TIN TỨC

Chuyện về một quẻ Dịch trên Quốc lộ 1A

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-04 17:58:02
mail facebook google pos stwis
4219 lượt xem

LÂM HÀ

Từ đất Miễu
 

Miễu Bà Chúa Xứ Thủ Đức[1] có từ bao giờ thì xem ra chỉ có bốn cây vên vên đại thụ trồng theo tứ trụ của dịch lý mới trả lời chính xác được. Nhưng vào năm 1971, người ta trồng mới một cây vên vên tại chỗ để đối chiếu. Sau 50 năm, cây vên vên mới vẫn chỉ có chiều cao và đường kính thân lớn bằng 1/8 so với cây vên vên có sẵn trước miễu. Phép suy đoán cho thấy bốn cây vên vên trước miễu phải có niên đại hơn 300 năm. Miễu nhỏ chỉ chừng 8 mét vuông, chính giữa là bàn thờ Địa Mẫu, bên trái là tủ xăm, bên phải là hòm công đức. Miễu đơn giản vậy nhưng trang trọng như tấm lòng cư dân thờ phụng. Nhìn về hướng chính diện, ra xa lộ Hà Nội là thấy đồi Tăng Nhơn Phú. Theo Dịch lý, đứng ở trước miễu có nội quái là Khôn (Thổ) và ngoại quái là Cấn (đồi Tăng Nhơn Phú) thành quẻ Địa Sơn Khiêm - một trong những quẻ tốt cho người quân tử. Miễu không có sắc phong của triều đình, không thờ tiên hiền mà thờ tổ mẫu. Khi đặt ra vấn đề về nguồn gốc miễu, nhiều người nêu rằng tại sao miễu không đặt trên đồi cao để khách thập phương bái vọng, lại ở lưng chừng đồi, đối mặt với đồi cao. Có lẽ chính diện tích nhỏ bé của miễu đã lý giải được nguồn cội. Trước khi Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Tân Bình 40 năm, quân của chúa Nguyễn đã phải 2 lần hành quân vào Nam dẹp giặc Mô Xoài - Bà Rịa (vào năm 1658) và loạn Hoàng Tiến (xung đột với Trần Thượng Xuyên, cả hai đều là người Minh Hương được chúa Nguyễn cho phép cư trú). Hành binh cần có đồn binh. Mà đã có đồn binh thì buộc phải có điền thổ đi kèm cho quân binh cùng dân binh hậu cần sản xuất lúa gạo -quân lương. Danh từ đồn điền cũng như chính sách đồn điền của nhà Nguyễn cũng xuất phát từ bối cảnh này. Xưa không có đường quốc lộ mà chỉ có lối mòn cho xe bò, xe ngựa di chuyển. Đồi Tăng Nhơn Phú trở thành một đồn tiền tiêu - đài quan sát lợi hại, còn khu đất miễu bà lại bằng phẳng thích hợp cho việc vận chuyển. Theo đúng binh pháp xưa, nơi này thích hợp làm căn cứ hậu cần quân lương. Theo đồn điền là dân binh, là cư dân nông nghiệp. Khi căn cứ hậu cần không còn, thì cộng đồng dân cư tại đó lại lập miễu. Miễu vừa thể hiện sự tôn thờ đấng tổ mẫu với nguyện cầu “an cư lạc nghiệp”, cho tình làng nghĩa xóm như cùng chung mẹ - yếu lý nhân tố chính của tinh thần dân tộc Việt; vừa là dấu ấn khoanh vùng xác định vùng cư dân đó của dân tộc Việt nhằm đối ứng với cộng đồng người Chân Lạp địa phương cũng như người Minh Hương di tản đến đất này cư trú. Lập xong miễu, cư dân người Việt đã trồng cây theo lối tứ trụ Đông -Tây- Nam- Bắc để đánh dấu giữ đất. Trên bản đồ địa chính năm 1836 của thời vua Tự Đức thì tại làng An Nhơn - tổng An Thủy - tỉnh Gia Định xưa, nay là khu phố 5 phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức đã có “ngôi miễu cùng khu đất thờ cúng”. Ngôi miễu cùng khu đất diện tích xưa 16.320 mét vuông này lần lượt được đánh dấu ghi nhận trên các bản đồ địa chính năm 1926 (thời Pháp thuộc) thuộc về sở đất đứng tên ông Nguyễn Văn Đây và vào năm 1933, 30 vị kỳ lão ở làng Tân Nhơn quyết định hùn tiền mua lại thửa đất này để hoàn toàn thành đất tín ngưỡng tôn giáo thuộc cộng đồng thổ miễu… Sau đó, miễu mới được trùng tu lại như hiện trạng lần cuối cùng năm 1945.

Thửa đất cùng ngôi miễu nằm sâu trong xóm ấp Gò Cát, bao quanh là rừng chồi, rồi tiếp nối là rừng cao su. Miễu là nơi quy tựu tinh thần cộng đồng cư dân người Việt và cũng là nơi mà Mặt trận Việt Minh tập hợp dân làng Tân Nhơn cùng công nhân cao su để phát động tổng khởi nghĩa vào tháng Tám 1945. Theo lời cụ Dương Văn Đẩu - cán bộ cách mạng lão thành ở Khu phố 5 phường Linh Trung kể lại thì Miễu Bà Chúa Xứ Thủ Đức cũng chính là nơi nuôi giấu cán bộ cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ. Một nhánh của Địa đạo Thủ Đức khi đào đã vô tình làm đứt rễ cái của một cây vên vên trước miễu khiến thám báo ngụy đánh hơi được nơi này. Sau đó là cuộc hành quân càn quét bằng chiến xa cấp tiểu khu đánh vào khu vực Gò Cát cho mục tiêu Tìm- Diệt. Tiểu đoàn 4 Thủ Đức của Mặt trận Giải phóng Miền Nam được bảo toàn, nhưng rất nhiều du kích, đồng bào địa phương đã hy sinh cùng tổn thất không sao bù được là hệ thống địa đạo Thủ Đức bị san bằng không còn dấu vết.

Máu và thịt xương người yêu nước hòa trong cát xóm ấp Gò Cát, trong rừng chồi, rừng cao su để giữ an bình cho miễu Bà vẫn tổ chức lễ Kỳ Yên, cùng nhau củng cố tình làng nghĩa xóm để tiếp tục cuộc đấu tranh đòi thống nhất.

Và một kỳ duyên từ năm 1971 đã đến, để Miễu Bà Chúa Xứ Thủ Đức được gọi bằng cái tên mới: Miễu Bà Vườn Lan.

Cổng vào miễu Bà Chúa Xứ với tường rào mới năm 2015.

Đến Vườn Lan
 

Người đến thuê đất Miễu Bà vào năm 1971 là thương gia Trần Kim Khử, sinh năm 1932, cựu thiếu tá nhiệm chức[2] của quân ngụy Sài Gòn - nguyên quận trưởng kiêm chi khu trưởng Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa. Do chống đối lại chủ trương “chỉnh lý cách mạng”để kéo dài chiến tranh của Nguyễn Khánh, ông Khử bị tước lon thiếu tá nhiệm chức và cho về hưu non ở tuổi 41. Ông Khử hiểu rõ vùng đất mà mình thuê, nhưng ông chọn nơi này vì bình độ khí hậu cũng như thời tiết thích ứng với loại hình trồng trọt của mình: Phong lan. Với sự tinh nhạy của một doanh nhân cùng với sự cần cù của nhà nông, ông Khử đã thành lập Vườn Sài Gòn Hoa Lan, biến phần diện tích sau miễu Bà thành vườn lan với đủ các giống loài sưu tầm được trong rừng Việt Nam mà ươm cấy cho mục tiêu xuất cảng ra nước ngoài. Miễu Bà trong bốn năm sau đó không chỉ là nơi mà dân địa phương đến để khấn niệm cầu xin, hay nơi ẩn nấp của cán bộ cách mạng với tư cách dân địa phương làm thuê chăm sóc phong lan theo thời vụ mà còn là nơi gặp gỡ tiếp xúc của các thành viên lực lượng thứ Ba mà đứng đầu là tướng Dương Văn Minh với đại diện của Khu ủy Sài gòn - Gia Định. Cuộc họp đầu tiên mà Luật sư Trần Ngọc Liễng tiến hành với nội các chính phủ mà tướng Dương Văn Minh sẽ thành lập vào năm 1975 đã diễn ra chính tại Vườn Lan này. Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, trong lúc ông chủ Vườn Sài Gòn Hoa Lan Trần Kim Khử còn đang suy nghĩ “phải làm gì”sau khi học tập cải tạo 3 ngày xong, thì Vườn Lan Miễu Bà lại tiếp một vị thương gia mới, chính là vị Trưởng Ban Tài chính đặc biệt Trung ương cục Miền Nam (N 2683) Nguyễn Văn Phi, tức Mười Phi, hay còn gọi là Mười Thăng Long, cũng là Giám đốc Sở Ngoại thương TP.HCM. Ông Mười Phi nói rõ nhiệm vụ của mình là thi hành theo chỉ đạo của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng “Ngành Lan miền Nam phải tồn tại”, bởi trong hoàn cảnh khó khăn từ cuộc cấm vận - bao vây do Mỹ dẫn đầu, Việt Nam đang cực kỳ thiếu vốn ngoại tệ, mà Lan lại là mặt hàng xuất khẩu giá trị cao do chỉ có giới thượng lưu mới đủ điều kiện. Mà Vườn Sài Gòn Hoa Lan lại đã kết nối được thị trường Mỹ - Pháp - Anh - Nhật - Thái Lan qua hoạt động mua lan giống, bán lan rừng. Ngoài việc nối lại thị trường cũ, Sở Ngoại thương TP.HCM có nhiệm vụ tiếp cận thị trường Đông Âu và Liên Xô. Vườn Sài Gòn Hoa Lan giờ trở thành Cơ sở Liên hợp Lan mẫu xuất khẩu thuộc công ty Thủ công Mỹ nghệ Xuất khẩu TP.HCM của Sở Ngoại thương, đảm nhận vai trò đi đầu ngành Hoa Lan Việt Nam và gia đình ông Trần Kim Khử trở thành bộ phận kỹ thuật thực hiện phát triển và công tác thị trường hoa lan. Đó là giai đoạn mà mỗi lần xuất bản, Báo Ảnh Việt Nam đều phải dành 4 trang màu cho các giống lan mà Vườn Sài Gòn Hoa Lan sản xuất, là việc các phu nhân nguyên thủ trên thế giới mãn nguyện hài lòng khi nhận được chậu phong lan Việt Nam với cái tên riêng được đặt từ tên mình trước khi được cấy giống mà bán ra trên thị trường cũng như miễu Bà trở thành điểm du lịch sinh thái Lan rừng Việt Nam đối với du khách. Hai cái đầu kinh doanh của người chỉ huy N 2683 và viên cựu sĩ quan chế độ cũ nổi tiếng thẳng thắn đã cùng bên nhau cho sự nghiệp thu hút ngoại tệ vì lợi ích Việt Nam. Đến năm 1983, địa chính- địa danh thửa đất miễu Bà được đổi từ lô số 117 của bản đồ địa chính năm 1926 sang lô số 86 bản đồ địa chính Tăng Nhơn Phú theo Chỉ thị 219/TTg, theo hướng dẫn thì chỉ có người đang trực canh mới được đăng ký xin sử dụng đất, nhưng ông Khử đã cương quyết không đăng ký với lý do “Chủ đất thực sự là cộng đồng thổ miễu. Tôi chỉ là người thuê đất!”Vào năm 1985, Huyện Thủ Đức gửi thư mời Công ty Thủ công Mỹ nghệ Xuất nhập khẩu và ông Khử - Chủ nhiệm Cơ sở Liên hợp Lan mẫu xuất khẩu (Artex - Sài Gòn - Orchids) đến để được hướng dẫn đăng ký quyền sử dụng đất, nhưng ông Khử lại một lần nữa chối từ với lý do “Hợp đồng dân sự 15/4/ 1971 giữa cộng đồng thổ miễu dưới tên tôi vẫn có hiệu lực và tôi vẫn chỉ là người làm thuê. Tôi không thể đăng ký cũng như không thể đồng ý cho Công ty Thủ công Mỹ nghệ xuất khẩu đăng ký quyền sử dụng đất miễu Bà.”. Có thể ông Khử đã sống hết mình với mảnh đất này, dẫu cái lý “ai canh tác thì mới là chủ đất”cũng là cái lý mà nhiều người bám theo vào để tranh đoạt lợi ích đất đai, nhưng cách thể hiện hơi cực đoan khiến cả công ty Thủ công Mỹ nghệ xuất khẩu lẫn cơ sở của ông đều ít nhiều thương tổn và ông rời pháp nhân nhà nước để quay về với tư cách một cơ sở tư nhân như trước từ ngày 01 tháng 01 năm 1989. Vườn Sài Gòn Hoa Lan vẫn tiếp tục xuất khẩu Lan ra nước ngoài thông qua ủy thác công ty Đặc sản rừng Naforbird và thành công với cuộc triển lãm Hoa Lan tại Tokyo - Nhật Bản năm 1995. Cho đến năm 2006, tài sản của Vườn Lan là 276 giống Lan rừng Việt Nam và 17 giống Lan ngoại nhập với số cây trị giá hơn 5 tỷ rưỡi đồng.

Đất miễu đâu có phụ công người gìn giữ. Và cộng đồng thổ miễu nơi này xem ông Khử như người trong tộc họ…

Qua cơn lốc
 

Khi mua lại sở đất 1,6 ha này của ông Nguyễn Văn Đây vào năm 1933, 30 vị kỳ lão cũng đã dự liệu những phiền toái ở tương lai khi giao cho ông Nguyễn Văn Chấn đại diện đứng bộ và khai thuế bằng cách lập giao ước cụ thể ngay trong tờ bán đất “Nay chúng tôi bằng lòng bán đứt hết số đất này cho trong họ tộc mua đặng làm đất thổ miễu (…) trong họ mua để tên Nguyễn Văn Chấn 38 tuổi cũng ở trong làng Tân Nhơn, tên này đứng giấy giữ gìn, mỗi năm chỉ đóng thuế đất mà thôi. Còn giao ngày sau tên này và con cháu không đặng buôn bán đất này.”Sau khi ông Chấn chết, con ông là Nguyễn Văn Hữu thay cha làm công việc đứng tên và đóng thuế. Cũng chính ông Hữu lập hợp đồng cho thuê đất lập Vườn Lan với ông Khử, nhưng sự trung tín với cộng đồng thổ miễu của người trong tộc họ này đã không thể bền vững trước cơn lốc đô thị hóa. Có ba cháu gái gọi ông Chấn là ông nội đã bắt đầu lao vào giành quyền sử dụng đất miễu vườn lan ngay khi quốc lộ 1 A và xa lộ Hà Nội mở rộng để cho khu đất miễu Bà nằm giữa gò cát Linh Trung phát lộ vươn ra  thành đất mặt tiền đường. Lấy cớ ông nội đứng bộ và đóng thuế, những người này đòi quyền thừa kế khu đất bắt đầu từ năm 1991 (khi còn là Huyện Thủ Đức). Sau những nhùng nhằng điều tra, thư đi công văn lại từ huyện đến thành phố, ngày 21 tháng 11 năm 1995, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP.HCM Trương Tấn Sang đã ký quyết định 7838/QĐ-UB-NC về giải quyết khiếu nại đã bác đơn yêu cầu xin lại 16.320 mét vuông đất miễu - vườn lan. Quyết định giao lại cho Ủy ban Nhân dân huyện Thủ Đức quản lý, khi có kế hoạch sử dụng khu đất này phải có sự phê duyệt của Ủy ban Nhân dân TP.HCM và giải quyết những tồn tại theo đúng quy định hiện hành của nhà nước. Đây là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng với yêu cầu của các bà. Theo đó, Ủy ban Nhân dân Huyện Thủ Đức vẫn giữ nguyên hiện trạng miễu Bà Chúa Xứ với Vườn Lan. Việc thờ cúng vẫn được tổ chức bình thường. Tiếc thay, với trăm ngàn lý do, kẻ tham lại liên tục quấy rối và từ năm 2000 đến năm 2010, các Phó Chủ tịch của Ủy ban Nhân dân TP.HCM lần lượt ký các quyết định 4948/ QĐ - UB - TĐ ngày 27 /7 /2000, quyết định 4962/QĐ -UB ngày 10/8/2001, quyết định 718/QĐ -UB ngày 19 /2/2003 và 4752 ngày 15/10/2010 với những nội dung “tréo cẳng”nhau: khi thì chia nửa diện tích 16.320 mét vuông này cho những người khiếu kiện, một nửa còn lại cho người trực canh là ông Trần Kim Khử, khi thì cưỡng chế thu hồi toàn bộ đất miễu vườn lan, lúc thì giao riêng cho một gia đình trong nhóm khiếu kiện 1.000 mét vuông đất… Những quyết định này không chỉ gây chia rẽ cộng đồng thổ miễu mà còn khiến vườn lan của ông Khử lâm vào cảnh đình đốn hoạt động dẫn đến tiêu điều. Dân Gò Cát - Khu phố 5 Linh Trung cùng gia tộc 30 kỳ lão mua đất ngày xưa giờ lại khiếu kiện vì miễu Bà Chúa Xứ Vườn Lan là tài sản chung hợp nhất không thể phân chia của cộng đồng dân cư. Thanh tra chính phủ vào cuộc và đến tháng 9 năm 2011, Thanh tra Thành phố Hồ Chí Minh ra kiến nghị với Ủy ban Nhân dân TP.HCM với nội dung “Giữ Nguyên Quyết định 7838 ngày 21/11/1995 mà Chủ tịch UBND TP.HCM Trương Tấn Sang đã ký 16 năm về trước. Đồng thời hủy bỏ các quyết định trái ngược về vụ việc này sau thời điểm đó, công nhận tài sản chung hợp nhất không phân chia của cộng đồng dân cư Khu phố 5 - Linh Trung. Nếu có phát sinh tranh chấp gì với phần đất Miễu Bà thì thẩm quyền giải quyết thuộc về tòa án và áp dụng điều 126 Luật Đất đai năm 2004”

16 năm đơn thư tố cáo, giải quyết cho triệt để những kẻ quấy rối để cuối cùng cách hợp lý nhất - đúng pháp luật nhất là quay về quyết định ban đầu: Bác bỏ!

Với cộng đồng thổ miễu, với vườn lan và cả với chính quyền, đây là một bài học quá xót xa. Với những người gìn giữ đất này, kết quả tốt đẹp nọ đầy nước mắt. Ông Trần Kim Khử, người thuê đất đã 2 lần từ chối quyền sử dụng hợp pháp mảnh đất này đã từ trần vì bạo bệnh ngay đầu tháng Giêng năm 2012, trước cả khi Ủy ban Nhân dân TP.HCM ra thông báo cuối cùng.

Cuối năm 2021, gần tròn 10 năm sau đó, tôi về lại Miễu Bà Chúa Xứ Vườn Lan. Vòng rào, cổng đã được trùng tu lại trang nghiêm mà đơn giản. Vườn Lan mẫu xưa còn đó, nhưng giống loài lan giờ chỉ còn gần 100 và hoạt động mua bán không còn nhộn nhịp như trước nữa. Cũng phải thôi, hơn 15 năm trời không thể hoạt động vì lệnh giải tỏa của các quyết định oan trái kia, vườn lan đã đánh mất cơ hội vươn ra giới thiệu mình tại Pháp vào năm 2005, các khoản đầu tư sưu tầm giống mới đều đã đi theo đơn từ, kiện tụng giữ đất…Và cũng nên thừa nhận rằng mỗi thời mỗi khác đi nhiều rồi. Xưa, cố chủ tịch hội đồng bộ trưởng Phạm Văn Đồng xem Hoa Lan như một cơ hội đi đường tắt thu ngoại tệ. Nay đường tắt ấy đã nhiều người đi và Thủ Đức - thành phố mới phía Đông của Thành phố Hồ Chí Minh đã phải đi theo con đường mới để đón đầu tương lai: con đường công nghệ kỹ thuật. Miễu Bà với Vườn Lan vẫn còn đấy như một cái neo Thủ Đức với lịch sử, như một điểm du lịch, như một điểm tựa truyền thống văn hóa Việt. Thắp hương trong điện thờ Bà Chúa Xứ và ra Vườn Lan thắp hương cho bác Trần Kim Khử xong, tôi nhìn về hướng đồi Tăng Nhơn Phú để tự nghiệm rằng “Quẻ Địa Sơn Khiêm có lẽ là đây chăng? Khiêm cung đứng sau cho việc chung?”

Nhưng trước mắt tôi giờ là đường cao tốc, ba làn phân giới lại tạo thành 3 vệt liền nhau (tam liên)[3] tức quẻ Càn. Đứng ở trên đất miễu với nội quái là quẻ Khôn, giờ ngoại quái là quẻ Càn. Một quẻ còn tốt hơn nhiều so với quẻ Khiêm quá khứ mà tiền nhân để lại.

Quẻ Thái![4]

Quẻ khởi đầu cho Thành Phố Thủ Đức của tôi.

Từ hôm nay!

Bốn cây vên vên đại thụ trồng theo tứ trụ trước miễu (cây nhỏ hơn mới 50 tuổi được trồng để đối chứng và thay vào vị trí cây vị chết do đứt rễ cái vì địa đạo Thủ Đức)

Chính diện gian điện thờ Bà.


[1] Tọa lạc ở số 1080 Quốc lộ 1 A, khu phố 5, phường Linh Trung, Thành phố Thủ Đức

[2] Do chức vụ mà mang cấp bậc Thiếu tá, chứ không phải thiếu tá thực thụ. Khi bị giải nhiệm thì chỉ là Đại úy.

[3] Ba hào dương

[4] Địa Thiên Thái. Quẻ tốt mở đầu một thời kỳ mới yên bình, sung túc. Đầu năm được quẻ này thì người nhận xem như đại phúc.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm
Nấm Dẩn, một sinh thái trong lành – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Chiều buông, rời bước ra khỏi bãi đá cổ, lòng tôi cứ bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa hoang dại, vừa tôn nghiêm của vùng cao biên giới Nấm Dẩn. Những địa danh như đèo Gió, thác Tiên, hay bãi đá cổ Nấm Chanh giờ đây không còn là những cái tên vô danh giữa đại ngàn heo hút mà đã được định danh trên bản đồ di sản nước nhà. Di tích Bãi đá cổ bản Nấm Chanh ở xã Nấm Dẩn đã được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 2008 và khu danh lam thác Tiên - đèo Gió cũng được xếp hạng thắng cảnh quốc gia vào năm 2009. Nhưng rồi lại nghĩ, bản đồ du lịch ở Nấm Dẩn đã mở ra nhưng giao thông và hạ tầng ở đây còn chưa theo kịp. Muốn nhiều người biết hơn nữa về những thắng cảnh và di sản ở Nấm Dẩn đường đi và các dịch vụ chắc chắn phải đi trước một bước để đón chân du khách. Nghĩ thế, rồi lại nhìn sang những vùng đất khác. Du lịch mở ra và bản sắc văn hoá cứ mất dần vì làn sóng thương mại hóa. Bất giác, tôi giật mình và tự hỏi: liệu một mai, khi rộn rã thanh âm của những bước chân du lịch, Nấm Dẩn có còn giữ nổi cho mình là một sinh thái trong lành nữa hay không?
Xem thêm
Chân mây 6 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Thành Tuyên trong câu chuyện thời thiếu nữ của ai. Trong rung động thời trai trẻ của ai. Hương hoa rừng ngào ngạt. Đồi núi bạt ngàn xanh mướt. Những bông hoa gạo nóng bỏng. Những dây leo lộng lẫy hoa vàng. Những viên gạch cổ rêu phong thiêng liêng. Và sông Lô hào hùng. Sông Lô dạt dào sóng nước.
Xem thêm
Chuyện về nhà thơ Hoa Níp sau 10 năm rời cõi tạm
Hoa Nip là nhà thơ trẻ từng tham gia hoạt động trong Ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn TP.HCM do nhà thơ Phan Hoàng làm trưởng ban. Dù sinh sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng mỗi khi Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức các chuyến đi thực tế, sáng tác anh đều tham gia và hoạt động rất tích cực. Trong quan hệ đồng nghiệp, anh được bạn bè yêu thương, trân quý. Trong sáng tác anh được đánh giá là một nhà văn trẻ giàu triển vọng. Nhưng cuộc đời quả vô thường, năm 2016, một tai nạn thương tâm xảy ra đã cướp đi sinh mạng của anh trong sự đau đớn và tiếc thương của gia đình và đồng nghiệp. Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Hoa Nip, Phùng Hiệu xin giới thiệu bài viết của cha anh - tác giả Trần Vinh.
Xem thêm
Cái đẹp đời thường trong tranh họa sĩ Vũ Dương - Bút ký Trần Trung Sáng
“Vẽ cuộc đời bằng cảm xúc” là chủ đề chương trình giới thiệu cuốn sách tranh của họa sĩ Vũ Dương do Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng phối hợp với Chi hội Mỹ thuật Việt Nam tại Đà Nẵng và gia đình họa sĩ Vũ Dương tổ chức trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua.
Xem thêm
Hành trình lan tỏa tình yêu biển đảo từ những lá cờ Tổ quốc mang dấu Trường Sa
Giữa mênh mông biển trời, lá cờ Tổ quốc tung bay trên các điểm đảo thuộc Quần đảo Trường Sa không chỉ khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam, mà còn nhắc nhở mỗi người dân đất Việt về trách nhiệm gìn giữ biển đảo quê hương bằng những hành động thiết thực, từ những điều giản dị nhất.
Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm