TIN TỨC

Văn chương và những ngộ nhận đáng buồn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-07-13 21:38:47
mail facebook google pos stwis
509 lượt xem

Lê Xuân

Tôi đã đọc một số bài thơ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều từ những năm trước, nó như có tính “dự báo”, “dọn đường” cho trường ca “Lò mổ” ra đời tạo được tiếng vang. Và thi ca với sứ mệnh thiêng liêng của nó, qua trường ca “Lò Mổ” cũng sẽ vượt qua biên giới của lý trí để tới với bạn bè năm châu bốn biển.

Bìa Trường ca “Lò Mổ” của Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Ở bài viết nhỏ này tôi chỉ đưa ra những cảm nhận cá nhân sau những ồn ào tranh cãi về “Lò Mổ”, trân trọng mọi ý kiến, tuyệt nhiên không nhằm “bốc thơm” hay “châm chọc” một ai.

Theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cho biết, anh viết trường ca “Lò mổ” từ năm 2016 và đến nay sau nhiều lần chỉnh sửa vẽ tranh mới hoàn thành. Trong buổi ra mắt sách khá hoành tráng ở NXB Hội Nhà văn Việt Nam – 65 Nguyễn Du, Hà Nội, anh cho biết lý do viết trường ca “Lò mổ” là khi cùng cha ghé qua lò mổ ở ngoại ô Hà Đông: “Đó là lần đầu tiên trong đời tôi tiếp xúc với một không gian u ám, tàn khốc, nơi chứng kiến cảnh giết chóc những con vật”; rồi trong cơn ác mộng… tôi nhìn thấy những con bò xếp hàng, trò chuyện và bước tới để nhận cái chết. Tôi nghe thấy tiếng những con bò rống vang khi bị chọc tiết, tôi nhìn thấy máu chảy xối xả… tôi nhìn thấy linh hồn những con bò bay qua ô cửa sổ lò mổ …”. Như vậy là cái bi thương ấy cứ ám ảnh anh và anh cầu mong sau cái chết đó là sự nẩy mầm của sự sống.

Sau khi ra mắt sách, đã có nhiều bài viết ca ngợi và cũng có những tiếng nói “phản biện” với một tâm thế mang dấu ấn cá nhân của một cách đọc “chụp mũ” cùng với sự đố kỵ. Việc khen chê một tác phẩm là chuyện bình thường trong giới học thuật xưa nay. Song, để khen cho đúng, chê cho đúng không phải chuyện dễ. Có lẽ ta nên nhớ lời nhà hiền triết Tuân Tử (313 – 235 trước Công nguyên), người Trung Hoa, đã dạy: “Người chê ta đúng là thầy ta, người khen ta đúng là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”. Khen đúng, chê đúng giúp ta được bài học để bước tiếp. Còn khen chê không đúng thì quả là điều đáng buồn. Nó làm vàng thau lẫn lộn, đưa người ta vào “ma hồn trận” để  “ma đưa lối quỷ dẫn đường” (Nguyễn Du). Nguyên nhân của những tranh cãi nằm ở nhiều phía, chủ quan và khách quan.

Trước hết là ở cách đọc. Ở trường ca “Lò Mổ”-  một tác phẩm có sự kết hợp giữa Thơ và Họa đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng bạn đọc. Đọc lần thứ nhất chỉ là cách đọc “bì phu” (sờ vào da của tác phẩm). Ta phải đọc lần hai, còn gọi là cách đọc “cốt nhục”, đi vào phần xương thịt của tác phẩm. Rồi đọc lần 3, hoặc lần thứ “n” – cách đọc “hút tủy” tác phẩm thì mới từng bước thấy hết cái “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời) của hình tượng thơ mang lại. Cái buồn, cái đau, cái ác, cái xấu bị đẩy lên tận cùng để cái đẹp, cái tốt nảy mầm vươn ra ánh sáng, để “Sự sống lại bắt đầu từ cái chết” như nhà văn Nguyễn Khải đã nói. Tính nhân văn được đưa lên một tầm cao mới. Nó là “tảng băng chìm” đang từ từ nhô lên mặt biển sau giông tố.

“Lò Mổ” không phải là tác phẩm dễ đọc, nó như một món “hàng hiệu” kén khách. Tùy vào trình độ và tâm thế mà người đọc lĩnh hội được những gì. Lâu nay một số bạn đọc quen với với lối thơ truyền thống, có vần điệu du dương, hình ảnh lấp lánh, dễ nhớ dễ thuộc, nên khi bắt gặp một loại thơ tự do viết theo lối mới thì có cảm tưởng như khi ăn cơm ta nhai phải hạt sạn, điều đó cũng dễ hiểu. Vì thế đã có nhà thơ tự xưng “dịch thơ Việt ra thơ Việt” cho dễ nghe, dễ nhớ.

Khi tôi đọc trường ca ta này lần đầu, đọc xong tôi nhắm mắt lại như bị “ma ám”, mộng mị khi bay lên chín tầng mây, có khi như rớt xuống địa ngục cùng con bò và tay đồ tể. Nhưng khi tỉnh lại đọc lần hai, lần ba cho hình tượng thơ thấm vào hồn thì lúc đó khó dứt ra và ta thấy hân hoan chào đón chú Bê con chào đời trong ánh sáng. Phải sống, phải trải nghiệm mới hiểu hết trường ca này, và ta sẽ thấy những liên tưởng “ngoài tác phẩm” đem tới nhiều điều thú vị. Bởi nhà thơ vốn là một họa sĩ thuộc trường phái “hiện sinh” nên đã đem vào trường ca nhiều “ẩn dụ liên tưởng”. Và nếu ai ít vốn sống về các lĩnh vực hội họa, mỹ thuật, âm nhạc…thì khó thẩm thấu hết thông điệp mà nhà thơ gửi vào tác phẩm qua các hình tượng nghệ thuật đa chiều, đa nghĩa, nhiều khi rất siêu thực.

Sự kết hợp giữa Thơ và Họa trong “Lò Mổ” là một sự tìm tòi mới lạ về hình thức, nó khác với loại “truyện tranh thiếu nhi”. “Lò Mổ” chuyển tải một nội dung về thân phận con người và cuộc sống với tất cả sự ái, ố, hỉ, nộ và bi thương như cuộc đời vốn có. Vì vậy có thể một số người hôm nay cho “Lò Mổ” có nhiều hạt sạn thì biết đâu sau một thời gian được bạn đọc thẩm định, rồi “mặc định” thì bạn sẽ điều chỉnh lại cách đọc, cách cảm để thấy những mặt thành công, sự cách tân thể loại cùng những hạn chế của trường ca này. Nhưng dù sao đi nữa thì khi chúng ta đọc và cảm cũng nên “Lấy hồn ta để hiểu hồn người” như nhà Phê bình văn học Hoài Thanh đã nói. Song, thời đại đã mở của với trí tuệ nhân tạo AI, với ChatGPT thì không những thơ ca mà nhiều loại hình nghệ thuật còn đổi mới và tiến xa hơn nữa. Cái vỏ của thơ ca cũng phải nới rộng biên độ để có thể chứa đựng những nội dung mới, khái niệm mới.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Với “Lò Mổ” là sự kết hợp rất hài hòa giữa Thơ và Họa, giữa nội dung và nghệ thuật qua 18 chương của trường ca được tóm lược qua 18 bức tranh mang tên “Nguyện cầu”, phản ánh khá rõ chủ đề của từng chương, và khi xâu chuỗi lại nó là một tổng thể khá hoàn chỉnh của một câu chuyện được diễn tả bằng “thơ tự do” bằng bút pháp thơ “hậu hiện đại”, mang hơi thở “phân tâm học” của Freud, điều mà ta không dễ gì đọc lướt để hiểu hết thông điệp của tác giả. Đọc, liên tưởng, phản biện… các tầng nghĩa chìm sẽ từ từ hiện lên, và ta “đồng sáng tạo” cùng tác giả. Loại thơ này rất kén người đọc.

Vì vậy sau khi “Lò Mổ” ra mắt, đã có nhiều bài viết trên các báo, Tạp chí, facebook cá nhân của một số tác giả đã có nhiều “phản biện”, tranh cãi, tạo nên một không khí thẩm định tác phẩm đa sắc màu. Nếu tác phẩm cứ đèm đẹp nằm yên trong ao làng thì có ích chi. Chính nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã có những lời tự bạch, tâm sự với bạn đọc về sự ra đời của tác phẩm và ý định của nhà thơ về một xu hướng sáng tác đa văn bản, nhiều liên tưởng của sự kết hợp giữa Thơ và Họa.

Những ngày qua, có người hỏi tôi về các ý kiến tranh luận quanh trường ca “Lò Mổ”. Tôi thấy vui buồn lẫn lộn. Nhưng trên hết, tôi nhận ra rằng: Vẫn còn nhiều người dành sự quan tâm nghiêm túc với văn chương. Đó là điều đáng mừng. Song, trong những tranh luận đó, cũng có những ngộ nhận, đáng tiếc thay lại đến từ những người cầm bút.

Sự ngộ nhận về chính trị.

Một số người cho rằng trường ca “Lò Mổ” có hơi hướng của “cách mạng màu” hay mang tư tưởng “diễn biến hòa bình”. Theo tôi, nhận định như vậy là quá vội vã, thậm chí là áp đặt. Tôi không viết chính trị, tôi viết văn học. Và như thế hệ của tôi đã trải qua, ai trong chúng tôi cũng biết đâu là ranh giới để tự gìn giữ mình mà vẫn không đánh mất ngòi bút trung thực.

Không nên gán ghép những suy diễn chính trị vào một tác phẩm văn học phản ánh hiện thực. Văn học, suy cho cùng, là tiếng nói của con người trước cái Thiện, cái Ác, là nơi người viết đối thoại với thời đại, chứ không phải một công cụ tuyên truyền hay đả kích phiến diện. Chừng nào còn đòi hỏi văn học phải thuần phục một màu duy ý chí, chừng đó văn chương còn nghèo đi và xã hội càng thiếu đi một “tấm gương phản tư”

    Và câu chuyện đố kỵ.

Đây mới thật sự là điều khiến tôi trăn trở. Không ít người trong giới cầm bút vẫn còn mang tâm lý “văn mình, vợ người”, luôn muốn mình nổi trội hơn người khác. Hôm qua còn là bạn, hôm nay thấy người kia đoạt giải hay được độc giả mến mộ, liền sinh lòng ganh ghét, xa lánh, nói xấu, thậm chí vùi dập nhau bằng lời mỉa mai. Tôi không trách, nhưng tôi tiếc.

Bởi một người viết thật sự, thì trái tim phải rộng hơn những toan tính thiệt hơn ấy. Văn chương không nuôi được ai, nhưng nó nuôi lớn nhân cách của người cầm bút. Năm 2010, tôi đã có hai bài thơ trào phúng đăng trên website Hội Nhà văn Việt Nam: “Kẻ đố kỵ” và “Kẻ hãnh tiến”. Xin trích một đoạn trong bài “Kẻ đố kỵ” – như một tấm gương phản chiếu:

“Kẻ đố kỵ thời nay đầy rẫy/Ghen ghét người, vạch lá tìm sâu/Cho mình giỏi còn người đời dốt hết/Nhìn bạn bè bằng nửa con ngươi/Kẻ đố kỵ hay khoe khoang ầm ĩ/Luôn thổi phồng thành tích cá nhân/Và với ai cũng bới lông tìm vết/Ném đá giấu tay hại cả bạn mình/Kẻ đố kỵ hay ngồi lê mách lẻo/Buôn “dưa lê” đủ chuyện trên đời/Thấy ai hơn mình liền hằn học/Cố phịa ra điều xấu hại người/Kẻ đố kỵ lắm mưu gian kế hiểm/Khi giấu đầu, khi lại hở đuôi/Người khác khổ đau, hắn cười khoái trá/Chẳng biết mình cũng chỉ một loài tôm”*

 (*“Loài tôm cứt lộn lên đầu” – thành ngữ dân gian)

Thói đố kỵ rất dễ dẫn đến sự dối trá. Và điều ấy, sớm hay muộn, sẽ quay lại làm hại chính ta. Nhà văn Edmondo De Amicis – nhà thơ, nhà báo người Ý, từng viết: “Đừng để con rắn ghen tị luồn vào trong tim. Đó là một con rắn độc. Nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái tim bạn.”

Nhà văn, nhà viết kịch người Nga Yuri Olesha (1899–1960) có một tiểu thuyết để đời mang tên “Đố Kỵ” (Envy, 1927). Đó là một tác phẩm đậm chất thơ nhưng chua xót, thể hiện đúng bi kịch của sự ganh ghét trong xã hội hiện đại. Nhà phê bình Joseph Epstein thì nhận xét: “Trong bảy mối tội đầu của con người, chỉ có đố kỵ là không đem lại bất kỳ sự thỏa mãn hay vui thú nào.”. Chữ envy bắt nguồn từ tiếng Latin invidia – nghĩa là “mất thị giác”. Trong “Thần khúc” của Dante (1265–1321), hình phạt dành cho kẻ đố kỵ là bị khâu mí mắt bằng dây chì, như một biểu tượng cho sự mù lòa và tầm nhìn hạn hẹp của tâm hồn.

Văn chương cần sự đổi mới nhưng không thể tách rời chân thật.

Nội dung và hình thức trong văn chương là hai mặt của một đồng xu. Nhà phê bình văn học người Nga Nicolaieva từng viết: “Không có hình thức nào không chứa đựng nội dung, và không có nội dung nào tồn tại ngoài hình thức. Phá bỏ hình thức là phá bỏ nội dung, và ngược lại.”

Trường ca “Lò Mổ”, nếu có gì đáng nói, thì chính là nằm trong chuỗi 18 bức tranh mang tên “Nguyện cầu”, nơi ngôn từ đã được dồn nén đến tận cùng. Nhà văn Xsedrin từng nói một câu bất hủ: “Văn học nằm ngoài những định luật của sự băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết.”

Đã một thời có những tác phẩm từng bị cấm như Thơ Mới hay các tác phẩm của nhóm “Nhân văn giai phẩm”, rồi cuối cùng vẫn được “giải thiêng”, được nhìn nhận lại dưới ánh sáng đổi mới. Văn chương chân chính không sợ bị vùi lấp. Bởi người viết có thể chịu thiệt, nhưng cái đẹp, cái thật thì không thể chết.

Hãy để thời gian và bạn đọc làm trọng tài. Sau những ồn ào, sau những tranh cãi, xin hãy để trường ca “Lò Mổ” tự bước đi bằng giá trị văn chương của nó. Cứ để tháng năm lắng lại, ta sẽ biết đâu là quặng, đâu là ngọc, đâu là vàng, đâu là thau. Và rồi những tranh cãi cuối cùng cũng theo ta về La Mã, chỉ còn tình người, tình bạn đọng lại, như khi ta vui mừng chào đón một chú Bê con kháu khỉnh chào đời.

Tôi tin rằng trường ca “Lò Mổ” sẽ còn để lại dư ba. Và có thể, từ những tranh luận này, chúng ta sẽ khơi lại được một không khí học thuật từng im vắng quá lâu.

L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm