TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được

Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-07-02 02:52:40
mail facebook google pos stwis
375 lượt xem

PGS.TS HỒ THẾ HÀ

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.

 

Nhà thơ Bùi Việt Mỹ

 

Khoảng gió nắng

 

Ta đã nghe thấy những điều gió hát

Mà chưa nhận ra người gió bao giờ

Có thể gió còng như thân tre

Ngày đốn dưới bão giông xóc gù gánh lúa

Có thể gió tròn như vỏ ốc

Ngày cát xoáy trơ gốc rạ ven sông.

 

Thì vẫn hoà chung với cái nắng mặn nồng

Nhưng chưa thấy nắng hiện thân củi, lửa

Có thể nắng hình cánh núi cong vênh

Ngày chiếc bi-đông khát khô vòng trận mạc

Có thể nắng tròn trên cánh mũ

Ngày sốt cao con vẫn đội tới trường.

 

Nhưng ta không nhận ra điều bất bình thường

Cứ nhẹ dạ, gửi tin vào nắng, gió

Rồi mai đây không gian già nua, rạc rời lối phố

Khoảng mông lung hụt hẫng bước chân mình. 

 

 Nợ vô hình

 

Chưa bao giờ tôi đi hết một ngày.

Một nửa hay một phần ba, chừng ấy

Còn nợ nắng, gió, mưa và nợ bạn bè.

 

Ngày ngày mang nợ

Những muộn phiền theo đó cứ gia tăng.

Sức tôi cạn đi

Đến lúc không còn khả năng đếm tính

Con nợ hiện hình sinh động sói trong tâm

Những luống cày mất mùa

Chỗ nằm không cửa

Viên thuốc và con chữ nơi con, đụm vá nơi thầy.

 

Chưa bao giờ tôi đi hết một ngày

Tôi muốn trả đủ đầy từng nợ ấy

Nhưng trời không cho

Bạn bè nữa, không ai đòi cả.

 

Năm trôi nhanh quá

Chưa có bùa cho cuộc mưu sinh

Và bởi thế

Một khoản nợ vô thường rốt cuộc đeo đuổi

Hình như đó là món nợ muôn đời

Với chính người mà tôi đã cho vay.

1/ Với bài thơ Khoảng gió nắng, anh bình tĩnh ngẫm suy về sự hiện hữu của cổ mẫu gió trên mặt đất và tác động của nó đến sự tồn tại của con người và tạo vật như thế nào: “Ta đã nghe thấy những điều gió hát/ Mà chưa nhận ra người gió bao giờ/ Có thể gió còng như thân tre/ Ngày đốn dưới bão giông xóc gù gánh lúa/ Có thể gió tròn như vỏ ốc/ Ngày cát xoáy trơ gốc rạ ven sông”. Hình dung và tưởng tượng về gió như thế, Bùi Việt Mỹ đã tạo nên hình tượng gió với nhiều đặc điểm và ý nghĩa nhân hoá và biểu trưng bất ngờ: “gió hát”, “gió còng như thân tre”, “gió tròn như vỏ ốc”… Tất cả những trạng thái ấy của gió đều có tác động đến mọi sinh thể trên mặt đất, cả tích cực, nâng đỡ lẫn thử thách, tàn hại. Nhưng về mặt biểu trưng và triết mỹ, thì gió là hiện tượng tự do, luôn vận động, không bị giam cầm, giúp con người hiểu được sự vượt thoát những giới hạn ràng buộc trong mưu sinh thường nhật để vươn đến chiếm lĩnh và làm chủ cuộc sống.

Tiếp đến, Bùi Việt Mỹ liên hệ gió với nắng - cũng là một cổ mẫu có ý nghĩa biểu trưng sâu sắc, đi vào thơ anh như một hình tượng mang tính triết lý nhân sinh cả tích cực lẫn tiêu cực:

Thì vẫn hoà chung với cái nắng mặn nồng

Nhưng chưa thấy nắng hiện thân củi, lửa

Có thể nắng hình cánh núi cong vênh

Ngày chiếc bi-đông khát khô vòng trận mạc

Có thể nắng tròn trên cánh mũ

Ngày sốt cao con vẫn đội tới trường

Nắng không thể thiếu trong đời sống của con người, tượng trưng cho sự hồi sinh, mang lại năng lượng sống của mọi vật. Nắng tồn tại, làm hồi sinh và tươi xanh cây trái và mang lại niềm tin, sức sống mới cho nhân sinh. Dù gì, nắng và gió đều cần cho sự sống của con người hơn là cần cho chính chúng. Có điều, con người phải nhận ra sự tích cực và hạn chế, tiêu cực của chúng để khỏi rơi vào tình trạng nhẹ dạ, cả tin vào nắng gió một cách thất thường, dẫn đến những hệ luỵ cho thân thể và môi sinh (vì nắng và gió có thể làm ảnh hưởng đến sức khoẻ và có thể gây ra những đám cháy rừng ghê gớm, làm ảnh hưởng đến cấu trúc không gian xanh của trái đất…). Con người phải biết cách điều hướng nắng, gió để điều bình, đem lại lợi ích và sự phát triển tốt đẹp, hợp quy luật cho thiên nhiên và con người:

Nhưng ta không nhận ra điều bất bình thường

Cứ nhẹ dạ, gửi tin vào nắng, gió

Rồi mai đây không gian già nua, rạc rời lối phố

Khoảng mông lung hụt hẫng bước chân mình. 

Hiểu được ý nghĩa hàm ẩn, triết mỹ như thế của bài thơ, chúng ta mới thấy sự âu lo của Bùi Việt Mỹ trước sự biến đổi, nóng dần lên của trái đất đang từng phút từng giờ tương tác tích cực và tiêu cực đến từng không gian sống. Hiểu được sự vận hành của nắng, gió và ảnh hưởng của nó đến mọi sinh vật trên trái đất chính là sự hiểu biết, vươn lên làm chủ chính mình, làm chủ môi trường sinh hoạt ngày một tốt đẹp hơn. Nắng gió cũng có thể là hình tượng ẩn dụ mà nhà thơ Bùi Biệt Mỹ muốn liên hệ đến con người. Trong quan hệ nhân sinh, nhiều khi con người đối xử với nhau vô cùng tốt đẹp, nhưng cũng có lúc họ phản bội tình bạn và có những hành vi làm tổn hại người khác vì nhiều lý do và động cơ khác nhau. Đôi khi gửi tin vào người khác lại dẫn đến sự hụt hẫng rất đáng tiếc!. Mỗi người phải biết ứng xử và lựa chọn hành vi đạo đức theo phán đoán đúng để chống lại cái các, cái xấu xa, đớn hèn và bảo vệ lẽ phải để cái tốt được lên ngôi.

Với ý nghĩa đó, bài thơ Khoảng gió nắng mang lại giá trị nhận thức và ý nghĩa nhân sinh mới mẻ, có khả năng thanh lọc tâm hồn con người trong từng hoàn cảnh hiện sinh của thời hiện tại đang tiếp diễn.

2/ Bên cạnh bài thơ Khoảng gió nắng, Bùi Việt Mỹ viết tiếp bài thơ Nợ vô hình để liên hệ và triết nghiệm về sự mắc nợ của con người trước chính mình và trước mọi hiện hữu khác trên trần gian. Nắng, gió - hai hiện tượng tự nhiên, biểu hiện sinh động sự vận động vật lý trong thiên nhiên, dù con người không thể nắm bắt hoặc nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng con người cảm nhận được chúng một cách cụ thể trong từng trạng thái thời tiết và cảm xúc của chính mình. Con người luôn nhận đặc ân từ chúng và nợ chúng cũng như nhận đặc ân từ con người và nợ con người những món nợ hữu hình và vô hình nhưng đeo đẳng, dai dẳng trong từng suy nghĩ và cảm giác bé nhỏ mà Bùi Việt Mỹ đã nhận ra: “Chưa bao giờ tôi đi hết một ngày./ Một nửa hay một phần ba, chừng ấy/ Còn nợ nắng, gió, mưa và nợ bạn bè”. Sống trên đời, mỗi chúng ta đều luôn mắc nợ. Nợ nghĩa ân và nợ tình cảm là món nợ lớn nhất vì con người sinh ra không tồn tại độc lập mà phải luôn tương tác trong nhiều mối quan hệ nhân sinh. Ta nợ mẹ cha, người thân, bạn bè, sự tri ân, tri kỷ ngày một nhiều thêm. Đó là những món nợ vô giá mà ta mong lấy cả cuộc đời để trả nghĩa ân, nhưng không bao giờ trả được:

Ngày ngày mang nợ

Những muộn phiền theo đó cứ gia tăng.

Sức tôi cạn đi

Đến lúc không còn khả năng đếm tính

Con nợ hiện hình sinh động xói trong tâm  

Những luống cày mất mùa

Chỗ nằm không cửa

Viên thuốc và con chữ nơi con, đụm vá nơi thầy.

Từ nợ cuộc đời đến ý thức mắc nợ với thời gian và cuộc sống là hành động tích cực để nhớ ơn/ hàm ơn và có trách nhiệm trả nợ, nhưng không phải ai cũng nhận ra và ghi lòng, tạc dạ:

Chưa bao giờ tôi đi hết một ngày

Tôi muốn trả đủ đầy từng nợ ấy

Nhưng trời không cho

Bạn bè nữa, không ai đòi cả.

Trong nhiều cách mắc nợ và nhiều đối tượng mà mình thụ nợ, có khi ta trả nhưng họ không nhận, cũng không đòi. Trái lại có khi ta là chủ nợ, nhưng ta lại không đòi. Đó là nghĩa ân của những người bạn tốt. Nhưng cũng có khi không ai cần mượn, nhưng có người lại đem cho mượn với nhiều động cơ và mục đích khác nhau. Đó là những món nợ cho và nhận bất chính, nợ vô hình không thể trả và không thể đòi, dẫn đến ân oán và hận thù.

Từ liên hệ và mở rộng ý nghĩa của bài thơ Nợ vô hình, người đọc có thể nhận thức thêm một món nợ khác, đó là nợ với chính bản thân mình. Theo góc nhìn triết lý và góc nhìn phát triển nhân cách cá nhân, thì món nợ lớn nhất đôi khi là món nợ chính bản thân để tự mình ý thức và nỗ lực vươn lên chiếm lĩnh hiện thực đời sống nhằm thực hiện ước mơ, hoài bão trọn vẹn, mang lại hạnh phúc cho mình và gia đình theo khả năng có thể trong từng hoàn cảnh sống:

Năm trôi nhanh quá

Chưa có bùa cho cuộc mưu sinh

Và bởi thế

Một khoản nợ vô thường rốt cuộc đeo đuổi

Hình như đó là món nợ muôn đời

Với chính người mà tôi đã cho vay.

Hàm ơn và trả ơn là nguyên tắc và động thái văn hoá rất cao đẹp của con người - chủ thể có ý thức duy nhất trên trần gian có tên là cuộc sống. Điều đó cũng có nghĩa là con người luôn có ý thức phân biệt được việc nghĩa với việc vô ý nghĩa, việc thiêng liêng với việc tầm thường dù ở bất cứ cương vị nào, quan hệ nào. Chỉ khi biết mình mắc nợ với thiên nhiên, cuộc đời và người thân cũng cho ta thức nhận về sự sống và danh nghĩa con người là vô cùng vinh dự, nên không dễ dàng thờ ơ lảng tránh. Phải có trách nhiệm trả ơn, đáp đền và biết ơn người đã giúp mình. Khi ấy, ta đã đi gần về phía viên thành của đạo đức và nhân cách nhằm chống lại cái ác, cái lọc lừa, giả dối. Hai câu thơ cuối, Bùi Việt Mỹ còn hàm ý về thối đạo đức giả, trên thực tế không ít, đã nhờ cậy qua đồng tiền để mưu cầu chức quyền, bổng lộc thì rồi cứ phải theo đuổi mãi không thôi. Với trường hợp cụ thể này, đồng tiền sẽ thay cho quan hệ tình cảm…

***

Dù là hai bài thơ độc lập, nhưng Khoảng gió nắng và Nợ vô hình của Bùi Việt Mỹ có tính liên hệ và ám ảnh về thời gian hiện sinh đời người và quan hệ đạo đức trong sự đối sánh với quy luật bản chất và quy luật tương tác giữa thiên nhiên và con người trong sự cho và nhận, vay và nợ, thọ ơn và trả ơn… Từ đó, nhận ra ý nghĩa và nhân vị của chính mình và tha nhân trên hành trình tuần hoàn của sự sống. Vì vậy, việc chúng ta sinh ra và nhận lấy các món nợ và nỗ lực trả chúng bằng tình yêu thương, nhân ái và trách nhiệm chính là ý nghĩa đích thực của mỗi chủ thể hiện sinh. Dù trong thực tế, có nhiều món nợ hữu hình và vô hình mà suốt đời dù muốn trả, ta cũng không bao giờ trả được, hoặc có lúc ta cho vay nhưng không cần sự trả ơn, đền đáp. Nhưng chúng có khả năng thanh lọc tâm hồn, làm cho mỗi nhân vị được nhân đạo hơn, văn hoá hơn.

Vỹ Dạ-Huế, đêm 23/5/2016

H.T.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm