TIN TỨC

Văn chương và những ngộ nhận đáng buồn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-07-13 21:38:47
mail facebook google pos stwis
221 lượt xem

Lê Xuân

Tôi đã đọc một số bài thơ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều từ những năm trước, nó như có tính “dự báo”, “dọn đường” cho trường ca “Lò mổ” ra đời tạo được tiếng vang. Và thi ca với sứ mệnh thiêng liêng của nó, qua trường ca “Lò Mổ” cũng sẽ vượt qua biên giới của lý trí để tới với bạn bè năm châu bốn biển.

Bìa Trường ca “Lò Mổ” của Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Ở bài viết nhỏ này tôi chỉ đưa ra những cảm nhận cá nhân sau những ồn ào tranh cãi về “Lò Mổ”, trân trọng mọi ý kiến, tuyệt nhiên không nhằm “bốc thơm” hay “châm chọc” một ai.

Theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cho biết, anh viết trường ca “Lò mổ” từ năm 2016 và đến nay sau nhiều lần chỉnh sửa vẽ tranh mới hoàn thành. Trong buổi ra mắt sách khá hoành tráng ở NXB Hội Nhà văn Việt Nam – 65 Nguyễn Du, Hà Nội, anh cho biết lý do viết trường ca “Lò mổ” là khi cùng cha ghé qua lò mổ ở ngoại ô Hà Đông: “Đó là lần đầu tiên trong đời tôi tiếp xúc với một không gian u ám, tàn khốc, nơi chứng kiến cảnh giết chóc những con vật”; rồi trong cơn ác mộng… tôi nhìn thấy những con bò xếp hàng, trò chuyện và bước tới để nhận cái chết. Tôi nghe thấy tiếng những con bò rống vang khi bị chọc tiết, tôi nhìn thấy máu chảy xối xả… tôi nhìn thấy linh hồn những con bò bay qua ô cửa sổ lò mổ …”. Như vậy là cái bi thương ấy cứ ám ảnh anh và anh cầu mong sau cái chết đó là sự nẩy mầm của sự sống.

Sau khi ra mắt sách, đã có nhiều bài viết ca ngợi và cũng có những tiếng nói “phản biện” với một tâm thế mang dấu ấn cá nhân của một cách đọc “chụp mũ” cùng với sự đố kỵ. Việc khen chê một tác phẩm là chuyện bình thường trong giới học thuật xưa nay. Song, để khen cho đúng, chê cho đúng không phải chuyện dễ. Có lẽ ta nên nhớ lời nhà hiền triết Tuân Tử (313 – 235 trước Công nguyên), người Trung Hoa, đã dạy: “Người chê ta đúng là thầy ta, người khen ta đúng là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”. Khen đúng, chê đúng giúp ta được bài học để bước tiếp. Còn khen chê không đúng thì quả là điều đáng buồn. Nó làm vàng thau lẫn lộn, đưa người ta vào “ma hồn trận” để  “ma đưa lối quỷ dẫn đường” (Nguyễn Du). Nguyên nhân của những tranh cãi nằm ở nhiều phía, chủ quan và khách quan.

Trước hết là ở cách đọc. Ở trường ca “Lò Mổ”-  một tác phẩm có sự kết hợp giữa Thơ và Họa đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng bạn đọc. Đọc lần thứ nhất chỉ là cách đọc “bì phu” (sờ vào da của tác phẩm). Ta phải đọc lần hai, còn gọi là cách đọc “cốt nhục”, đi vào phần xương thịt của tác phẩm. Rồi đọc lần 3, hoặc lần thứ “n” – cách đọc “hút tủy” tác phẩm thì mới từng bước thấy hết cái “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời) của hình tượng thơ mang lại. Cái buồn, cái đau, cái ác, cái xấu bị đẩy lên tận cùng để cái đẹp, cái tốt nảy mầm vươn ra ánh sáng, để “Sự sống lại bắt đầu từ cái chết” như nhà văn Nguyễn Khải đã nói. Tính nhân văn được đưa lên một tầm cao mới. Nó là “tảng băng chìm” đang từ từ nhô lên mặt biển sau giông tố.

“Lò Mổ” không phải là tác phẩm dễ đọc, nó như một món “hàng hiệu” kén khách. Tùy vào trình độ và tâm thế mà người đọc lĩnh hội được những gì. Lâu nay một số bạn đọc quen với với lối thơ truyền thống, có vần điệu du dương, hình ảnh lấp lánh, dễ nhớ dễ thuộc, nên khi bắt gặp một loại thơ tự do viết theo lối mới thì có cảm tưởng như khi ăn cơm ta nhai phải hạt sạn, điều đó cũng dễ hiểu. Vì thế đã có nhà thơ tự xưng “dịch thơ Việt ra thơ Việt” cho dễ nghe, dễ nhớ.

Khi tôi đọc trường ca ta này lần đầu, đọc xong tôi nhắm mắt lại như bị “ma ám”, mộng mị khi bay lên chín tầng mây, có khi như rớt xuống địa ngục cùng con bò và tay đồ tể. Nhưng khi tỉnh lại đọc lần hai, lần ba cho hình tượng thơ thấm vào hồn thì lúc đó khó dứt ra và ta thấy hân hoan chào đón chú Bê con chào đời trong ánh sáng. Phải sống, phải trải nghiệm mới hiểu hết trường ca này, và ta sẽ thấy những liên tưởng “ngoài tác phẩm” đem tới nhiều điều thú vị. Bởi nhà thơ vốn là một họa sĩ thuộc trường phái “hiện sinh” nên đã đem vào trường ca nhiều “ẩn dụ liên tưởng”. Và nếu ai ít vốn sống về các lĩnh vực hội họa, mỹ thuật, âm nhạc…thì khó thẩm thấu hết thông điệp mà nhà thơ gửi vào tác phẩm qua các hình tượng nghệ thuật đa chiều, đa nghĩa, nhiều khi rất siêu thực.

Sự kết hợp giữa Thơ và Họa trong “Lò Mổ” là một sự tìm tòi mới lạ về hình thức, nó khác với loại “truyện tranh thiếu nhi”. “Lò Mổ” chuyển tải một nội dung về thân phận con người và cuộc sống với tất cả sự ái, ố, hỉ, nộ và bi thương như cuộc đời vốn có. Vì vậy có thể một số người hôm nay cho “Lò Mổ” có nhiều hạt sạn thì biết đâu sau một thời gian được bạn đọc thẩm định, rồi “mặc định” thì bạn sẽ điều chỉnh lại cách đọc, cách cảm để thấy những mặt thành công, sự cách tân thể loại cùng những hạn chế của trường ca này. Nhưng dù sao đi nữa thì khi chúng ta đọc và cảm cũng nên “Lấy hồn ta để hiểu hồn người” như nhà Phê bình văn học Hoài Thanh đã nói. Song, thời đại đã mở của với trí tuệ nhân tạo AI, với ChatGPT thì không những thơ ca mà nhiều loại hình nghệ thuật còn đổi mới và tiến xa hơn nữa. Cái vỏ của thơ ca cũng phải nới rộng biên độ để có thể chứa đựng những nội dung mới, khái niệm mới.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Với “Lò Mổ” là sự kết hợp rất hài hòa giữa Thơ và Họa, giữa nội dung và nghệ thuật qua 18 chương của trường ca được tóm lược qua 18 bức tranh mang tên “Nguyện cầu”, phản ánh khá rõ chủ đề của từng chương, và khi xâu chuỗi lại nó là một tổng thể khá hoàn chỉnh của một câu chuyện được diễn tả bằng “thơ tự do” bằng bút pháp thơ “hậu hiện đại”, mang hơi thở “phân tâm học” của Freud, điều mà ta không dễ gì đọc lướt để hiểu hết thông điệp của tác giả. Đọc, liên tưởng, phản biện… các tầng nghĩa chìm sẽ từ từ hiện lên, và ta “đồng sáng tạo” cùng tác giả. Loại thơ này rất kén người đọc.

Vì vậy sau khi “Lò Mổ” ra mắt, đã có nhiều bài viết trên các báo, Tạp chí, facebook cá nhân của một số tác giả đã có nhiều “phản biện”, tranh cãi, tạo nên một không khí thẩm định tác phẩm đa sắc màu. Nếu tác phẩm cứ đèm đẹp nằm yên trong ao làng thì có ích chi. Chính nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã có những lời tự bạch, tâm sự với bạn đọc về sự ra đời của tác phẩm và ý định của nhà thơ về một xu hướng sáng tác đa văn bản, nhiều liên tưởng của sự kết hợp giữa Thơ và Họa.

Những ngày qua, có người hỏi tôi về các ý kiến tranh luận quanh trường ca “Lò Mổ”. Tôi thấy vui buồn lẫn lộn. Nhưng trên hết, tôi nhận ra rằng: Vẫn còn nhiều người dành sự quan tâm nghiêm túc với văn chương. Đó là điều đáng mừng. Song, trong những tranh luận đó, cũng có những ngộ nhận, đáng tiếc thay lại đến từ những người cầm bút.

Sự ngộ nhận về chính trị.

Một số người cho rằng trường ca “Lò Mổ” có hơi hướng của “cách mạng màu” hay mang tư tưởng “diễn biến hòa bình”. Theo tôi, nhận định như vậy là quá vội vã, thậm chí là áp đặt. Tôi không viết chính trị, tôi viết văn học. Và như thế hệ của tôi đã trải qua, ai trong chúng tôi cũng biết đâu là ranh giới để tự gìn giữ mình mà vẫn không đánh mất ngòi bút trung thực.

Không nên gán ghép những suy diễn chính trị vào một tác phẩm văn học phản ánh hiện thực. Văn học, suy cho cùng, là tiếng nói của con người trước cái Thiện, cái Ác, là nơi người viết đối thoại với thời đại, chứ không phải một công cụ tuyên truyền hay đả kích phiến diện. Chừng nào còn đòi hỏi văn học phải thuần phục một màu duy ý chí, chừng đó văn chương còn nghèo đi và xã hội càng thiếu đi một “tấm gương phản tư”

    Và câu chuyện đố kỵ.

Đây mới thật sự là điều khiến tôi trăn trở. Không ít người trong giới cầm bút vẫn còn mang tâm lý “văn mình, vợ người”, luôn muốn mình nổi trội hơn người khác. Hôm qua còn là bạn, hôm nay thấy người kia đoạt giải hay được độc giả mến mộ, liền sinh lòng ganh ghét, xa lánh, nói xấu, thậm chí vùi dập nhau bằng lời mỉa mai. Tôi không trách, nhưng tôi tiếc.

Bởi một người viết thật sự, thì trái tim phải rộng hơn những toan tính thiệt hơn ấy. Văn chương không nuôi được ai, nhưng nó nuôi lớn nhân cách của người cầm bút. Năm 2010, tôi đã có hai bài thơ trào phúng đăng trên website Hội Nhà văn Việt Nam: “Kẻ đố kỵ” và “Kẻ hãnh tiến”. Xin trích một đoạn trong bài “Kẻ đố kỵ” – như một tấm gương phản chiếu:

“Kẻ đố kỵ thời nay đầy rẫy/Ghen ghét người, vạch lá tìm sâu/Cho mình giỏi còn người đời dốt hết/Nhìn bạn bè bằng nửa con ngươi/Kẻ đố kỵ hay khoe khoang ầm ĩ/Luôn thổi phồng thành tích cá nhân/Và với ai cũng bới lông tìm vết/Ném đá giấu tay hại cả bạn mình/Kẻ đố kỵ hay ngồi lê mách lẻo/Buôn “dưa lê” đủ chuyện trên đời/Thấy ai hơn mình liền hằn học/Cố phịa ra điều xấu hại người/Kẻ đố kỵ lắm mưu gian kế hiểm/Khi giấu đầu, khi lại hở đuôi/Người khác khổ đau, hắn cười khoái trá/Chẳng biết mình cũng chỉ một loài tôm”*

 (*“Loài tôm cứt lộn lên đầu” – thành ngữ dân gian)

Thói đố kỵ rất dễ dẫn đến sự dối trá. Và điều ấy, sớm hay muộn, sẽ quay lại làm hại chính ta. Nhà văn Edmondo De Amicis – nhà thơ, nhà báo người Ý, từng viết: “Đừng để con rắn ghen tị luồn vào trong tim. Đó là một con rắn độc. Nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái tim bạn.”

Nhà văn, nhà viết kịch người Nga Yuri Olesha (1899–1960) có một tiểu thuyết để đời mang tên “Đố Kỵ” (Envy, 1927). Đó là một tác phẩm đậm chất thơ nhưng chua xót, thể hiện đúng bi kịch của sự ganh ghét trong xã hội hiện đại. Nhà phê bình Joseph Epstein thì nhận xét: “Trong bảy mối tội đầu của con người, chỉ có đố kỵ là không đem lại bất kỳ sự thỏa mãn hay vui thú nào.”. Chữ envy bắt nguồn từ tiếng Latin invidia – nghĩa là “mất thị giác”. Trong “Thần khúc” của Dante (1265–1321), hình phạt dành cho kẻ đố kỵ là bị khâu mí mắt bằng dây chì, như một biểu tượng cho sự mù lòa và tầm nhìn hạn hẹp của tâm hồn.

Văn chương cần sự đổi mới nhưng không thể tách rời chân thật.

Nội dung và hình thức trong văn chương là hai mặt của một đồng xu. Nhà phê bình văn học người Nga Nicolaieva từng viết: “Không có hình thức nào không chứa đựng nội dung, và không có nội dung nào tồn tại ngoài hình thức. Phá bỏ hình thức là phá bỏ nội dung, và ngược lại.”

Trường ca “Lò Mổ”, nếu có gì đáng nói, thì chính là nằm trong chuỗi 18 bức tranh mang tên “Nguyện cầu”, nơi ngôn từ đã được dồn nén đến tận cùng. Nhà văn Xsedrin từng nói một câu bất hủ: “Văn học nằm ngoài những định luật của sự băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết.”

Đã một thời có những tác phẩm từng bị cấm như Thơ Mới hay các tác phẩm của nhóm “Nhân văn giai phẩm”, rồi cuối cùng vẫn được “giải thiêng”, được nhìn nhận lại dưới ánh sáng đổi mới. Văn chương chân chính không sợ bị vùi lấp. Bởi người viết có thể chịu thiệt, nhưng cái đẹp, cái thật thì không thể chết.

Hãy để thời gian và bạn đọc làm trọng tài. Sau những ồn ào, sau những tranh cãi, xin hãy để trường ca “Lò Mổ” tự bước đi bằng giá trị văn chương của nó. Cứ để tháng năm lắng lại, ta sẽ biết đâu là quặng, đâu là ngọc, đâu là vàng, đâu là thau. Và rồi những tranh cãi cuối cùng cũng theo ta về La Mã, chỉ còn tình người, tình bạn đọng lại, như khi ta vui mừng chào đón một chú Bê con kháu khỉnh chào đời.

Tôi tin rằng trường ca “Lò Mổ” sẽ còn để lại dư ba. Và có thể, từ những tranh luận này, chúng ta sẽ khơi lại được một không khí học thuật từng im vắng quá lâu.

L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mỹ cảm của kiểu tự sự trong suốt trong tập tản văn “Nỗi buồn trong suốt” của Nguyễn Đức Phú Thọ
Tản văn là một thể loại dễ tiếp cận với mọi mặt của đời sống thông qua những lát cắt hiện thực, nhưng trung tâm tinh thần của thể loại này lại là cái tôi tư tưởng, cảm xúc của người nghệ sĩ. Tản văn vừa đậm chất trữ tình, vừa mang bản chất tự sự. Mỗi tác phẩm là một cách diễn giải về “Thế giới như tôi thấy”, đồng thời cũng là một tấm gương phản chiếu cấu trúc nội tâm của nhà văn.
Xem thêm
Cảm nhận thơ Trần Xuân Hóa từ một góc nhìn đa cảm
Bài viết của nhà thơ CCB Trần Trí Thông
Xem thêm
Hơi thở đất quê trong miền nhớ của Huỳnh Khang
Chủ đề và nội dung trong MIỀN NHỚ xoay quanh ký ức quê hương, tình mẫu tử, nghĩa làng nghĩa xóm, thiên nhiên, tình yêu đôi lứa, nỗi buồn mất mát, cùng những triết lý đời thường.
Xem thêm
Tiếng văn từ phía “bạn nguồn”
Nguyễn Minh Sơn, Hồ Tấn Vũ và Nguyễn Thị Như Hiền là ba cây bút thuộc thế hệ 7X và 9X
Xem thêm
Về trên dặm trường thiên lý “Miền Ô châu”
Tiếp theo các cuốn tản văn Sông vẫn chảy đời sông (NXB Thanh Niên 2023), Bốn mùa thương nhớ (NXB Thanh Niên 2024), nhà văn Nguyễn Linh Giang vừa ra mắt cuốn tản văn mới: “Miền Ô Châu” (NXB Phụ Nữ Việt Nam, 2025).
Xem thêm
Thơ ca chào đón Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9
Cách mạng tháng Tám - 1945 thành công, mở ra trang sử vàng chói lọi cho dân tộc. Bác Hồ đọc “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh ra Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á được thành lập. Hai tiếng Việt Nam vang lên đầy phấn khởi, tự hào trên trường quốc tế, đã khơi nguồn, làm bừng dậy biết bao cảm hứng về thơ ca, nhạc, họa thật mới mẻ, mãnh liệt và sôi nổi, làm không khí văn nghệ đổi sắc thay da. Từ đây nền văn học của ta chỉ còn duy nhất một trào lưu là văn học cách mạng.
Xem thêm
Hồi hộp trước “phút bù giờ” của Minh Đan
Ngôn ngữ của Minh Đan đôi lúc không còn chỉ là ký tự để giải nghĩa, mà là vật liệu có tâm hồn – biết khít lại, giãn ra, để tạo hình tượng và âm thanh.
Xem thêm
Phát triển
Nội dung quyết định hình thức. Xét cả quá trình văn học lâu dài, các hình thức tác phẩm kế tiếp nhau xuất hiện, tác động vào nền văn học, góp phần tạo ra phát triển văn chương. Bài viết chỉ đề cập đến chủ đề này của cuốn sách.
Xem thêm
Vẻ đẹp tình người và nỗi niềm ưu tư trong thơ Phạm Nguyên Thạch
Một trong những cánh én đầu đàn của văn học An Giang - nhà thơ Phạm Nguyên Thạch, anh sinh năm 1948, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật An Giang và hiện là Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh An Giang. Anh sáng tác từ trước năm 1975. Từ đó đến nay, nhà thơ đã có những tác phẩm tạo tiếng vang được xuất bản: “Ngôi nhà lợp ngói âm dương” (Văn Nghệ AG, 1986); “Theo tình” (VNAG, 1994); “Gió” (NXB Trẻ, 1999); “Thị trấn đá” (VNAG, 2002); “Cỏ lá quẩn quanh” (VNAG, 2006); “Mưa ảo” (NXB Hội Nhà văn, 2019).
Xem thêm
Nghiên cứu truyện Nam Cao theo góc nhìn thi pháp
Bằng cách ghi nhận từ các bài nghiên cứu, lời giới thiệu, chắt lọc những ý kiến nho nhỏ, có khi chỉ một vài nhận xét liên quan, có thể đưa ra một cách nhìn về tình hình nghiên cứu truyện ngắn Nam Cao trên góc độ thi pháp học hiện đại.
Xem thêm
Nguyễn Thành Phong – Nhà thơ tài hoa trữ tình, quan chiêm ngoại vi và nội hàm tự sự luận cảm của thơ Việt Nam thời kỳ đổi mới
Trữ tình và tự sự là những khái niệm của thơ, ngoại diên và nội hàm là những khái niệm của logic học. Ngoại vi là một phần của ngoại diên chỉ các đối tượng có phạm vi nhất định và chỉ định. Trong thơ, nó là các địa danh, hoặc các nhân vật trữ tình, các không thời gian xác định, tạo nguồn cảm hứng. Ngoại vi nhỏ hơn ngoại diên. Nội hàm là nội dung thuộc tính bên trong cả chủ quan và khách quan của sự vật, hiện tượng. Trữ tình nói bằng cảm xúc, gắn với bộc lộ chủ thể. Tự sự kể lại, tả lại khách thể. Phàm lệ mấy câu để bài viết này đỡ cảm thấy gượng ép, mong được đồng cảm.
Xem thêm
Hãy sống như những người đã chết - Một nhan đề độc đáo
Lúc đi học, thầy cô từng bảo nhan đề là tên của tác phẩm, còn có cách gọi khác là đầu đề, là cái tít chung của một văn bản. Nhan đề (đầu đề) thường do người viết đặt ra - như người bố, người mẹ đặt tên cho đứa con của mình; nhưng cũng có khi do người khác (cán bộ biên tập) đặt hộ, hoặc đổi tên đi cho hay, cho phù hợp với chủ đề của tác phẩm.
Xem thêm
Inrasara: Tác phẩm văn chương, từ tốt & hay đến lớn
Tại tọa đàm cùng tên do Hội Nhà văn TPHCM tổ chức, nhà thơ – nhà phê bình Inrasara đã mang đến những luận điểm sắc sảo, giàu trải nghiệm, mở ra cách nhìn mới về sự cộng hưởng giữa sáng tác và tiếp nhận, để văn chương thực sự chạm tới và ở lại lâu dài trong lòng người đọc.
Xem thêm
Văn học Đổi mới, một cách nhận diện
Cho đến nay, cụm từ “Văn học Đổi mới đã được sử dụng khá rộng rãi. Từ trong nhà trường đến ngoài xã hội, từ báo chí đến các các cơ quan truyền hình, đài phát thanh, trong các bài nói chuyện hay phát biểu của các nhà sáng tác, phê bình văn học, nó được xuất hiện một cách tự nhiên giống như một thuật ngữ đã được định hình.
Xem thêm
Phù sa tâm hồn qua “Ký ức bão!” của Lương Duy Cường
Những ngày đầu tháng Tám, tôi có chuyến đi miền Trung vào đúng dịp trời như rút ruột để nắng, đến nỗi chỉ cần thêm một giọt bỏng sẽ vỡ cả thinh không. Để mấy ngày sau trở về nhà, trong giấc mơ, quờ tay, tôi vẫn chạm vào bỏng rát. Người ta nói, trước những cơn thiên tai, nắng thường đi trước để dọn đường.
Xem thêm
Đói và sự thức tỉnh mình
Đọc ĐÓI của Đỗ Thành Đồng ngay trong phút thứ 59 và chuẩn bị bước qua con số 0. Nhìn lên góc giấy, hóa ra đây là trang thứ 59 LỤC BÁT ĐỜI. Có những sự tự nhiên, ngẫm cũng hay.
Xem thêm
Tác phẩm hay –Từ tiếp nhận và sáng tác
Có những câu hỏi tưởng chừng giản dị nhưng khiến người cầm bút trăn trở cả đời: Thế nào là một tác phẩm hay?
Xem thêm
Cảm thức quê hương, từ những tản văn đậm hồn quê
Ai đó từng nói: “Trong vũ trụ có nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt phẩm nhất đó là trái tim người mẹ”. Tình yêu của mẹ đẹp đẽ, thiêng liêng và bao la chẳng có bến bờ. Có mẹ, ta như có tất cả. Khi mẹ vắng xa cuộc sống sẽ đầy nỗi buồn thương, chán chường, tiếc nuối… Thời gian có chờ đợi ai bao giờ…
Xem thêm
Ký ức bóng mùa qua hay là cảm thức thời gian trong thơ Cao Ngọc Thắng
Cao Ngọc Thắng đã thực sự ám ảnh và thao thức về thời gian, không ngừng đi tìm thời gian đã mất để phục sinh những ký ức gần và ký ức xa trên hành trình tâm linh sự sống.
Xem thêm
Văn học các dân tộc thiểu số sau ngày đất nước thống nhất và hướng đi mới trong kỉ nguyên số
Văn học hiện đại các dân tộc thiểu số sau gần một thế kỉ hình thành và phát triển, đến nay đã có gần 1500 hội viên ở các loại hình nghệ thuật. Các thế hệ nhà văn dân tộc thiểu số đã đạt được những thành tựu và ghi dấu ấn độc đáo trong nền văn học nước nhà.
Xem thêm