TIN TỨC

Má tôi - Ký của Bích Ngân

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-05-31 09:18:38
mail facebook google pos stwis
864 lượt xem

Cụ Bà Phạm Thị Mãnh, mẫu thân nhà văn Bích Ngân, vừa từ trần ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại quê nhà Cà Mau. Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng đăng lại bài viết từng in trên báo Người Lao Động Xuân Giáp Thìn 2024 – nơi nhà văn Bích Ngân bằng những dòng hồi ức thấm đẫm yêu thương đã khắc họa chân dung người mẹ tảo tần, giàu đức hy sinh và nhân hậu.
Mời quý vị và các bạn cùng đọc lại bài viết xúc động này như một nén tâm nhang tưởng niệm và tri ân.

BÍCH NGÂN

Sáng ngày cuối năm, dịp nghỉ Tết dương lịch mấy chị em cùng về thăm má. Má tuổi cao. Em gái út sống bên má cũng đã năm mươi. Ba đứa con lớn và gia đình riêng mỗi đứa đều định cư Sài Gòn.

Hai năm nay má không còn khỏe. Các con ở xa lúc má đau bệnh mới vội vã quay về và cũng vội vã trở lên Sài Gòn khi má vừa khỏe lại. Đứa nào cũng vướng víu việc chung việc riêng và đứa nào cũng thấy ray rứt bởi thời gian dành cho đấng sinh thánh quá ít. Rồi chị em ngoéo tay nhau, ai có thể thu xếp việc là về ngay với má...

Chiếc xuồng lé đé nước của má

Tôi lên xe. Giường nằm. Duỗi chân, nằm dài. Qua cửa kính thấy nhà cửa, cỏ cây, đồng ruộng, sông ngòi. Qua cửa kính, những con đường miền Tây, đường bộ, đường sông, đường qua những chiếc cầu lớn nhỏ gợi lại trong tôi biết bao hình ảnh buồn vui gắn với tuyến đường này và nhớ nhất là những chuyến phà chạy rì rì ngày đêm đưa hành khách đợi chờ phờ phạc từ bên này bờ để được sang bên kia bờ và ngược lại, của dòng sông Tiền, sông Hậu. Giờ chỉ ít phút là xe vượt qua sông Tiền, sông Hậu trên những chiếc cầu với những sợi dây cáp giăng giăng tương tựa hình những cánh quạt nan xòe rộng.  

Dù chỉ nhìn mặt sông mênh mang lấp lánh mây trời, loáng thoáng hình bóng vừa mơ hồ vừa rõ nét như thước phim ký ức được chiếu lại, lại đưa tôi về với tuổi thơ.

Tôi như thấy lại, gặp lại tuổi thơ của mình, tuổi thơ của đứa trẻ lớn lên trong chiến tranh. Và dường như sự dồn đuổi của ký ức, của yêu thương khiến tôi nhớ, dĩ nhiên không thể nhớ thật rõ mọi thứ nhưng có những hình ảnh, những từng tình tiết vẫn còn nguyên vẹn như không phải đã lùi xa hơn 50 năm.

Ba tôi thoát ly gia đình tham gia kháng chiến. Mảnh đất cha ông mà ngoại tôi, má tôi, cậu dì tôi lớn lên và sinh sống lại lọt vào vùng tạm chiếm, nơi đó trở thành ấp chiến lược của chính quyền miền Nam Việt Nam Cộng hòa. Là vợ của “Việt cộng” nên má tôi phải đùm túm mấy đứa con nhỏ, mùng mền, xoong nồi rời nhà cửa, bỏ đất đai, lặng lẽ ra đi trong đêm. Tôi còn nhớ mang máng tiếng mái chèo khuya trên mặt sông loang loáng ánh lân tinh dưới bầu trời rải rác những vì sao.

Má tôi được chính quyền vùng kháng chiến giúp cất ngôi nhà sàn mái lá bằng lá dừa nước. Ngôi nhà sàn cất dưới tán cây rừng và quay mặt ra mặt sông tại một ngã ba sông ở ấp Bàu Hầm. Một mình má chèo những chuyến xuồng chở tre, trúc, sậy…từ đâu đó tôi không rõ, bằng chiếc xuồng lé đé nước, bà chèo xuồng cả ngày trời mới về tới nhà. Và khuya sớm một mình, với vật liệu có được, má tôi cặm cụi bện đó làm đăng. Rồi một cái đó được đặt xuống dòng sông để bắt tôm bắt cá.

Cá tôm lúc đó nhiều vô số. Có con nước “dậy tôm”, “dậy cá” mỗi lần má gồng lưng kéo cái đó lên xuồng, chiếc xuồng suýt chìm vì trọng lượng cá tôm trong cái đó. Không ít lần, cá ngác nguyên bầy dẫn nhau chui vào chiếc đó. Má tôi khó nhọc kéo cái đó đầy cá lên. Rồi má tôi buộc sợi dây vào từng con cá và chèo xuồng đưa tôi và đứa em trai tôi cùng lũ cá sang bên kia bờ sông. Tôi và thằng em vừa lên bảy, kéo lệch sệch những con cá ngác vừa to vừa dài đi đến từng nhà ở đầu trên xóm dưới để tặng cho họ. 

Sống giữa mênh mông sông nước nhưng má tôi không biết bơi. Trên chiếc xuồng nhỏ, lúc nào cũng có cái can nhựa rỗng, cái can nhựa màu trắng, nó làm chiếc phao cho má tôi, một cán bộ của Hội phụ nữ, một nông dân, một nữ hộ sinh, một bà đỡ đẻ mà người dân một vùng sông nước quen gọi má tôi “Bà mụ Tư” hay “Bà mụ Tư Mãnh” dù ngày đó má mới hơn ba mươi tuổi.     

Má vừa làm công tác đoàn thể vừa làm người đỡ đẻ cho khắp một vùng sông nước. Ngôi nhà sàn biệt lập bên ngã ba sông nép mình dưới cánh rừng âm u. Và cũng vì biệt lập lại ở ngay ngã ba sông mà ngôi nhà của má thành điểm dừng chân của nhiều đoàn quân giải phóng và cũng là địa điểm lọt vào ống nhòm từ phía trực thăng. Nhà má hai lần bị bom thiêu cháy và hai lần má làm lại nhà trên nền nhà cũ.

Chiếc xuồng nhỏ với mái chèo của mình, má tôi không chỉ đi đến nhiều nơi, nhiều gia đình để đón rước những sinh linh chào đời, bà còn nhiều lần chèo xuồng chở tử thi, những người dân vô tội bị bom pháo tước đi sinh mạng, ra đến chợ Cà Mau để cùng bà con đấu tranh trực diện với chính quyền Việt Nam Cộng hòa lúc đó hiện diện tại An Xuyên, thành phố Cà Mau hôm nay.

Chín tuổi, tôi làm chị hai đứa em trai, đứa lên bảy, đứa lên hai. Mà đâu chỉ làm chị. Có lúc tôi còn làm mẹ của đứa em lên hai. Thức đêm hôm, ẳm bồng, chiều chuộng, hát ầu ơ, ăn uống, giặt giũ. Nhưng tôi không cảm thấy vất vả. Bởi tôi muốn chia sẻ nhọc nhằn với má và tôi yêu thương các em tôi. Chúng cũng như tôi, cứ nơm nớp sợ. Sợ sông sâu. Sợ dòng chảy siết. Sợ rừng rậm. Sợ rắn, sợ rết, sợ muỗi, sợ con bù mắc…rồi sợ đêm đen, sợ ma, những con ma với vô số hình dạng gớm giếc có thể nhảy xổ ra bất kể lúc nào. Sợ tiếng máy bay quần đảo trên đầu. Sợ bom rơi. Sợ đạn lạc. Sợ cha mình không còn được trở về, sợ không dám nói ra nỗi sợ lúc nào như cũng bóp nghẹt trái tim trong lòng ngực non nớt, là sợ không nghe thấy tiếng mái chèo của má. Sợ con sóng dữ nhấn chìm chiếc xuồng lé đé nước của má…

Bà mụ Tư

Bàu Hầm, địa danh mà mãi sau này, di chuyển nhiều nơi và định cư tại Sài Gòn hơn ba mươi năm qua, có lẽ là cái tên hằn sâu vào trí nhớ của tôi. Bàu Hầm, nơi ngôi nhà sàn biệt lập của má trở thành nơi tìm đến của biết bao gia đình có người đàn bà chuyển bụng sắp sinh. Bất kể giờ giấc, bất chấp đêm hay ngày, nắng hay mưa, nước ròng hay nước lớn, kể cả máy bay quần đảo trên đầu, má luôn sẵn sàng. Nếu sản phụ ở xa và trở dạ vào ban đêm, má kéo cả ba đứa con lóc nhóc theo cùng. Có lần, đến đâu đó ở vùng Khai hoang đồng không mông quạnh, căn chòi mà người đàn bà đang rên la trong cơn đau đẻ chỉ có chiếc giừng tre duy nhất, tôi phải kéo hai đứa em ra ngoài, ôm chúng trong bóng đêm với bầy muỗi đói, hồi hộp chờ tiếng khóc của đứa trẻ được chào đời.

Có lần má được người nhà của sản phụ rước đi từ sáng sớm nên má để lũ con ở nhà. Không ngờ lại gặp ca đẻ khó, đến đêm khuya má mới về nhà. Lúc má về đến nhà, thằng em út mới hai tuổi đang lên cơn sốt. Má luôn bình tĩnh trước mọi tình huồng và là một chiến binh quả cảm. Má tiêm cho thằng con mũi thuốc nhưng nó vẫn sốt cao và co giật. Dù là một nữ hộ sinh cừ, trong lúc cơn co giựt thằng bé không dứt, má tôi chỉ vào con mèo mướp, má bảo tôi và đứa em kế, bắt nó lại, đè nó xuống, bà sẽ mổ lấy cái mật. Mật mèo mát có tác dụng làm dịu cơn nóng. Tôi nghe lời má. Tiến về phía con mèo. Trong ánh đèn dầu với quầng sáng mờ mờ, tôi thấy ánh mắt sáng như ánh sao của nó. Ánh sao nơi mắt mèo làm tôi lùi lại. Tôi vội kéo thằng em kế xuống xuồng, bơi qua sông sâu. Vừa bơi vừa réo vang cả khúc sông tên người đàn bà cắt lễ nổi tiếng của xóm. Khi đưa được bà cắt lễ về tới bến sông trước nhà, tôi nghe tiếng em tôi: “Chế hai ơi, má làm em bớt nóng rồi!”, nước mắt lã chã, tôi nhào tới ôm đứa em bé bỏng vào lòng.

Khi em tôi dịu được cơn nóng, dưới bến sông lại có tiếng xuồng khua cùng tiếng gọi hớt hãi: “Chế Tư Mãnh ơi, mau mau cứu vợ em!”

Hôm chị em tôi về thăm má, nhắc lại chuyện má làm bà mụ năm xưa. Bà bà tần ngần rồi lần tay đếm đi đếm lại một hồi rồi nói: “Má đỡ đẻ chắc có có hơn 300 đứa. Có 7 đứa thò cái chân ra trước” 

Cây đàn măng đô lin ca má

Suốt năm tháng tuổi thơ, chị em chúng tôi ít khi được má đung đưa chiếc võng và hát ru như bao nhiêu người mẹ khác. Bù lại, tôi và các em được nghe má đánh đàn. Những bản nhạc chị em tôi ngấm từ tấm bé và vẫn nhớ như in dáng ngồi của má khi ôm đàn khi gãy dây đàn, có lúc má hát theo tiếng đàn, những khúc hát đi cùng năm tháng: Lá xanh, Bên bờ Hiền Lương, Nhạc rừng, Lên Ngàn, Bài ca hy vọng, Qua sông, Con thuyền không bến, Suối Mơ…

Cây đàn măng đô lin của má không rõ má có được từ lúc nào và tiếng đàn lúc sôi nổi giòn giã, lúc réo rắt thiết tha của má dường như là mặc nhiên từ má, của má, của người đàn bà mà sự kiên cường mạnh mẽ buộc phải có để vượt thoát nghịch cảnh, chu toàn việc riêng việc chung, bằng tất cả nghị lực của trái tim yêu thương và cho đi sự yêu thương, tất cả còn được gởi gắm vào tiếng đàn…

Dù là ngôi nhà vách lá trước kia và sau này là nhà vách tường, cây đàn măng đô lin của má vẫn treo trên vách, trên tường, trong tầm tay của má. Cái giá nhạc đơn sơ cũng đặt trước mặt má. Quyển sổ chép nhạc của má với nét chữ không thể lẫn với nét chữ của bất cứ ai. Nét chữ từ bàn tay vừa dịu dàng vừa rắn rỏi của bà mụ đỡ đẻ. 

Ba tôi vĩnh viễn ra đi đã gần 12 năm. Tất cả dường như vẫn không có gì thay đổi. Ngôi nhà nhỏ đơn sơ vẫn nằm trong khuôn viên rộng. Má cho sửa sang lại nhà. Chủ yếu là làm lại cái sân. Từ nền xi măng má cho lót gạch và cái sân cũng được mở rộng hơn để cho các cô các chị ở phường xóm đến tập văn nghệ, tập dưỡng sinh mỗi sớm mỗi chiều. Má cho sơn lại tường và cửa. Màu sơn tươi đến chói mắt. Và má cho gỡ rèm xuống, để lúc đôi chân không còn khỏe, khi ngồi trên giường ngủ bà vẫn có thể nhìn ngắm được những gương mặt thân quen cùng những hoạt động bền bỉ diễn ra trên sân nhà.

Suốt bao năm má sống với niềm vui tận tụy lo cho mọi người trong khả năng có được của mình. Đàn, hát, tổ chức và duy trì sinh hoạt tập dưỡng sinh, văn nghệ, bảo ban, chăm sóc nhau không chỉ về tinh thần.

Sau hai lần bệnh nặng, sức khỏe má đã không thể tham gia các hoạt động văn thể mỹ như trước đây. Tuy vậy, bốn giờ rưởi sáng, các cô các chị vẫn giữ nếp sinh hoạt lâu nay, vẫn tập những bài tập dưỡng sinh theo tiếng nhạc, theo bài hát từ “dàn âm thanh” đã mòn dấu tay của má, trên khoảng sân của má, và trong sự chăm chút lặng lẽ của má.

Mấy ngày chị em tôi về thăm má trôi qua thật nhanh. Má bước đi khó nhọc để ra cổng nhà tiễn các con lên xe.

Ngoái lại, má vẫn đứng nhìn theo chiếc xe chở các con về lại Sài Gòn, lòng tôi nhoi nhói niềm thương. Trên chuyến xe đầu năm, tôi bấm vào phím chữ điện thoại:

Tạm biệt mẹ, lại sống trong cách trở

Tự dối lòng không khoảng cách trái tim

Mẹ già yếu, chiếc xuồng con chở khẳm

Gió thổi liên hồi từ phía thời gian.



Má tôi và tôi với tấm ảnh chụp một biểu trưng của vở kịch “Ông Ba Gật” mà ba tôi, ông Trịnh Hồng Phương (bút danh: Nguyễn Hải Tùng, Hội viên Hội nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam) là tác giả - tác phẩm được truy lãnh Giải thưởng Văn học nghệ thuật Phan Ngọc Hiển của UBND tỉnh Cà Mau.


Thành phố Thủ Đức, ngày 4/1/2024

(Bài đăng báo Người Lao động Xuân Giáp Thìn 2024)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm