TIN TỨC

Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-07-01 10:06:52
mail facebook google pos stwis
727 lượt xem

BÙI PHAN THẢO

Đôi khi những ý nghĩ lóe lên lúc guitarist Châu Đăng Khoa ngồi trầm tư nơi góc quán, bên ly cà phê; ông giữ lại, ngắm nhìn chúng, trao cho chúng một số phận trong hành trang chữ nghĩa của ông.

Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…

Chân dung nhà thơ – guitarist Châu Đăng Khoa.

Nén mình, tạo sức bật cho người đọc

Truyện ngắn Châu Đăng Khoa nhuốm màu lãng đãng, chất thơ bàng bạc và nhiều truyện đẫm chất triết lý phương Đông cùng không gian mờ ảo, nhân vật sống giữa thiên nhiên, kỳ hoa dị thảo hay trong cõi người chật chội, chớp mắt nhân gian và biến ảo cùng ngôn từ cùng lối tư duy mạch lạc trí huệ… Còn thơ của ông, cũng không kém phần đa dạng, từ những góc nhìn diễu nhại về những khía cạnh đời sống đến luận giải về những bất toàn bằng ngôn ngữ đặc trưng, chất riêng của Châu Đăng Khoa không lẫn lộn người khác. Ông nhìn cuộc sống, nhìn tình yêu, nói đến cuộc sống, tình yêu bằng 6 dây guitar trên 10 ngón tay tài hoa và một tâm hồn nghệ sĩ, bằng cái cười và cả sự lặng im, lặng im đến nỗi nghe từng sóng âm dội lên lúc câu chữ hiện hình lên trang giấy.

Nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Nhật Chiêu nhận xét: “Thơ Khoa là những “giọt đắng” của đời đang “chìm lên” trong một ngôn ngữ xoáy lốc. “Chìm lên” là cách nói của Khoa. Thử hình dung ta ném một hòn cuội vào nước. Có gì đó đang chìm lên và lan tỏa. Đó là trò chơi của ta và nước. Cũng như thế, đây là trò chơi của Khoa và thơ”.  

Bìa tập thơ “Eo óc cung bậc” và tập thơ “Lúc guitar ngủ”

Nhà thơ Nguyễn Liên Châu, người bạn thân của Châu Đăng Khoa, nói rằng: “Nhạc của Khoa trùng vi biểu cảm nên khó hát. Thơ của Khoa ngồn ngộn xúc cảm nên khó đọc. Khoa luôn nén mình, tạo sức bật cho người đọc - người nghe tự òa vỡ. Sự đồng cảm lên đỉnh sau cuộc thấm giọng. Thơ Khoa luôn là những ca từ buộc người đọc tự hát”.

Đẩy suy tưởng đến tận cùng

Với tôi, là người em thân thiết của ông, tôi cảm nhận rõ thơ Châu Đăng Khoa có sắc màu hiện đại, ngôn ngữ mới mẻ, cấu tứ độc đáo, thi ảnh đẹp, giàu liên tưởng… Ông thường đẩy đến tận cùng những suy tưởng để thông điệp bật lên, để thơ như khắc khảm trên từng phiến đá sau những miệt mài, mê đắm, hoang mang. Đôi khi những ý nghĩ lóe lên lúc ông ngồi trầm tư một mình nơi góc quán, bên ly cà phê sớm chiều; ông giữ lại, ngắm nhìn chúng, trao cho chúng một số phận trong hành trang chữ nghĩa của ông.

Đời người nặng nhọc, đời nghệ sĩ tài hoa nào mà chẳng lao đao nên đôi khi những câu thơ không gọt giũa nhẵn nhụi mà xù xì, gai góc: “Ngày ngắn/ đời nhăn/ ủi hoài không phẳng”; “Chưa xếp giống loài nào/ thú lạ/ ai cũng nói vậy/ nó xếp đời nó vào xó”; “Lá vàng đã từng xanh/ dẫu xanh hay vàng/ vẫn mật hương bất tận/ đời người đau hơn“…

Qua tư duy của Châu Đăng Khoa, ngữ nghĩa được làm mới, cho dù đó là ngôn ngữ đời thường của dân Sài Gòn rặt như ông: “Lụm cái bông”, “đứt bóng”, “minh mông”, “khựi tiếng guitar tòa loe”… Ông biết chắc mình sẽ đi đến tận cùng: “cây guitar không cô độc/ âm nhạc lên trời xòe đôi cánh trắng/ như cánh cò thôi”.

Ở nơi khởi đầu của một guitarist lừng danh là bến sông Bình Đông với bụi ô rô nơi chàng thiếu niên ngồi tập đàn từ sáng sớm đến chiều tối, đến trọn cuộc đời nhìn lại vẫn buốt gió sông trong chiều đã “thu thu xưa”:

“Một vốc ngậm ngùi bến sông cũ/ nắng chiều thăm thẳm xưa xưa thu” (Sống sót tiếng đàn)

Có phải chăng vì những buổi chiều thẳm sâu đó đã khiến Châu Đăng Khoa với 6 dây huyễn hoặc, với 7 nốt nhạc Tây phương đầy biến ảo và buồn:

“Ném nốt Si xuống thung lũng

lòng sân không nghe vọng âm

đạp nốt La rớt về hẻm núi

tiếng thét vang nội thương thùng đàn

nốt Mi ngoái nhìn tìm quá khứ

nụ hôn đầu chìm lỉm biển trần gian

nốt Fa vấp té vườn miểng chai

giấc mơ hài hòa lòi xương gãy sụm

bụm hai tay phía sau

nốt Sol sợ són nước sơn đời

bò đến cội bồ đề

nốt Re bỗng nhiên quên hết

dúi tay bản ngã

nốt Do vùng vẫy

bản ngã cầm không biết ném đâu

bảy âm thả trôi đồng cỏ

nhạc lẫy lừng bên kia nguyên sơ

mọi sự khởi đầu từ rất nhỏ

mà khởi đi đâu ... (Đi đâu)

Tiếng đàn đồng vọng cùng thơ

Cũng tiếng đàn đó, qua ngôn ngữ thơ mềm mại hơn, lại thấy một Châu Đăng Khoa trên đường gió bụi cùng bạn bè hay lúc độc hành, người không trúng nắng mà tiếng đàn đã nhận thay người những vệt nắng trưa:

“Ban trưa tiếng đàn trúng nắng

ngã lăn xuống triền vàng hoa

có chú ong tìm sự sống

đậu hôn mật đàn guitar

ong múa guitar cười

đồi hoa không quạnh quẽ

dẫu vắng bóng người

dẫu còn xa lắm đường ơi”… (Tiếng đàn trúng nắng trưa)

Châu Đăng Khoa đã đưa những miên trường gần lại, ít ra là với cái nhìn và sự thấu cảm của một thi sĩ: “ném ly cà phê vào huyền tưởng/ một cổ xưa nguyên thủy vọng về” (Cà phê 2)

Người yêu thơ Châu Đăng Khoa cũng thường chú ý sắc màu trong thơ của ông, những thi ảnh đầy ý nhạc, những sắc màu thiên nhiên và ý thức nghệ sĩ phối trộn. Chỉ một màu tím, không là màu tím hoa sim của thơ Hữu Loan hay tím màu thời gian của Đoàn Phú Tứ, màu tím tháng sáu của Châu Đăng Khoa tím cả tịch dương:

“Một đời yêu

vỏn vẹn gọn mỗi chiều 

tím hoa cà nụ hôn đầu dịu dịu

líu ríu chờ nhau tím pensée

bài tụng ca tháng 6 

Tchaikovsky mạn thuyền sóng vỗ

biếc tím màu hạnh ngộ

tím nồng nàn lavender

thăm thẳm tích hoa ngô đồng tím

rịm buốt dải bờ

sóng vỡ

tím tịch dương (Tháng sáu tím)

Một bài thơ ngắn, lúc mùa xuân đang về, người đọc thấy và cảm nhận mùi hoa khắp phòng, một chút hơi người. Không thấy hoa đâu, bởi những cánh hoa đã không còn ở lại, với nỗi đau lúc biệt ly mà không thể nói thành lời:

“Tết trống

căn phòng ngát hương

phút người vương ngọt ấm

 ôi…!

những cánh hoa biệt xứ

đau – không biết nói” (Khúc buồn)

Những đóa hoa buồn, những đóa hoa ẩn ức, cả những ẩn dụ bỗng bật khóc, đó là thơ Châu Đăng Khoa, lạ, độc đáo khác người:

“Đôi cánh run

lạnh sương chảy dọc hình hài

nhánh gai xòe những đóa hoa ẩn ức

nức nở từng ẩn dụ

tiếng hót bỗng khan một lời tình” (Khan)

Chỉ là chiếc bóng thôi, nói với nhau rằng: “Khi nào bỏ anh hãy nói/ Dạ”… Và đến khuya, một tờ giấy trắng:

“Phía bên kia

cái bóng …

cái bóng

mãi mãi là bóng

anh à

đã đến lúc em giữ lại hình em” (Mọi điều đều giản dị)

Nghe im lắng ngoài song cùng giọt sương mai

Trong thơ Châu Đăng Khoa, không diễn giải dài dòng, câu chữ ngắn gọn, súc tích, kiệm lời, nén ý. Đọc kỹ, nghĩ kỹ mới thấm, để hiểu thêm về con người nhạc sĩ – nhà thơ đầy ý thức sáng tạo, ngắm, soi cuộc sống:

“Im lặng cảm nhận nồng nàn

nhắm mắt bao dung điều biết trước

nắng đâu hiểu gì về hẹn ước

mù sương cỏ mây hoa không có lưỡi

khóc cười tự tâm

tâm ý thích nghi nên lòng gió cuốn

Tình chiều tàn rớt xuống sớm mai thôi   (Ngắm)

Trăng trong tự nhiên vòng quanh trái đất, trăng khuyết lại tròn, Châu Đăng Khoa thấy trăng nở, khi nhặt hoa rơi bên cội, khi nhắm mắt một làn hơi:

“Tập tiếng guitar về ban sơ 

dòm con kiến bò bỗng hoảng sợ 

tre nứa cạ nhau từ muôn thuở 

giản dị âm còn xa lắc lơ 

từng cánh hoa mục đời dưới cội 

rã tan hòa bụi đất phù sinh 

đúng bình minh cười khẩy một tiếng 

mở mắt ra trăng nở một mình (Trăng nở một mình)

Cũng vầng trăng đó, màu trắng trong đêm uyên nguyên một nụ cười, để khi đôi môi không biết khóc cười thì chỉ đôi mắt rằm mới hiển hiện linh thiêng:

“Đôi mắt rằm sáng trăng

nụ cười nguyên thủy

mùa đông không vị kỷ

tự nó đã như là ...

thần linh phán từ vô âm

đôi môi không biết cười

tất nhiên không biết khóc

chỉ từ sâu trong mắt

khóc cười hiện linh thiêng” (Trắng và trăng)

Đọc thơ Châu Đăng Khoa, ngẫm ngợi và nhắm mắt lại cho một hình dung, người đọc dễ có sự đồng cảm với nhà thơ sau những thanh âm con chữ vang vọng. Chừng như bên vách núi, tiếng gió, tiếng đàn, câu thơ lững lờ theo bóng mây, lữ khách cũng quên một cố quận xa lắc xa lơ:

“Chiều thương tiếng đàn va chân núi
âm ba chìm sương lam quê xa
nhạc đi không về lại
lữ khách quên nhà
có gì đâu bối rối
một tiếng chuông chiều
gói đủ niềm riêng”…  
(Trong gió xuân phai)

Châu Đăng Khoa làm thơ cũng để được là mình, trọn vẹn với tình yêu guitar, với cuộc đời. Bên cây guitar, ông vẫn đầy những ý tưởng của người sáng tạo, của một triết gia và trái tim thơ vẫn dào dạt chảy những dòng ấm nóng. Với Châu Đăng Khoa, ông không có tuổi, thời gian lắm khi không làm ông bận tâm. Ngày và đêm chỉ có ý nghĩa với người đời còn mải miết bon chen, còn với ông, chỉ có một không gian sáng tạo, lúc đêm dài ông thầm nghe im lắng ngoài song để nhạc vang lên, để thơ thức giấc, sống cùng giọt sương mai thanh khiết…

TP HCM, tháng 6-2026

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm