TIN TỨC

Khát vọng người xưa và trách nhiệm hậu thế

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-07-04 23:35:52
mail facebook google pos stwis
14 lượt xem

NGUYỄN KHẮC PHÊ

“Người xưa” mà nhà văn – không thẻ Trần Bảo Định bàn về khát vọng của họ là những tên tuổi nay đã ở “cõi khác” hơn bảy thập kỷ! Có thể gọi họ là nhà cách mạng, là danh nhân; bà góa phụ Trần Văn Sĩ (người bạn cùng chí hướng với Tạ Thu Thâu, đã bị tù Côn Đảo với Nguyễn An Ninh và mất ở đó) còn tôn vinh họ là “vĩ nhân” là “ngôi sao sáng” của dân tộc…

Khát vọng người xưa và trách nhiệm hậu thế - 1

Cuốn "Dấu thời gian – Khát vọng người xưa" của Trần Bảo Định

 

Cũng có thể gọi họ là những người tìm đường, những người đi tiên phong trước Cách mạng mùa Thu. Lịch sử nhân loại cũng như dân tộc ta, mỗi khi bước qua một giai đoạn mới đều có một lớp người tinh hoa, dám quên mình xả thân tìm con đường tốt đẹp nhất cho đất nước, cho dân tộc. Trong lớp tinh hoa ấy, không phải ai cũng đi đến đích như Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh; nhưng những tên tuổi như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu… trên đường dài đầy những trăn trở và bất trắc tìm lối đi cứu nước đã để lại những bài học quý giá cho đến tận hôm nay.

Cuốn "Dấu thời gian – Khát vọng người xưa" cũng là những câu chuyện tìm đường, mở đường cứu nước của bảy nhân vật tầm cỡ đầu thế kỷ XX. Trần Bảo Định, sau hơn chục tập truyện đậm đà phong vị tính cách con người và sinh thái vùng đất mở phía Nam, lần này cho xuất bản một cuốn sách khá độc đáo - là tác phẩm “2 trong 1” chưa có tiền lệ: mỗi nhân vật đều có bài khảo cứu và tiếp theo là một truyện ngắn, được tác giả xây dựng từ một sự kiện, một kỷ niệm, một con người có quan hệ đến nhân vật vừa được giới thiệu kỹ lưỡng; riêng hai truyện Thất Sơn – Truyền thuyết Ông Ba Mươi và truyện Con trùn đất đồng bằng sông Cửu Long thì ngẫm kỹ mới nhận ra đằng sau câu chuyện ẩn giấu thái độ, tính chất thực của hai nhân vật Nguyễn Hào Vĩnh và Hồ Hữu Tường...

Điều đặc biệt nữa là bảy nhân vật hầu hết là những tên tuổi lừng danh một thời trong lịch sử, nhưng đến nay rất ít được nhắc đến. Nói là “hầu hết” vì trong bảy nhân vật, có hai người chưa bị hậu thế lãng quên, đó là danh nhân Lương Văn Can (1854-1927), người sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục, từng được giới thiệu trên nhiều sách báo. Tuy vậy, những trang khảo cứu của Trần Bảo Định đã nhấn mạnh đến khía cạnh khá thú vị là tư tưởng kinh doanh Lương Văn Can cũng như Trần Chánh Chiếu, đặc biệt ở khía cạnh giáo dục và ý nghĩa văn hoá - xã hội, cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Người thứ hai là nhà cách mạng Nguyễn An Ninh (1900-1943), mấy năm gần đây, Tạp chí Hồn Việt đã đăng một số bài khẳng định ông là “nhà cách mạng chân chính”. Nói vậy, cũng là cách bác bỏ dư luận sai trái một thời gian dài về ông. Bài viết của bà Nguyễn Thị Minh, con gái Nguyễn An Ninh, trên Hồn Việt số tháng 8/2013, đã dẫn ra rất nhiều sự kiện và tài liệu tin cậy về những điều đó. Bài khảo cứu Thanh niên cao vọng Nguyễn An Ninh của Trần Bảo Định dài đến 40 trang, một lần nữa, nêu cao phẩm giá cũng như vài trò to lớn của Nguyễn An Ninh đối với phong trào cách mạng Việt Nam trước 1945, nhất là ở miền Nam.

Một người từng hoạt động với các tên tuổi lớn như Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Tất Thành (tức Nguyễn Ái Quốc) tại Pháp khi đất nước còn chìm trong nô lệ, khi về Sài Gòn, các hoạt động của ông “mang tầm vóc lớn lao” khiến “thực dân Pháp run sợ” và cuối đời đã hy sinh tại Côn Đảo mà còn những nhận định sai lạc, đến mức nhà cách mạng lão thành Hà Huy Giáp, phải đợi sau khi nghỉ hưu, mới “chủ trì cuộc hội thảo khoa học đầu tiên về Nguyễn An Ninh tại Bảo tàng TP Hồ Chí Minh (ngày 15/9/1987).

Tại đây, một vị phó ban nghiên cứu lịch sử Đảng của TP Hồ Chí Minh còn nói: “Nguyễn An Ninh là nhà yêu nước được đồng bào Nam Bộ tôn vinh, nhưng ông có quan điểm quốc gia cải lương vì thế không nên bôi đỏ ông”. Còn anh Dương Đình Thảo lúc đó là Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban Tuyên huấn Thành ủy TP Hồ Chí Minh  phát biểu: “Không ai bôi đỏ Nguyễn An Ninh, nhưng không cho phép ai bôi đen Nguyễn An Ninh” (Theo bài của Nguyễn Thị Minh đã dẫn).

Cần nhắc lại những điều trên để thấy trên con đường giải phóng, vì độc lập và tự do của Tổ quốc Việt Nam, còn nhiều nhân vật thuộc loại tinh hoa đã trăn trở, tìm tòi, chịu mọi hy sinh và thậm chí oan trái mà hậu thế có trách nhiệm làm sáng tỏ và “cần ngẫm nghĩ  để kế thừa di sản khát vọng của người xưa” như Lời nhà xuất bản đã viết. 

Năm nhân vật khác trong cuốn sách mới của Trần Bảo Định không có may mắn như Lương Văn Can và Nguyễn An Ninh. Đó là Trần Chánh Chiếu (1868-1919), Nguyễn Hào Vĩnh (1893-1941), Hồ Hữu Tường (1910-1980), Phan Văn Hùm (1902-1946), Tạ Thu Thâu (1906-1945) - những nhân vật nổi danh, gây sóng gió một thời, bị thực dân Pháp bỏ tù nhưng đến nay sách báo ít nhắc đến. Có lẽ khó kể hết “lý do” về điều đó. Thì lịch sử đất nước ta còn có biết bao anh hùng, liệt sĩ chỉ có tấm bia mộ ghi tên ở các nghĩa trang. Đó là chưa nói đến hàng vạn liệt sĩ “vô danh” nằm lặng lẽ trên Trường Sơn heo hút, trên những đỉnh cao biên giới phía Bắc, nơi núi đá đã biến thành lò vôi!

Trong năm tên tuổi kể trên, hai nhân vật Phan Văn Hùm và Tạ Thu Thâu có nhiều điểm tương đồng. Cả hai chào đời trong mấy năm đầu thế kỷ XX và không may cùng gặp “tai nạn” vào thời điểm ngay trước và sau Cách mạng tháng Tám, ở độ tuổi đang sung sức.

Chỉ cần điểm qua các cột mốc trong cuộc đời hơn 40 năm của chí sĩ yêu nước Phan Văn Hùm đã thấy ông là nhân vật tầm cỡ không chỉ của trí thức Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX. Ông quê làng An Thạnh, quận Lái Thiêu, tỉnh Thủ Dầu Một (nay thuộc tỉnh Bình Dương). Sau khi tốt nghiệp trung học tại Sài Gòn, ông ra Hà Nội học Trường Cao đẳng Công chánh từ 1923-1925.

Từ 1926-1929, ông bắt đầu dấn thân đấu tranh mà đỉnh điểm là vụ Cai Nên ở Bến Lức (trong khi cùng Nguyễn An Ninh tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước ngụy trang dưới hình thức phổ biến sách giáo lý tôn giáo, chiều ngày 28/9/1928, khi hai ông đến ga Bến Lức thì bị tên Cai Nên - nhận lệnh mật thám Nam Kỳ - tạo cớ gây khó dễ và dùng vũ lực; hai ông chống đỡ và đánh trả lại. Liền sau đó, cả hai bị bắt giam tại Khám Lớn, Sài Gòn; chúng buộc tội hành hung người thi hành công vụ).

Trong tù, ông viết Ngồi tù Khám Lớn. Ra tù, ông sang Pháp hoạt động và sau 3 năm học (1929-1933), tốt nghiệp Thạc sĩ Triết tại Đại học Sorbonne. Do hoạt động chính trị, ông bị chính quyền Pháp truy lùng, trốn sang Bỉ và năm 1933 trở về Sài Gòn, vừa dạy học vừa cùng bạn bè ra tờ báo La Lutte (Tranh đấu), đồng thời làm chủ bút báo Đồng Nai và cộng tác với báo chí cả nước.

Từ 1936-1939, ông tham gia nghị trường để có tiếng nói mạnh mẽ hơn đấu tranh với bọn thực dân và bênh vực dân chúng; cùng với Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Tạo, ông trúng cử Hội đồng Thành phố Sài Gòn. Từ 1939-1942, ông bị tù Côn Đảo. Ra tù, bị quản thúc tại Tân Uyên, ông biên soạn, hiệu chú nhiều công trình có giá trị như Nỗi lòng Đồ Chiểu, Biện chứng pháp phổ thông, Triết học Phật giáo, Vương Dương Minh…Vậy mà năm 1946, ông đã bị sát hại, cho đến nay, hơn 7 thập kỷ đã qua, vẫn chưa có cơ quan “chính thống” nào công bố lý do…

Tạ Thu Thâu xuất thân trong một gia đình lao động, đông anh em, quê ở xã Tân Bình, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. May mắn có người cha làm nghề thợ mộc đi đây đó, sớm nhận ra “Tư Thâu phải là người có học – Tây học – để ngày sau, có thể giúp đời cứu người thoát khỏi cảnh lầm than..” nên anh được lên tỉnh học trung học. Trần Bảo Định dẫn một chi tiết trong cuốn Nhà cách mạng Tạ Thu Thâu của bà Phương Lan Bùi Thế Mỹ (Nhà “Khai Tri” in năm 1974): Lên tỉnh học, “cành người kéo xe tác động sâu sắc đến nhận thức Tư Thâu. Vì sao người cỡi người…” bỗng nhớ đến bức tranh Người kéo xe của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Le Paria (khoảng từ 1922-1926)…

Tư Thâu là lớp hậu sinh, nhưng từ lúc học trung học đồng thời dạy học kiếm sống ở trong nước, đã chứng tỏ một bản lĩnh và trí tuệ khác thường. Anh đã “tập trung nghiên cứu về mặt lý luận tư tưởng. Trong số đó có cả tư tưởng cách mạng của Tôn Dật Tiên ở Trung Quốc, chủ nghĩa cộng sản qua cách nhìn của Boukharin và Zinoviev, phong trào của Gandhi ở Ấn Độ…”; anh còn tham dự các buổi diễn thuyết về chính trị, xã hội tại “Club đu Faubourg” để “thúc đẩy tư tưởng càng thêm chín muồi, cập nhật các tư tưởng trào lưu mới ở phương Tây, và nhất là phát triển khả năng biện chứng của mình…”.

Một con người với cao vọng giải phóng dân tộc như thế, khi sang Pháp, vừa theo học tại Đại học Paris, vừa tham gia Đảng Việt Nam Độc lập (Parti Annamite de l’ Indépendence – P.A.I.) do Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh thành lập; và khi hai ông về nước, đã chọn Tạ Thu Thâu lèo lái P.A.I. theo Trần Bảo Định, mặc dù tư tưởng Tạ Thu Thâu đã tiến xa hơn một bước so với chủ trương của P.A.I, nhưng nể trọng hai người anh đã tác thành ý thức cách mạng cho mình, ông đã dốc tâm huyết làm tròn sự ủy thác.

Ông cũng đã khước từ cơ hội qua Moscow học tập, trước khi lãnh trách nhiệm với P.A.I. bởi khi “vừa đến Paris, Thâu đã dò hỏi chương trình huấn luyện của trường cán bộ ở Moscow rồi… Những sách vở thuộc về chương trình này từ còn ở bên nhà, Thâu đã có dịp đọc kỹ. Lúc  ấy, Thâu muốn nghiên cứu cho thâm viễn hơn…” (Theo tác giả Huân Phong, bài viết từ năm 1965 trên Hòa đồng số 48)…

Nhân đây, cần nhắc lại một sự kiện trong tác phẩm Nguyễn Ái Quốc qua hồi ức của một bà mẹ Nga của nhà văn - anh hùng lao động Sơn Tùng - một “chuyên gia” viết về cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh (NXB Thanh niên, 2007 - tái bản 2008). Do có cơ hội chuyện trò với “bà mẹ Nga” - bà Vêra, “người gần gũi làm việc với Nguyễn Ái Quốc nhiều thời kỳ 1923-1924, 1925-1928 và 1934-1938” - Bà từng làm việc trong “Ban La tinh” Quốc tế Cộng sản rồi chuyên trách công tác của trường Đại học Phương Đông mang tên Stalin, nên Sơn Tùng đã có thể viết: “…Nguyễn Ái Quốc nổi tiếng như thế lại không được mời làm đại biểu chính thức tại Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ 6 và 7, không được giao công tác trong nhiều năm. Mẹ Vêra, nhân chứng thời đó đã kể:

 “… Trong Đại hội 6, những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về vấn đề dân tộc và thuộc địa bị phê phán dữ dội, kết luận Nguyễn Ái Quốc chỉ là người yêu nước nhiệt tình, không phải cách mạng vô sản mà là “Cách mạng nửa vời”, một thứ cách mạng trộn lẫn Cách mạng Mỹ (1776), Cách mạng Pháp (1789) với Cách mạng Nga (1917) thành một cục! Thể hiện ở sách “Đường Cách Mệnh” và ở “Hội Thanh niên Cách mạng đồng chí”. Một số đại biểu còn lên án Nguyễn Ái Quốc xét lại chủ nghĩa Mác, đòi bổ sung học thuyết Mác như “…Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của Chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được…”. Lại nữa: “…Mác đã xây dựng học thuyết của mình  trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn nhân loại…”… Đồng chí Xtalin tỏ vẻ khó chịu nhất là về vấn đề này…”

 

Khát vọng người xưa và trách nhiệm hậu thế - 2

Nhà văn Trần Bảo Định 

 

Về giai đoạn đặc biệt này của Nguyễn Ái Quốc, Biên niên tiểu sử Hồ Chí Minh (Tập 2 – NXB Chính trị quốc gia Sự thật) cũng đã tóm lược như sau:

“…Trong việc đấu tranh để xác lập và bảo vệ đường lối cách mạng đúng đắn chống mọi khuynh hướng “tả” và hữu trong Đảng ta và trong Quốc tế Cộng sản, Người đã bình tĩnh, sáng suốt, kiên trì giữ vững quan điểm sáng tạo, đúng đắn của mình….”.

Cần nhớ lại giai đoạn này của Nguyễn Ái Quốc để thấy tầm nhìn xa trông rộng của Tạ Thu Thâu. Sau khi trở về nước, ông tiếp tục tranh đấu trên phương diện báo chí xã hội (1930-1937) và trên nghị trường rồi bị bắt giam (1937-1939); ra tù, ông ứng cử nghị viên và bị tù ở Côn Đảo (1939-1944)… 

Tác giả không nhắc đến sự kiện Tạ Thu Thâu bị thủ tiêu tại Quảng Ngãi năm 1945, sau khi ông được phóng thích từ nhà tù Côn Đảo, chuẩn bị thành lập Đảng xã hội thợ thuyền và xuất bản báo Chiến đấu, vì cho đến nay, chưa có cơ quan nào công bố bằng chứng xác thực. Hơn bảy thập kỷ đã qua, bây giờ đã có thể nói rằng, cũng như Phan Văn Hùm, ông đã bị sát hại bởi một “tổ chức nào đó”, nhưng đây là một “nghi án” có lẽ không bao giờ được làm sáng tỏ?

Tuy vậy, qua bài viết Tạ Thu Thâu – chàng trai Lấp Vò trên đất Pháp dài gần 40 trang, Trần Bảo Định đã giúp bạn đọc thấy rõ “tấm lòng nhân đạo và tình yêu quê hương ngời sáng” của Tạ Thu Thâu. Và với ông, “cách mạng, tức là cách mạng cho nhân dân – những người lao động cùng khổ lầm than […] Ông là nhà cách mạng với trái tim của nhà nhân đạo chủ nghĩa mang tư tưởng (chẳng phải duy tâm hay duy vật) mà là nhà nhân bản luận, thể hiện tính Nam Kỳ rõ nét…”.

Trần Bảo Định có thể “đúc kết” như trên, một phần nhờ được tiếp cận công trình của các tác giả trước 1975 ở miền Nam (như bà Phương Lan Bùi Thế Mỹ và ông Huân Phong…) và mặt khác, còn có sự chiêm nghiệm từ chính cuộc đời hoạt động cách mạng của mình suốt hơn nửa thế kỷ vừa qua. Và với việc tên đường Tạ Thu Thâu đã được đặt tại phường Hiệp Phú, Thành phố Thủ Đức, cuộc đời ông mặc nhiên đã sáng rõ…

Còn trong thời kỳ rối rắm, phức tạp và cả ấu trĩ của buổi đầu cách mạng, sự lầm lẫn đã khiến nhiều người gặp “tai nạn”, chứ không chỉ Phan Văn Hùm và Tạ Thu Thâu! (Như nhà văn, dịch giả nổi tiếng Nhượng Tống (1906-1949) từng tham gia thành lập Quốc Dân Đảng, bị đày Côn Đảo từ 1929-1933, sau khi ra tù dịch sách, viết sách và bị ám sát năm 1949 và mãi đến năm 2021, nhà văn Yên Ba mới có thể viết cuốn sách về ông - NXB Hội Nhà văn, 2021. Cả những người không hoạt động gì đáng kể như em trai nhà thơ Lương An – tác giả Cô lái đò – cũng bị sát hại tại Quảng Trị. Tôi từng sống với nhà thơ Lương An nhiều năm, vậy mà sau khi ông qua đời mới biết câu chuyện đau lòng này!).

Với cách bố cục tập sách, mở đầu là Lương Văn Can và sau cùng là Nguyễn An Ninh, tác giả đã “giúp cho bạn đọc thuận tiện tiếp nhận sự  dịch chuyển quan niệm yêu nước và tư tưởng canh tân đầu thế kỷ XX…”. Cùng với bảy câu chuyện kèm theo sau phần khảo cứu, Trần Bảo Định không chỉ cung cấp rất nhiều kiến thức thông qua “khát vọng của người xưa” mà còn chuyển tải những thông điệp quan trọng về xây dựng chủ nghĩa nhân văn trong sáng, trước tình trạng “ý - tình - lý bị thui chột, biến dạng nhân hình - biến dạng nhân tính, sự vong bản bắt đầu […] Và con người trở thành loài ký sinh tai hại đang ngày từng ngày phá hủy địa cầu” đã được học giả Hồ Hữu Tường cảnh báo từ gần một thế kỷ trước!.... 

Những tên tuổi vừa nhắc đến có vị thế rất đặc biệt, có thể ví họ là nhóm “tiền trạm” hoặc là những hoa tiêu tìm con đường tốt đẹp cho dân tộc thoát khỏi chế độ phong kiến lạc hậu và nô lệ thực dân giữa thời kỳ cả nhân loại đang loay hoay trước các “ngã ba” không dễ nhận ra đâu là “đại lộ”. Vì nhiều lẽ, họ chưa đi tới đích hoặc là đã không may gặp “tai nạn” trên hành trình tìm kiếm, nhưng những hoạt động nhiều mặt liên tục và sổi nổi của họ những năm đầu thế kỷ XX đã góp phần to lớn kích hoạt lòng yêu nước, ý chí đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc của đông đảo quần chúng, nhất là ở Nam Bộ.

Các vị tiền bối ấy lúc sinh thời chẳng cần kể công trạng, huống chi nay đã ở “cõi khác”, nhưng có thể nói, chính nhờ họ mà ngay khi  “lực lượng Việt Minh” còn non trẻ, một trí thức Tây học như bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, thủ lĩnh Phong trào Thanh niên Tiền phong, chỉ trong một thời gian  ngắn, đã tập hợp được hàng vạn thanh niên và quần chúng tại vườn hoa Tao Đàn (Sài Gòn) ngày 2/7/1945, cất cao tiếng hát “Này thanh niên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi…”, dẫn đến thành công của Cách mạng tháng Tám tại Nam Bộ…

Phẩm cách cao quý và cả những điều mà lớp người tinh hoa của dân tộc bước đầu khai mở trước thềm cuộc Cách mạng mùa Thu, rất đáng để hậu thế nghiền ngẫm với cả lòng biết ơn sâu đậm…

(Nhân đọc “Dấu thời gian – Khát vọng người xưa” – Khảo cứu & Truyện của Trần Bảo Định – NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2022)

N.K.P

Bài viết liên quan

Xem thêm
Suy nghĩ về Luật Báo chí năm 2025
Từ góc nhìn của một người nhiều năm công tác trong lĩnh vực quản lý nhà nước về báo chí, từng lãnh đạo cơ quan báo chí và giảng dạy nghiệp vụ báo chí, Đại tá, nhà báo Trần Thế Tuyển chia sẻ những suy nghĩ về đạo luật mới qua bài viết Dĩ bất biến ứng vạn biến.
Xem thêm
Nghĩ về sứ mệnh của báo chí
Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và yêu cầu tiếp tục sắp xếp hệ thống báo chí theo hướng tinh gọn, hiệu quả, câu chuyện về sứ mệnh, mô hình phát triển và tương lai của báo chí Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề cần được nhìn nhận một cách toàn diện, khoa học và nhân văn.
Xem thêm
“Trang sách và mái trường” mang ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ của một sân chơi sáng tác
Bài phát biểu tại buổi lễ phát động cuộc thi viết về “ Trang sách & Mái trường”do Nhà xuất bảo Giáo dục Việt Nam và Hội nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức tại Tp. Hồ Chí Minh vào sáng ngày 12/6/2026
Xem thêm
Nhà văn Phố Giang với tác phẩm “Một dòng họ học hành đỗ đạt và giàu lòng nhân ái”
Tôi sinh hoạt cùng anh ở Hội thơ Nghệ Tĩnh tại TP.HCM & Hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, đã được anh tặng hai tác phẩm thơ: Hoa trái cuối mùa, 99 Khúc tình thơ và tác phẩm văn Một dòng họ Học hành đỗ đạt và giàu lòng nhân ái. Kể từ năm 2004 đến nay, anh đã xuất bản 8 tác phẩm thơ và 4 tác phẩm văn. Thật đáng khâm phục và tự hào với bút lực phi thường và sự cần cù sáng tạo của anh.
Xem thêm
Hành trình đi, suy ngẫm và viết
Một hôm, nhà báo Tô Đình Tuân gửi cho tôi tập bản thảo khá dày. Tôi đọc và viết không chỉ vì tình cảm đồng nghiệp quen biết nhiều năm trong nghề báo, mà còn bởi tôi hiểu khá rõ con người và hành trình nghề nghiệp của tác giả. Đặc biệt, trong giai đoạn tôi được phân công làm Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng, Tô Đình Tuân là một cộng sự đắc lực, luôn tận tâm, trách nhiệm và đầy nhiệt huyết với công việc.
Xem thêm
Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc: Từ người yêu nước đến “Đường kách mệnh”
Từ hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành đến sự ra đời của Đường Kách mệnh, bài viết của PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ giúp người đọc nhìn lại một chặng đường lịch sử đặc biệt – nơi chủ nghĩa yêu nước gặp gỡ chủ nghĩa Mác – Lênin để hình thành tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh và mở lối cho dân tộc Việt Nam đi tới độc lập, tự do.
Xem thêm
Lại thêm một cuốn sách ồn ào
Những ồn ào quanh Chuyện với Thanh rồi sẽ qua đi. Nhưng câu chuyện về cách ứng xử với lịch sử, với văn học và với những khác biệt trong quan điểm tiếp nhận sẽ còn tiếp tục đặt ra. Một xã hội văn minh cần có những cuộc tranh luận văn hóa nghiêm túc. Và điều kiện đầu tiên của mọi cuộc tranh luận nghiêm túc là đọc trước khi phán xét, hiểu trước khi kết luận. Đó chính là thông điệp của người viết bài này. Chỉ khi đó, tiếng nói của lý trí mới không bị lấn át bởi sự ồn ào của đám đông.
Xem thêm
Văn học, nghệ thuật Việt Nam không ngừng phát triển, đồng hành cùng dân tộc
Trong suốt 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (1975-2025), văn học, nghệ thuật Việt Nam đã không ngừng phát triển, đồng hành cùng công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Trên nền tảng tư tưởng, văn hóa của Đảng và truyền thống dân tộc, văn học, nghệ thuật đã thực sự trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; góp phần bồi đắp bản sắc văn hóa, xây dựng nhân cách con người Việt Nam, phản ánh hiện thực đời sống xã hội, đồng thời lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Xem thêm
Có một sự đồng điệu giữa văn hoá và nghệ thuật Việt-Pháp
Thierry kể về Paris những năm tuổi trẻ. Nhà của Thierry cách trường Sư phạm ENS Paris chừng mười lăm phút đi bộ. Ông nói về các quán cà phê nơi giới trí thức Pháp từng tranh luận thâu đêm, về những phòng tranh nhỏ ở Saint-Germain-des-Prés, về Foucault với những suy tư sâu thẳm về con người và tự do. Khi nhắc đến Foucault, giọng ông chậm lại như đang nhớ về một người bạn cũ đã ra đi rất xa. Sau đó Thierry hỏi Tú rằng tại sao anh lại đến ven sông Sài Gòn để làm mỹ thuật.
Xem thêm
Văn học trong kỷ nguyên số
Với sự phát triển của các phương tiện truyền thông mới và công nghệ mới, những thay đổi lớn đã diễn ra trong cách sáng tác và đọc văn học. Đặc biệt là sự phổ biến của văn học trực tuyến và đọc điện tử, đã làm thay đổi rất nhiều cấu trúc và hệ sinh thái văn học truyền thống. Trong cuộc cách mạng thông tin và truyền thông sâu rộng này, văn học thời đại số sẽ đứng trước những cơ hội và thách thức mới.
Xem thêm
Người trẻ và văn chương tìm đường gặp nhau
Trong thời đại số, chỉ với một cú chạm màn hình, giới trẻ có thể tiếp cận vô vàn nội dung giải trí và tri thức, khiến những trang văn cần đọc chậm, chiêm nghiệm dần đánh mất vị trí trung tâm trong thói quen tiếp nhận.
Xem thêm
Văn học có thực sự chữa được cô đơn?
Ngày nay, thông qua mạng xã hội và các phương tiện công nghệ, con người kết nối với nhau nhiều hơn bao giờ hết. Nhưng một thực tại lại xảy ra: Dường như con người đang cô đơn hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh ấy, văn học nghệ thuật được kỳ vọng là sợi dây hàn gắn liên kết giữa người với người. Liệu một cuốn sách có thể mang tới sự gắn kết? Từ những cuộc đối thoại trong chuỗi sự kiện Những ngày Văn học châu Âu 2026, câu hỏi ấy đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Xem thêm
Nhà văn làm báo ở chiến trường - Trên tuyến đầu chống Mỹ - Tất cả cho ngày thống nhất non sông
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, văn nghệ sĩ vào chiến trường rất sớm. Đã sớm hình thành một “binh chủng văn nghệ sĩ” tại chiến trường vừa cầm trực tiếp cầm súng vừa trực tiếp sáng tác, đây là một điều đặc biệt của cuộc chiến tranh, một dấu ấn đặc sắc, để sau này nhìn lại chúng ta càng nhận thức rõ nét hơn, ý thức sâu sắc hơn về chiến tranh, để từ đó xây dựng vững chắc nền hòa bình với sự hiểu biết và trưởng thành của con người Việt Nam thời đại mới.
Xem thêm
Giữ trẻ em ở lại với văn chương
Áp lực học hành, nhịp sống gấp gáp và sức hút của giải trí số khiến trẻ em đang dần xa những trang sách. Để văn học thiếu nhi tìm lại vị trí trong đời sống hôm nay, điều quan trọng không nằm ở tác phẩm hay, mà ở môi trường đọc được nuôi dưỡng bền bỉ từ gia đình, nhà trường, người viết, nhà xuất bản và toàn xã hội. Từ đó, trẻ có thêm những khoảng lặng để mơ mộng, tưởng tượng và lớn lên cùng văn chương.
Xem thêm
AI “lên ngôi” văn đàn sẽ làm méo mó văn chương
Thuật toán AI khi được huấn luyện để “sáng tác” văn học thực chất là hành vi bóc lột sức lao động vốn hết sức vất vả, lao tâm khổ tứ của nhà văn, “cướp công” sáng tạo của họ. Trong khi đó, các ông chủ AI lại nghiễm nhiên hưởng lợi không chính đáng từ trí tuệ, mồ hôi, tâm sức lao động của nhà văn. Không chỉ vậy, khi những thuật toán AI lạnh lùng, vô cảm “sáng tạo” văn chương có thể sinh ra những đứa con tinh thần có hình hài nhưng không lành lặn sẽ dẫn đến sự dễ dãi, lệch lạc trong tiếp nhận tác phẩm của công chúng. Nguy hại nhất là AI có thể “giết chết” lý tưởng, khát vọng, động cơ, cảm hứng sáng tạo nghệ thuật chân chính của nhà văn. Nói mỉa mai, chua chát như một nhà văn, nếu để AI “lên ngôi” văn đàn thì nó không chỉ cướp “chiếc cần câu cơm” của nhà văn mà còn hủy hoại tương lai sự nghiệp sáng tác của họ.
Xem thêm
Cho ngày 30 tháng 4: Chuyện bây giờ mới kể
Thời gian là cỗ máy mài vô tình và tàn nhẫn đối với ký ức cá nhân. Trong biển thông tin hỗn loạn và nhiều kênh hôm nay, ký ức lại càng gặp nhiều thách thức thường trực và dữ dội. Một cách cổ sơ và thủ công cưỡng chống lại sự bào mòn vô tình và tàn nhẫn ấy là tìm dịp nhắc lại, thường xuyên nhắc lại.
Xem thêm
Cần chấm dứt việc truy đuổi người vi phạm giao thông
Tết Bính Ngọ về thăm quê, mình chứng kiến một vụ tai nạn giao thông hơi vô lý. Một lão nông điều khiển xe máy đang chạy trên đường, chợt lão nghe tiếng còi hụ của xe CSGT phía sau, ngỡ là cảnh sát đuổi mình nên lão tăng tốc chạy nhanh hơn. Đến đoạn km 108, QL 20 thì bị lạc tay lái, xe lao vào lề đường té bổ nhào, khiến mặt mày và tay chân lão bê bết máu. Hai anh CSGT dừng xe đỡ lão dậy cùng với người dân mang dầu, băng cad sơ cứu. Trong lúc băng lại vết thương, hai anh cảnh sát nói với lão nông và mọi người rằng, các anh chỉ truy đuổi xe của nam thanh niên vi phạm chứ không phải đuổi xe lão nông này. Do lão hoảng quá, cố chạy nhanh nên gây ra tai nạn. Sau đó ông lão được đưa vào bệnh viện chữa trị. Rất may là ông già này chỉ bị thương nhẹ nên xuất viện một ngày sau đó.
Xem thêm
Biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành hiệu quả
Mọi thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam từ trước đến nay đều khởi nguồn từ sự giao thoa tất yếu giữa ý chí của Đảng và khát vọng của nhân dân. Ý chí tại Đại hội XIV không chỉ đơn thuần là hệ thống văn kiện chính trị, mà là sự kết tinh cao độ giữa bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực dự báo chiến lược tài tình và khát vọng cháy bóng về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Quyết sách của Đảng là thành quả của một quá trình tổng kết thực tiễn sâu sắc, dưới ánh sáng của lý luận khoa học và tinh hoa trí tuệ của toàn dân tộc.
Xem thêm