai đòi cả.

Trong nhiều cách mắc nợ và nhiều đối tượng mà mình thụ nợ, có khi ta trả nhưng họ không nhận, cũng không đòi. Trái lại có khi ta là chủ nợ, nhưng ta lại không đòi. Đó là nghĩa ân của những người bạn tốt. Nhưng cũng có khi không ai cần mượn, nhưng có người lại đem cho mượn với nhiều động cơ và mục đích khác nhau. Đó là những món nợ cho và nhận bất chính, nợ vô hình không thể trả và không thể đòi, dẫn đến ân oán và hận thù.

Từ liên hệ và mở rộng ý nghĩa của bài thơ Nợ vô hình, người đọc có thể nhận thức thêm một món nợ khác, đó là nợ với chính bản thân mình. Theo góc nhìn triết lý và góc nhìn phát triển nhân cách cá nhân, thì món nợ lớn nhất đôi khi là món nợ chính bản thân để tự mình ý thức và nỗ lực vươn lên chiếm lĩnh hiện thực đời sống nhằm thực hiện ước mơ, hoài bão trọn vẹn, mang lại hạnh phúc cho mình và gia đình theo khả năng có thể trong từng hoàn cảnh sống:

Năm trôi nhanh quá

Chưa có bùa cho cuộc mưu sinh

Và bởi thế

Một khoản nợ vô thường rốt cuộc đeo đuổi

Hình như đó là món nợ muôn đời

Với chính người mà tôi đã cho vay.

Hàm ơn và trả ơn là nguyên tắc và động thái văn hoá rất cao đẹp của con người - chủ thể có ý thức duy nhất trên trần gian có tên là cuộc sống. Điều đó cũng có nghĩa là con người luôn có ý thức phân biệt được việc nghĩa với việc vô ý nghĩa, việc thiêng liêng với việc tầm thường dù ở bất cứ cương vị nào, quan hệ nào. Chỉ khi biết mình mắc nợ với thiên nhiên, cuộc đời và người thân cũng cho ta thức nhận về sự sống và danh nghĩa con người là vô cùng vinh dự, nên không dễ dàng thờ ơ lảng tránh. Phải có trách nhiệm trả ơn, đáp đền và biết ơn người đã giúp mình. Khi ấy, ta đã đi gần về phía viên thành của đạo đức và nhân cách nhằm chống lại cái ác, cái lọc lừa, giả dối. Hai câu thơ cuối, Bùi Việt Mỹ còn hàm ý về thối đạo đức giả, trên thực tế không ít, đã nhờ cậy qua đồng tiền để mưu cầu chức quyền, bổng lộc thì rồi cứ phải theo đuổi mãi không thôi. Với trường hợp cụ thể này, đồng tiền sẽ thay cho quan hệ tình cảm…

***

Dù là hai bài thơ độc lập, nhưng Khoảng gió nắngNợ vô hình của Bùi Việt Mỹ có tính liên hệ và ám ảnh về thời gian hiện sinh đời người và quan hệ đạo đức trong sự đối sánh với quy luật bản chất và quy luật tương tác giữa thiên nhiên và con người trong sự cho và nhận, vay và nợ, thọ ơn và trả ơn… Từ đó, nhận ra ý nghĩa và nhân vị của chính mình và tha nhân trên hành trình tuần hoàn của sự sống. Vì vậy, việc chúng ta sinh ra và nhận lấy các món nợ và nỗ lực trả chúng bằng tình yêu thương, nhân ái và trách nhiệm chính là ý nghĩa đích thực của mỗi chủ thể hiện sinh. Dù trong thực tế, có nhiều món nợ hữu hình và vô hình mà suốt đời dù muốn trả, ta cũng không bao giờ trả được, hoặc có lúc ta cho vay nhưng không cần sự trả ơn, đền đáp. Nhưng chúng có khả năng thanh lọc tâm hồn, làm cho mỗi nhân vị được nhân đạo hơn, văn hoá hơn.

Vỹ Dạ-Huế, đêm 23/5/2016

H.T.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm