TIN TỨC

Má tôi - Ký của Bích Ngân

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-05-31 09:18:38
mail facebook google pos stwis
1056 lượt xem

Cụ Bà Phạm Thị Mãnh, mẫu thân nhà văn Bích Ngân, vừa từ trần ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại quê nhà Cà Mau. Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng đăng lại bài viết từng in trên báo Người Lao Động Xuân Giáp Thìn 2024 – nơi nhà văn Bích Ngân bằng những dòng hồi ức thấm đẫm yêu thương đã khắc họa chân dung người mẹ tảo tần, giàu đức hy sinh và nhân hậu.
Mời quý vị và các bạn cùng đọc lại bài viết xúc động này như một nén tâm nhang tưởng niệm và tri ân.

BÍCH NGÂN

Sáng ngày cuối năm, dịp nghỉ Tết dương lịch mấy chị em cùng về thăm má. Má tuổi cao. Em gái út sống bên má cũng đã năm mươi. Ba đứa con lớn và gia đình riêng mỗi đứa đều định cư Sài Gòn.

Hai năm nay má không còn khỏe. Các con ở xa lúc má đau bệnh mới vội vã quay về và cũng vội vã trở lên Sài Gòn khi má vừa khỏe lại. Đứa nào cũng vướng víu việc chung việc riêng và đứa nào cũng thấy ray rứt bởi thời gian dành cho đấng sinh thánh quá ít. Rồi chị em ngoéo tay nhau, ai có thể thu xếp việc là về ngay với má...

Chiếc xuồng lé đé nước của má

Tôi lên xe. Giường nằm. Duỗi chân, nằm dài. Qua cửa kính thấy nhà cửa, cỏ cây, đồng ruộng, sông ngòi. Qua cửa kính, những con đường miền Tây, đường bộ, đường sông, đường qua những chiếc cầu lớn nhỏ gợi lại trong tôi biết bao hình ảnh buồn vui gắn với tuyến đường này và nhớ nhất là những chuyến phà chạy rì rì ngày đêm đưa hành khách đợi chờ phờ phạc từ bên này bờ để được sang bên kia bờ và ngược lại, của dòng sông Tiền, sông Hậu. Giờ chỉ ít phút là xe vượt qua sông Tiền, sông Hậu trên những chiếc cầu với những sợi dây cáp giăng giăng tương tựa hình những cánh quạt nan xòe rộng.  

Dù chỉ nhìn mặt sông mênh mang lấp lánh mây trời, loáng thoáng hình bóng vừa mơ hồ vừa rõ nét như thước phim ký ức được chiếu lại, lại đưa tôi về với tuổi thơ.

Tôi như thấy lại, gặp lại tuổi thơ của mình, tuổi thơ của đứa trẻ lớn lên trong chiến tranh. Và dường như sự dồn đuổi của ký ức, của yêu thương khiến tôi nhớ, dĩ nhiên không thể nhớ thật rõ mọi thứ nhưng có những hình ảnh, những từng tình tiết vẫn còn nguyên vẹn như không phải đã lùi xa hơn 50 năm.

Ba tôi thoát ly gia đình tham gia kháng chiến. Mảnh đất cha ông mà ngoại tôi, má tôi, cậu dì tôi lớn lên và sinh sống lại lọt vào vùng tạm chiếm, nơi đó trở thành ấp chiến lược của chính quyền miền Nam Việt Nam Cộng hòa. Là vợ của “Việt cộng” nên má tôi phải đùm túm mấy đứa con nhỏ, mùng mền, xoong nồi rời nhà cửa, bỏ đất đai, lặng lẽ ra đi trong đêm. Tôi còn nhớ mang máng tiếng mái chèo khuya trên mặt sông loang loáng ánh lân tinh dưới bầu trời rải rác những vì sao.

Má tôi được chính quyền vùng kháng chiến giúp cất ngôi nhà sàn mái lá bằng lá dừa nước. Ngôi nhà sàn cất dưới tán cây rừng và quay mặt ra mặt sông tại một ngã ba sông ở ấp Bàu Hầm. Một mình má chèo những chuyến xuồng chở tre, trúc, sậy…từ đâu đó tôi không rõ, bằng chiếc xuồng lé đé nước, bà chèo xuồng cả ngày trời mới về tới nhà. Và khuya sớm một mình, với vật liệu có được, má tôi cặm cụi bện đó làm đăng. Rồi một cái đó được đặt xuống dòng sông để bắt tôm bắt cá.

Cá tôm lúc đó nhiều vô số. Có con nước “dậy tôm”, “dậy cá” mỗi lần má gồng lưng kéo cái đó lên xuồng, chiếc xuồng suýt chìm vì trọng lượng cá tôm trong cái đó. Không ít lần, cá ngác nguyên bầy dẫn nhau chui vào chiếc đó. Má tôi khó nhọc kéo cái đó đầy cá lên. Rồi má tôi buộc sợi dây vào từng con cá và chèo xuồng đưa tôi và đứa em trai tôi cùng lũ cá sang bên kia bờ sông. Tôi và thằng em vừa lên bảy, kéo lệch sệch những con cá ngác vừa to vừa dài đi đến từng nhà ở đầu trên xóm dưới để tặng cho họ. 

Sống giữa mênh mông sông nước nhưng má tôi không biết bơi. Trên chiếc xuồng nhỏ, lúc nào cũng có cái can nhựa rỗng, cái can nhựa màu trắng, nó làm chiếc phao cho má tôi, một cán bộ của Hội phụ nữ, một nông dân, một nữ hộ sinh, một bà đỡ đẻ mà người dân một vùng sông nước quen gọi má tôi “Bà mụ Tư” hay “Bà mụ Tư Mãnh” dù ngày đó má mới hơn ba mươi tuổi.     

Má vừa làm công tác đoàn thể vừa làm người đỡ đẻ cho khắp một vùng sông nước. Ngôi nhà sàn biệt lập bên ngã ba sông nép mình dưới cánh rừng âm u. Và cũng vì biệt lập lại ở ngay ngã ba sông mà ngôi nhà của má thành điểm dừng chân của nhiều đoàn quân giải phóng và cũng là địa điểm lọt vào ống nhòm từ phía trực thăng. Nhà má hai lần bị bom thiêu cháy và hai lần má làm lại nhà trên nền nhà cũ.

Chiếc xuồng nhỏ với mái chèo của mình, má tôi không chỉ đi đến nhiều nơi, nhiều gia đình để đón rước những sinh linh chào đời, bà còn nhiều lần chèo xuồng chở tử thi, những người dân vô tội bị bom pháo tước đi sinh mạng, ra đến chợ Cà Mau để cùng bà con đấu tranh trực diện với chính quyền Việt Nam Cộng hòa lúc đó hiện diện tại An Xuyên, thành phố Cà Mau hôm nay.

Chín tuổi, tôi làm chị hai đứa em trai, đứa lên bảy, đứa lên hai. Mà đâu chỉ làm chị. Có lúc tôi còn làm mẹ của đứa em lên hai. Thức đêm hôm, ẳm bồng, chiều chuộng, hát ầu ơ, ăn uống, giặt giũ. Nhưng tôi không cảm thấy vất vả. Bởi tôi muốn chia sẻ nhọc nhằn với má và tôi yêu thương các em tôi. Chúng cũng như tôi, cứ nơm nớp sợ. Sợ sông sâu. Sợ dòng chảy siết. Sợ rừng rậm. Sợ rắn, sợ rết, sợ muỗi, sợ con bù mắc…rồi sợ đêm đen, sợ ma, những con ma với vô số hình dạng gớm giếc có thể nhảy xổ ra bất kể lúc nào. Sợ tiếng máy bay quần đảo trên đầu. Sợ bom rơi. Sợ đạn lạc. Sợ cha mình không còn được trở về, sợ không dám nói ra nỗi sợ lúc nào như cũng bóp nghẹt trái tim trong lòng ngực non nớt, là sợ không nghe thấy tiếng mái chèo của má. Sợ con sóng dữ nhấn chìm chiếc xuồng lé đé nước của má…

Bà mụ Tư

Bàu Hầm, địa danh mà mãi sau này, di chuyển nhiều nơi và định cư tại Sài Gòn hơn ba mươi năm qua, có lẽ là cái tên hằn sâu vào trí nhớ của tôi. Bàu Hầm, nơi ngôi nhà sàn biệt lập của má trở thành nơi tìm đến của biết bao gia đình có người đàn bà chuyển bụng sắp sinh. Bất kể giờ giấc, bất chấp đêm hay ngày, nắng hay mưa, nước ròng hay nước lớn, kể cả máy bay quần đảo trên đầu, má luôn sẵn sàng. Nếu sản phụ ở xa và trở dạ vào ban đêm, má kéo cả ba đứa con lóc nhóc theo cùng. Có lần, đến đâu đó ở vùng Khai hoang đồng không mông quạnh, căn chòi mà người đàn bà đang rên la trong cơn đau đẻ chỉ có chiếc giừng tre duy nhất, tôi phải kéo hai đứa em ra ngoài, ôm chúng trong bóng đêm với bầy muỗi đói, hồi hộp chờ tiếng khóc của đứa trẻ được chào đời.

Có lần má được người nhà của sản phụ rước đi từ sáng sớm nên má để lũ con ở nhà. Không ngờ lại gặp ca đẻ khó, đến đêm khuya má mới về nhà. Lúc má về đến nhà, thằng em út mới hai tuổi đang lên cơn sốt. Má luôn bình tĩnh trước mọi tình huồng và là một chiến binh quả cảm. Má tiêm cho thằng con mũi thuốc nhưng nó vẫn sốt cao và co giật. Dù là một nữ hộ sinh cừ, trong lúc cơn co giựt thằng bé không dứt, má tôi chỉ vào con mèo mướp, má bảo tôi và đứa em kế, bắt nó lại, đè nó xuống, bà sẽ mổ lấy cái mật. Mật mèo mát có tác dụng làm dịu cơn nóng. Tôi nghe lời má. Tiến về phía con mèo. Trong ánh đèn dầu với quầng sáng mờ mờ, tôi thấy ánh mắt sáng như ánh sao của nó. Ánh sao nơi mắt mèo làm tôi lùi lại. Tôi vội kéo thằng em kế xuống xuồng, bơi qua sông sâu. Vừa bơi vừa réo vang cả khúc sông tên người đàn bà cắt lễ nổi tiếng của xóm. Khi đưa được bà cắt lễ về tới bến sông trước nhà, tôi nghe tiếng em tôi: “Chế hai ơi, má làm em bớt nóng rồi!”, nước mắt lã chã, tôi nhào tới ôm đứa em bé bỏng vào lòng.

Khi em tôi dịu được cơn nóng, dưới bến sông lại có tiếng xuồng khua cùng tiếng gọi hớt hãi: “Chế Tư Mãnh ơi, mau mau cứu vợ em!”

Hôm chị em tôi về thăm má, nhắc lại chuyện má làm bà mụ năm xưa. Bà bà tần ngần rồi lần tay đếm đi đếm lại một hồi rồi nói: “Má đỡ đẻ chắc có có hơn 300 đứa. Có 7 đứa thò cái chân ra trước” 

Cây đàn măng đô lin ca má

Suốt năm tháng tuổi thơ, chị em chúng tôi ít khi được má đung đưa chiếc võng và hát ru như bao nhiêu người mẹ khác. Bù lại, tôi và các em được nghe má đánh đàn. Những bản nhạc chị em tôi ngấm từ tấm bé và vẫn nhớ như in dáng ngồi của má khi ôm đàn khi gãy dây đàn, có lúc má hát theo tiếng đàn, những khúc hát đi cùng năm tháng: Lá xanh, Bên bờ Hiền Lương, Nhạc rừng, Lên Ngàn, Bài ca hy vọng, Qua sông, Con thuyền không bến, Suối Mơ…

Cây đàn măng đô lin của má không rõ má có được từ lúc nào và tiếng đàn lúc sôi nổi giòn giã, lúc réo rắt thiết tha của má dường như là mặc nhiên từ má, của má, của người đàn bà mà sự kiên cường mạnh mẽ buộc phải có để vượt thoát nghịch cảnh, chu toàn việc riêng việc chung, bằng tất cả nghị lực của trái tim yêu thương và cho đi sự yêu thương, tất cả còn được gởi gắm vào tiếng đàn…

Dù là ngôi nhà vách lá trước kia và sau này là nhà vách tường, cây đàn măng đô lin của má vẫn treo trên vách, trên tường, trong tầm tay của má. Cái giá nhạc đơn sơ cũng đặt trước mặt má. Quyển sổ chép nhạc của má với nét chữ không thể lẫn với nét chữ của bất cứ ai. Nét chữ từ bàn tay vừa dịu dàng vừa rắn rỏi của bà mụ đỡ đẻ. 

Ba tôi vĩnh viễn ra đi đã gần 12 năm. Tất cả dường như vẫn không có gì thay đổi. Ngôi nhà nhỏ đơn sơ vẫn nằm trong khuôn viên rộng. Má cho sửa sang lại nhà. Chủ yếu là làm lại cái sân. Từ nền xi măng má cho lót gạch và cái sân cũng được mở rộng hơn để cho các cô các chị ở phường xóm đến tập văn nghệ, tập dưỡng sinh mỗi sớm mỗi chiều. Má cho sơn lại tường và cửa. Màu sơn tươi đến chói mắt. Và má cho gỡ rèm xuống, để lúc đôi chân không còn khỏe, khi ngồi trên giường ngủ bà vẫn có thể nhìn ngắm được những gương mặt thân quen cùng những hoạt động bền bỉ diễn ra trên sân nhà.

Suốt bao năm má sống với niềm vui tận tụy lo cho mọi người trong khả năng có được của mình. Đàn, hát, tổ chức và duy trì sinh hoạt tập dưỡng sinh, văn nghệ, bảo ban, chăm sóc nhau không chỉ về tinh thần.

Sau hai lần bệnh nặng, sức khỏe má đã không thể tham gia các hoạt động văn thể mỹ như trước đây. Tuy vậy, bốn giờ rưởi sáng, các cô các chị vẫn giữ nếp sinh hoạt lâu nay, vẫn tập những bài tập dưỡng sinh theo tiếng nhạc, theo bài hát từ “dàn âm thanh” đã mòn dấu tay của má, trên khoảng sân của má, và trong sự chăm chút lặng lẽ của má.

Mấy ngày chị em tôi về thăm má trôi qua thật nhanh. Má bước đi khó nhọc để ra cổng nhà tiễn các con lên xe.

Ngoái lại, má vẫn đứng nhìn theo chiếc xe chở các con về lại Sài Gòn, lòng tôi nhoi nhói niềm thương. Trên chuyến xe đầu năm, tôi bấm vào phím chữ điện thoại:

Tạm biệt mẹ, lại sống trong cách trở

Tự dối lòng không khoảng cách trái tim

Mẹ già yếu, chiếc xuồng con chở khẳm

Gió thổi liên hồi từ phía thời gian.



Má tôi và tôi với tấm ảnh chụp một biểu trưng của vở kịch “Ông Ba Gật” mà ba tôi, ông Trịnh Hồng Phương (bút danh: Nguyễn Hải Tùng, Hội viên Hội nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam) là tác giả - tác phẩm được truy lãnh Giải thưởng Văn học nghệ thuật Phan Ngọc Hiển của UBND tỉnh Cà Mau.


Thành phố Thủ Đức, ngày 4/1/2024

(Bài đăng báo Người Lao động Xuân Giáp Thìn 2024)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm