TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi

Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-07-05 10:55:24
mail facebook google pos stwis
1120 lượt xem

NGÔ MINH OANH

Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận (Giải A giải thưởng Lưu Trọng Lư) có tiếng vang khi đã mô tả khá thành công sự khốc liệt và tinh thần chiến đấu của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam Trung bộ thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đầu năm 2026, anh cho xuất bản Tập truyện ký Rừng Đói (NXB Hội Nhà văn, 2006) gồm 26 truyện ký về cuộc sống của người lính trong chiến tranh và khi trở về sau hòa bình.

Nếu như tập truyện ký Cha và con lính trận tập trung mô tả khá thành công sự khốc liệt của chiến trường và tinh thần chiến đấu, hy sinh anh dũng của quân và dân ta, thì tập truyện ký Rừng Đói ngoài việc tiếp tục khắc họa cuộc sống, chiến đấu ở chiến trường, tác phẩm còn có nhiều truyện ký khắc họa hình ảnh người lính trở về hậu hương sau chiến tranh. Rừng đói đã cung cấp một mảnh ghép khác về hình ảnh người lính sau chiến tranh để người đọc hình dung và thấu hiểu trọn vẹn hơn hình ảnh người lính dũng cảm hy sinh trong chiến đấu, lại rất tình cảm, giàu lòng trắc ẩn trong cuộc sống đời thường, yêu cái đẹp và khát khao đi tìm cái đẹp.         

Sự khốc liệt của chiến tranh, sự chịu đựng, hy sinh quả cảm của người lính được anh tiếp tục khắc họa trong những câu chuyện Cha con tôi trên Trường Sơn ngày ấy, Trận đại hồng thủy năm Thìn (1864) trên chiến trường Khu 5, Tổ Quân báo Trinh sát kỹ thuật Sư đoàn Sao Vàng, Rừng đói, Quy Nhơn dậy sóng, Phan Rang những ngày không quên… Trong truyện Rừng đói, tác giả trình bày cái khốc liệt của chiến tranh không chỉ là bom đạn, chết chóc mà còn là cái đói khủng khiếp, đe dọa đến sự sống còn của những người lính nói chung và những thương binh nói riêng. Tác giả trình bày bối cảnh thời gian năm 1969, sau Mậu Thân, địch nống ra đẩy quân ta vào rừng sâu, tăng cường kiềm tỏa những vùng giáp ranh đồng thời tăng cường đánh phá vào những vùng căn cứ của ta. Thiếu lương thực, thực phẩm và kết cục là đói, đói triền miên thành một nguy cơ cho bộ đội ở chiến trường. “Ngay cả tư lệnh sư đoàn Huỳnh Hữu Anh ngày chỉ có 2 bữa tuyền sắn. Anh em thương, bệnh binh ngày chỉ có bát cháo cầm hơi. Bộ đội ta hy sinh ngày một nhiều. Chết đói, chết đau, chết trên đường đi lấy gạo, chết vì bom đạn, bị lụt bão núi đồi đất đá vùi lấp, trôi sông, chết suối…”(trang 74). “Bữa ăn, cầm củ sắn trên tay rưng rưng nuốt nghẹn đắng”, “mắm vẫn rỉ ra mùi thơm phức. Thằng Bơn trong cơn mê man than lên: “Anh Khởi ơi, mắm thơm quá… cho em nếm tý ! Vừa nói hắn vừa bò ra sau thùng gỡ nút giẻ ra rồi đưa mồm vào hút ừng ực”; “hình như hắn uống mắm trộn với máu của nó đang chảy đầy mặt, đầy miệng.” (trang 78). Nói về cái đói, một mặt của sự khốc liệt chiến tranh thì không có câu từ, chi tiết nào có thể thể hiện hơn thế nữa.

Tuy nhiên, may mắn thay, tác giả không để chúng ta tiếp tục đắm chìm trong những ác liệt của bom đạn và cái đói trên chiến trường mà còn đề cập đến một chủ đề khác, sự trở về của người lính sau chiến tranh, một mảnh ghép khác về hình ảnh người lính. Tuy lấy tên là Rừng Đói nhưng trong đó ngoài những truyện viết về chiến tranh, chiếm hơn một nửa là những truyện nhà văn viết về hòa bình, tức là những câu chuyện sau chiến tranh khi người lính trở về. Người lính trong những năm tháng chiến tranh, “nếm mật nằm gai” ở chiến trường đã chịu đựng gian nan, đến tận cùng của sự khổ cực, thử thách trước cái sống, cái chết. Sự hy sinh chịu đựng của họ để làm nên chiến thắng của dân tộc. Trong niềm vui thống nhất, họ trở về, những chấn thương thời chiến chưa nguôi, người lính lại tiếp tục đối diện với những thử thách khác. Đó là sự hội nhập của họ với cuộc sống đời thường sau nhiều năm quen với cuộc sống chiến trường. Sự xa cách và thiếu thốn tình thân, tình yêu đôi lứa, sự trở về với những kỷ niệm thời tuổi trẻ, đắp bù sự chịu đựng, tổn thương  của người thân trong những năm tháng xa nhau… Đó là một cơn đói khác mà người lính đang đối diện và nhà văn Trần Khởi muốn dẫn dắt người đọc đi tiếp những ngày tháng trong hòa bình của những người lính.

Ám ảnh biết bao, hình ảnh người mẹ khi người lính trở về. Người mẹ mà nỗi thống khổ cũng là nỗi khổ của những người mẹ Việt Nam thời chiến. Đằng đẳng nuôi con, chờ chồng, chạy giặc mà vẫn một lòng chung thủy. Chiến tranh ác liệt, trên bom dưới đạn vẫn phải lo cái ăn, cái mặc cho bốn miệng con. Nào đã hết, người mẹ còn phải lo chịu đựng điều tiếng của những nghĩ suy một thơi ấu trĩ. Hình như người mẹ đó lo sợ nỗi cô đơn cho đến lúc “gần đất xa trời”: Bà “cứ dặn dò hết người này đến người kia: Mai mốt mự mất, o mất, bay nhớ lên với mự, với o…ở lại cho được mấy ngày nghe con! Gặp mấy người trong xóm: Cậu ơi bữa mô tui chết, cậu nhớ liệm cho tui nghe cậu! Dặn dò cả bọn tui (con): Mạ đã chuẩn bị đầy đủ cả rồi ! Khi mô mạ đi, các con làm cho chu tất, nhớ mời bà con, chòm xóm cho đông đủ, dừng để sót một ai.” (trang 230). Không thấu cảm với người mẹ, người lính khó nhận ra những suy nghĩ chông chênh của mẹ mình như vậy.

Hết sà vào lòng mẹ, những kỷ niệm tuổi thơ lại ùa về, những mảng ký ức người lính được thể hiện đậm đặc trong những truyện Bến quê, Lưu dấu mái trường yêu, Biển Nhân Trạch ngày ấy… Những kỷ niệm ngày xưa lại ùa về ờ mái trường cấp 2, cấp 3 thân yêu ấy. Những gương mặt thầy cô, gương mặt bạn bè mà cậu học trò nhỏ thời ấy đã nhận ra những “người đẹp”, mà có người sau này trở thành nhà thơ nỗi tiếng Lâm Thị Mỹ Dạ. Những buổi tập văn nghệ với những vở diễn để đời như Gấu dữ và Nùng Phai, Ruồi và Kiến, Trắng và Đen… mà chính tác giả và những người bạn là những diễn viên. Cả những kỷ niệm bị thầy giáo chủ nhiệm hiểu nhầm để có bạn phải nghỉ học, rồi phải thanh minh mãi thầy mới hiểu. Mừng biết bao, trải qua những năm tháng dày dạn ở chiến trường khốc liệt mà những kỷ niệm, cảm xúc của người lính không bị chai lỳ và xơ cứng. Chính sự trỗi dậy những kỷ niệm ngày thơ ấu từ một mái trường yêu dấu ấy, mà tình cảm người lính gắn bó hơn với quê hương: “Lúc này cơn lũ đang hoành hành tàn phá quê hương, hàng trăm héc ta hoa màu và ruộng lúa đang thì ngậm hột bị mất trắng. Người dân quằn quại xót xa nhưng cố gồng mình đứng dậy làm lại mùa màng, làm nên cuộc sống. Chính hiện thực quê hương đó đã tạo ra cảm hứng cho chính tác giả - người lính tìm ra tứ để sáng tác  ra điệu vũ Cây lúa Lệ Ninh được dàn dựng công phu và đạt giải cao trong hội diễn nghệ thuật.(trang 242). Người lính sau chiến tranh đã thực sự hội nhập với cuộc sống ở quê hương.

Còn khi trở lại biển Nhân Trạch, nơi tác giả đã chứng kiến những chiến công của quân và dân ở đây thời chiến tranh, bắn rơi máy bay và tên trung úy phi công Mỹ Dickson bị chết chìm. Nhưng vùng biển Nhân Trạch cũng như nhiều vùng quê khác ở miền Bắc bị bom, pháo Mỹ tàn phá nặng nề. Người lính – tác giả sau những năm tháng chiến đấu ở chiến trường, chúng kiến sự mất mát hy sinh của đồng đội, đồng bào, tác giả như được bù đắp lại, ấm lòng lại: “Hơn nửa thế kỷ tôi mới có dịp trở lại Nhân Trạch. Nhân Trạch nay đã khác xưa. Cuộc sống nơi đây đổi thay nhiều. Cái vùng biển nghèo nàn ngày xưa giờ đã mọc lên những dãy nhà cao tầng. Trụ sở ủy ban Nhân dân xã khang trang, những công trình công cộng, phúc lợi thật tuyệt vời.” Tác giả đã bùi ngùi, xúc động kể lại những kỷ niệm xưa. “Tôi nghe như cát dưới chân mình nóng bỏng, nghe biển khơi gầm gào dữ dội. Và như còn nghe thấy cả tiếng bom đạn ngày ấy vọng về. Ai cũng đều cảm thấy tự hào, xúc động như đang sống lại những ngày tháng lịch sử hào hùng sôi động của dân tộc, của đất lửa Quảng Bình.”(trang 210).

Hành trình người lính trở về sau chiến tranh trong Rừng Đói của nhà văn Trần Khởi không thể không nhắc tới hành trình đi tìm cái đẹp được tác giả trình bày trong các truyện Nắng Nha Trang, Hơn hai mươi năm tình cờ gặp lại, Mùa Xuân đi tìm cái đẹp…    

Người lính Trần Khởi trở về sau chiến tranh và trở thành một thầy giáo dạy văn ở trường phổ thông. Ông không chỉ yêu say đắm văn học mà còn say sưa truyền dạy những cái hay, cái đẹp của văn chương cho học trò, nhất là những tác phẩm văn học thời chống Mỹ. Ông yêu bài thơ Quê hương và ngưỡng mộ nhà thơ Giang Nam, tác giả của bài thơ. Chính vẻ đẹp của tác phẩm văn học này mà ông đã khoác ba lô lặn lội vào Nha Trang để gặp tác giả bài thơ, để tìm hiểu thêm vẻ đẹp của bài thơ từ chính tác giả và nhân vật trong bài thơ này. Tác giả bài thơ, nhà thơ Giang Nam lúc này đã 92 tuổi. Người lính, nhà văn đã bộc bệch cùng nhà thơ Giang Nam: “Chính bài thơ Quê Hương của anh đã làm cho em say và thăng hoa trong quá trình dạy học. Học sinh ngưỡng mộ anh và yêu quý em. Bài thơ của anh, tên tuổi của anh đã theo em, theo thế hệ học trò, đi suốt cuộc đời, sống mãi với non sông đất nước. Họ tìm thấy nét đẹp của người lính cụ Hồ trong thi phẩm này.”(trang 182, 187). Mặc dù “cô bé nhà bên” đã bỏ nhà thơ Giang Nam đi rồi, nhưng tác giả “chia tay ông lòng bồi hồi xúc động, cám ơn nhà thơ Giang Nam với thi phẩm làm rung động trái tim tôi một thời trai trẻ. Bước chân ra về vẫn vẳng lại những câu thơ tình thế kỷ.”(trang 189).

Đi tìm cái đẹp và hòa mình trong cái đẹp khi trở về trở thành một nét đẹp của người lính sau chiến tranh. Truyện Nhớ mãi câu hò, người lính trong tâm trạng “Mười năm xa miền Bắc thân yêu, xa quê hương, gia đình, lũ chúng tôi trông mong đến cháy ruột, cháy gan. Ấy vậy mà khi đất nước thống nhất, gian sơn thu về một mối, lại phải im ỉm, nằm rúm ró một chổ ở đây thật buồn.” (trang 168). Tuy nhiên những người lính không chịu ngồi yên, khi có cơ hội cùng trao duyên bằng những câu hò. Những người lính thương binh mình còn đầy thương tật, đã không bỏ lỡ cơ hội một đêm hè trên bờ đê sông Đuống. Đêm thanh, gió mát, đối tác là những cô nàng áo trắng, trẻ trung, dễ thương ở trạm quân y mà mình đang điều trị, giao duyên bằng những câu hò thì không gì đẹp và đáng nhớ hơn thế. Đêm hò giao duyên đã kết tình thân giữa những người lính thương binh với các cô gái trẻ. “Đó là hạnh phúc bình dị mà thiêng liêng nhất của người lính sau bao năm chiến đấu trở về được sống giữa vòng tay ấm áp của hậu phương, giữa tình thương của nhân dân, của đất nước.”(trang 178).

Hình trình trở về của người lính trong Rừng Đói của Trần Khởi, có thể nói là một hành trình đi tìm cái đẹp, đi tìm người đẹp. Sự chia xẻ của người lính với những áng văn hay của bạn thơ cùng những éo le mà bạn gặp phải (Định mệnh trong thơ của Lê Đình Ty), tìm về những kỷ niệm và đi tìm người đẹp ở trong các truyện Bến quê, Hơn hai mươi năm tình cờ gặp lại, Mùa Xuân đi tìm cái đẹp… Truyện Mùa Xuân đi tìm cái đẹp, tác giả vui kể lại cuộc gặp gỡ giữa tác giả với Nhà thơ Nguyễn Trong Tạo, nhà thơ Ngô Minh cùng nhắc nhở về một người đẹp phương Nam, cô giáo, nhà thơ, diễn viên, rồi vui vẽ ôn lại bao kỹ niệm giữa thời bình. Những tình tiết trong những truyện ký này thật đời thường, đọc lên cứ cười phơ phớ mà  cảm nhận được sự sâu xa, thâm trầm của người viết khi nói về hình ảnh người lính sau chiến tranh: Đẹp, rất đời thường mà khát sống xiết bao !

Tập truyện ký Rừng Đói của Nhà văn Trần Khởi dày dặn 305 trang với 26 truyện, đã cho người đọc trải hết các cung bậc: cảm phục, thương yêu, lạc quan và hy vọng. Khi viết về chiến tranh và đề tài người lính, tác giả đã lựa chọn thể loại tác phẩm phù hợp là truyện ký. Thể loại này đã cho phép tác giả thể hiện được sự chân thật của sự kiện lịch sử, những con người, sự việc cụ thể kết hợp với liên tưởng, hư cấu, sắp xếp, xây dựng cốt truyện, nhân vật. Tập truyện ký vừa được kết cấu theo mạch thời gian kết hợp với mạch ký ức, liên tưởng phong phú. Với giọng văn giản dị, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc chìm vào không gian và thời gian mà nhà văn thể hiện. Nổi bật của tập truyện ký là tính chân thực của nó, những tình tiết, sự kiện, con người gần như phi hư cấu, là những trải nghiệm của chính cuộc đời người viết. Có một cô giáo dạy Văn ở trường phổ thông, sau khi đọc Rừng Đói của Trần Khởi đã viết: “Đã đến lúc những trái tim tìm về chân thật, những nhà văn, sống thật, viết thật như từng hơi thở, như từng bữa ăn thưởng thức hương vị cay, chát, mặn nồng. Mọi sự giả dối dù tinh vi đến đâu cũng đều lộ diện trước cái nhìn thấu thị của thời gian".

Đúng vậy, Rừng Đói của nhà văn Trần Khởi không chỉ khắc họa những hình ảnh sống động chân thực về chiến tranh trên chiến trường chống Mỹ mà còn cung cấp một mảnh ghép khác về hình ảnh, đời sống người lính trở về sau chiến tranh, họ đang đói cái đẹp và đang hành trình đi tìm cái đẹp. Rừng Đói nhắc nhở chúng ta không được phép lãng quá khứ mà ở đó sự hy sinh và cống hiến của những người lính đã làm nên cuộc sống hòa bình ngày hôm nay.

TP. Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 4 năm 2026. 
 N.M.O  

Bài viết liên quan

Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm