TIN TỨC

Văn chương và những ngộ nhận đáng buồn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-07-13 21:38:47
mail facebook google pos stwis
768 lượt xem

Lê Xuân

Tôi đã đọc một số bài thơ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều từ những năm trước, nó như có tính “dự báo”, “dọn đường” cho trường ca “Lò mổ” ra đời tạo được tiếng vang. Và thi ca với sứ mệnh thiêng liêng của nó, qua trường ca “Lò Mổ” cũng sẽ vượt qua biên giới của lý trí để tới với bạn bè năm châu bốn biển.

Bìa Trường ca “Lò Mổ” của Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Ở bài viết nhỏ này tôi chỉ đưa ra những cảm nhận cá nhân sau những ồn ào tranh cãi về “Lò Mổ”, trân trọng mọi ý kiến, tuyệt nhiên không nhằm “bốc thơm” hay “châm chọc” một ai.

Theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cho biết, anh viết trường ca “Lò mổ” từ năm 2016 và đến nay sau nhiều lần chỉnh sửa vẽ tranh mới hoàn thành. Trong buổi ra mắt sách khá hoành tráng ở NXB Hội Nhà văn Việt Nam – 65 Nguyễn Du, Hà Nội, anh cho biết lý do viết trường ca “Lò mổ” là khi cùng cha ghé qua lò mổ ở ngoại ô Hà Đông: “Đó là lần đầu tiên trong đời tôi tiếp xúc với một không gian u ám, tàn khốc, nơi chứng kiến cảnh giết chóc những con vật”; rồi trong cơn ác mộng… tôi nhìn thấy những con bò xếp hàng, trò chuyện và bước tới để nhận cái chết. Tôi nghe thấy tiếng những con bò rống vang khi bị chọc tiết, tôi nhìn thấy máu chảy xối xả… tôi nhìn thấy linh hồn những con bò bay qua ô cửa sổ lò mổ …”. Như vậy là cái bi thương ấy cứ ám ảnh anh và anh cầu mong sau cái chết đó là sự nẩy mầm của sự sống.

Sau khi ra mắt sách, đã có nhiều bài viết ca ngợi và cũng có những tiếng nói “phản biện” với một tâm thế mang dấu ấn cá nhân của một cách đọc “chụp mũ” cùng với sự đố kỵ. Việc khen chê một tác phẩm là chuyện bình thường trong giới học thuật xưa nay. Song, để khen cho đúng, chê cho đúng không phải chuyện dễ. Có lẽ ta nên nhớ lời nhà hiền triết Tuân Tử (313 – 235 trước Công nguyên), người Trung Hoa, đã dạy: “Người chê ta đúng là thầy ta, người khen ta đúng là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”. Khen đúng, chê đúng giúp ta được bài học để bước tiếp. Còn khen chê không đúng thì quả là điều đáng buồn. Nó làm vàng thau lẫn lộn, đưa người ta vào “ma hồn trận” để  “ma đưa lối quỷ dẫn đường” (Nguyễn Du). Nguyên nhân của những tranh cãi nằm ở nhiều phía, chủ quan và khách quan.

Trước hết là ở cách đọc. Ở trường ca “Lò Mổ”-  một tác phẩm có sự kết hợp giữa Thơ và Họa đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng bạn đọc. Đọc lần thứ nhất chỉ là cách đọc “bì phu” (sờ vào da của tác phẩm). Ta phải đọc lần hai, còn gọi là cách đọc “cốt nhục”, đi vào phần xương thịt của tác phẩm. Rồi đọc lần 3, hoặc lần thứ “n” – cách đọc “hút tủy” tác phẩm thì mới từng bước thấy hết cái “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời) của hình tượng thơ mang lại. Cái buồn, cái đau, cái ác, cái xấu bị đẩy lên tận cùng để cái đẹp, cái tốt nảy mầm vươn ra ánh sáng, để “Sự sống lại bắt đầu từ cái chết” như nhà văn Nguyễn Khải đã nói. Tính nhân văn được đưa lên một tầm cao mới. Nó là “tảng băng chìm” đang từ từ nhô lên mặt biển sau giông tố.

“Lò Mổ” không phải là tác phẩm dễ đọc, nó như một món “hàng hiệu” kén khách. Tùy vào trình độ và tâm thế mà người đọc lĩnh hội được những gì. Lâu nay một số bạn đọc quen với với lối thơ truyền thống, có vần điệu du dương, hình ảnh lấp lánh, dễ nhớ dễ thuộc, nên khi bắt gặp một loại thơ tự do viết theo lối mới thì có cảm tưởng như khi ăn cơm ta nhai phải hạt sạn, điều đó cũng dễ hiểu. Vì thế đã có nhà thơ tự xưng “dịch thơ Việt ra thơ Việt” cho dễ nghe, dễ nhớ.

Khi tôi đọc trường ca ta này lần đầu, đọc xong tôi nhắm mắt lại như bị “ma ám”, mộng mị khi bay lên chín tầng mây, có khi như rớt xuống địa ngục cùng con bò và tay đồ tể. Nhưng khi tỉnh lại đọc lần hai, lần ba cho hình tượng thơ thấm vào hồn thì lúc đó khó dứt ra và ta thấy hân hoan chào đón chú Bê con chào đời trong ánh sáng. Phải sống, phải trải nghiệm mới hiểu hết trường ca này, và ta sẽ thấy những liên tưởng “ngoài tác phẩm” đem tới nhiều điều thú vị. Bởi nhà thơ vốn là một họa sĩ thuộc trường phái “hiện sinh” nên đã đem vào trường ca nhiều “ẩn dụ liên tưởng”. Và nếu ai ít vốn sống về các lĩnh vực hội họa, mỹ thuật, âm nhạc…thì khó thẩm thấu hết thông điệp mà nhà thơ gửi vào tác phẩm qua các hình tượng nghệ thuật đa chiều, đa nghĩa, nhiều khi rất siêu thực.

Sự kết hợp giữa Thơ và Họa trong “Lò Mổ” là một sự tìm tòi mới lạ về hình thức, nó khác với loại “truyện tranh thiếu nhi”. “Lò Mổ” chuyển tải một nội dung về thân phận con người và cuộc sống với tất cả sự ái, ố, hỉ, nộ và bi thương như cuộc đời vốn có. Vì vậy có thể một số người hôm nay cho “Lò Mổ” có nhiều hạt sạn thì biết đâu sau một thời gian được bạn đọc thẩm định, rồi “mặc định” thì bạn sẽ điều chỉnh lại cách đọc, cách cảm để thấy những mặt thành công, sự cách tân thể loại cùng những hạn chế của trường ca này. Nhưng dù sao đi nữa thì khi chúng ta đọc và cảm cũng nên “Lấy hồn ta để hiểu hồn người” như nhà Phê bình văn học Hoài Thanh đã nói. Song, thời đại đã mở của với trí tuệ nhân tạo AI, với ChatGPT thì không những thơ ca mà nhiều loại hình nghệ thuật còn đổi mới và tiến xa hơn nữa. Cái vỏ của thơ ca cũng phải nới rộng biên độ để có thể chứa đựng những nội dung mới, khái niệm mới.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Với “Lò Mổ” là sự kết hợp rất hài hòa giữa Thơ và Họa, giữa nội dung và nghệ thuật qua 18 chương của trường ca được tóm lược qua 18 bức tranh mang tên “Nguyện cầu”, phản ánh khá rõ chủ đề của từng chương, và khi xâu chuỗi lại nó là một tổng thể khá hoàn chỉnh của một câu chuyện được diễn tả bằng “thơ tự do” bằng bút pháp thơ “hậu hiện đại”, mang hơi thở “phân tâm học” của Freud, điều mà ta không dễ gì đọc lướt để hiểu hết thông điệp của tác giả. Đọc, liên tưởng, phản biện… các tầng nghĩa chìm sẽ từ từ hiện lên, và ta “đồng sáng tạo” cùng tác giả. Loại thơ này rất kén người đọc.

Vì vậy sau khi “Lò Mổ” ra mắt, đã có nhiều bài viết trên các báo, Tạp chí, facebook cá nhân của một số tác giả đã có nhiều “phản biện”, tranh cãi, tạo nên một không khí thẩm định tác phẩm đa sắc màu. Nếu tác phẩm cứ đèm đẹp nằm yên trong ao làng thì có ích chi. Chính nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã có những lời tự bạch, tâm sự với bạn đọc về sự ra đời của tác phẩm và ý định của nhà thơ về một xu hướng sáng tác đa văn bản, nhiều liên tưởng của sự kết hợp giữa Thơ và Họa.

Những ngày qua, có người hỏi tôi về các ý kiến tranh luận quanh trường ca “Lò Mổ”. Tôi thấy vui buồn lẫn lộn. Nhưng trên hết, tôi nhận ra rằng: Vẫn còn nhiều người dành sự quan tâm nghiêm túc với văn chương. Đó là điều đáng mừng. Song, trong những tranh luận đó, cũng có những ngộ nhận, đáng tiếc thay lại đến từ những người cầm bút.

Sự ngộ nhận về chính trị.

Một số người cho rằng trường ca “Lò Mổ” có hơi hướng của “cách mạng màu” hay mang tư tưởng “diễn biến hòa bình”. Theo tôi, nhận định như vậy là quá vội vã, thậm chí là áp đặt. Tôi không viết chính trị, tôi viết văn học. Và như thế hệ của tôi đã trải qua, ai trong chúng tôi cũng biết đâu là ranh giới để tự gìn giữ mình mà vẫn không đánh mất ngòi bút trung thực.

Không nên gán ghép những suy diễn chính trị vào một tác phẩm văn học phản ánh hiện thực. Văn học, suy cho cùng, là tiếng nói của con người trước cái Thiện, cái Ác, là nơi người viết đối thoại với thời đại, chứ không phải một công cụ tuyên truyền hay đả kích phiến diện. Chừng nào còn đòi hỏi văn học phải thuần phục một màu duy ý chí, chừng đó văn chương còn nghèo đi và xã hội càng thiếu đi một “tấm gương phản tư”

    Và câu chuyện đố kỵ.

Đây mới thật sự là điều khiến tôi trăn trở. Không ít người trong giới cầm bút vẫn còn mang tâm lý “văn mình, vợ người”, luôn muốn mình nổi trội hơn người khác. Hôm qua còn là bạn, hôm nay thấy người kia đoạt giải hay được độc giả mến mộ, liền sinh lòng ganh ghét, xa lánh, nói xấu, thậm chí vùi dập nhau bằng lời mỉa mai. Tôi không trách, nhưng tôi tiếc.

Bởi một người viết thật sự, thì trái tim phải rộng hơn những toan tính thiệt hơn ấy. Văn chương không nuôi được ai, nhưng nó nuôi lớn nhân cách của người cầm bút. Năm 2010, tôi đã có hai bài thơ trào phúng đăng trên website Hội Nhà văn Việt Nam: “Kẻ đố kỵ” và “Kẻ hãnh tiến”. Xin trích một đoạn trong bài “Kẻ đố kỵ” – như một tấm gương phản chiếu:

“Kẻ đố kỵ thời nay đầy rẫy/Ghen ghét người, vạch lá tìm sâu/Cho mình giỏi còn người đời dốt hết/Nhìn bạn bè bằng nửa con ngươi/Kẻ đố kỵ hay khoe khoang ầm ĩ/Luôn thổi phồng thành tích cá nhân/Và với ai cũng bới lông tìm vết/Ném đá giấu tay hại cả bạn mình/Kẻ đố kỵ hay ngồi lê mách lẻo/Buôn “dưa lê” đủ chuyện trên đời/Thấy ai hơn mình liền hằn học/Cố phịa ra điều xấu hại người/Kẻ đố kỵ lắm mưu gian kế hiểm/Khi giấu đầu, khi lại hở đuôi/Người khác khổ đau, hắn cười khoái trá/Chẳng biết mình cũng chỉ một loài tôm”*

 (*“Loài tôm cứt lộn lên đầu” – thành ngữ dân gian)

Thói đố kỵ rất dễ dẫn đến sự dối trá. Và điều ấy, sớm hay muộn, sẽ quay lại làm hại chính ta. Nhà văn Edmondo De Amicis – nhà thơ, nhà báo người Ý, từng viết: “Đừng để con rắn ghen tị luồn vào trong tim. Đó là một con rắn độc. Nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái tim bạn.”

Nhà văn, nhà viết kịch người Nga Yuri Olesha (1899–1960) có một tiểu thuyết để đời mang tên “Đố Kỵ” (Envy, 1927). Đó là một tác phẩm đậm chất thơ nhưng chua xót, thể hiện đúng bi kịch của sự ganh ghét trong xã hội hiện đại. Nhà phê bình Joseph Epstein thì nhận xét: “Trong bảy mối tội đầu của con người, chỉ có đố kỵ là không đem lại bất kỳ sự thỏa mãn hay vui thú nào.”. Chữ envy bắt nguồn từ tiếng Latin invidia – nghĩa là “mất thị giác”. Trong “Thần khúc” của Dante (1265–1321), hình phạt dành cho kẻ đố kỵ là bị khâu mí mắt bằng dây chì, như một biểu tượng cho sự mù lòa và tầm nhìn hạn hẹp của tâm hồn.

Văn chương cần sự đổi mới nhưng không thể tách rời chân thật.

Nội dung và hình thức trong văn chương là hai mặt của một đồng xu. Nhà phê bình văn học người Nga Nicolaieva từng viết: “Không có hình thức nào không chứa đựng nội dung, và không có nội dung nào tồn tại ngoài hình thức. Phá bỏ hình thức là phá bỏ nội dung, và ngược lại.”

Trường ca “Lò Mổ”, nếu có gì đáng nói, thì chính là nằm trong chuỗi 18 bức tranh mang tên “Nguyện cầu”, nơi ngôn từ đã được dồn nén đến tận cùng. Nhà văn Xsedrin từng nói một câu bất hủ: “Văn học nằm ngoài những định luật của sự băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết.”

Đã một thời có những tác phẩm từng bị cấm như Thơ Mới hay các tác phẩm của nhóm “Nhân văn giai phẩm”, rồi cuối cùng vẫn được “giải thiêng”, được nhìn nhận lại dưới ánh sáng đổi mới. Văn chương chân chính không sợ bị vùi lấp. Bởi người viết có thể chịu thiệt, nhưng cái đẹp, cái thật thì không thể chết.

Hãy để thời gian và bạn đọc làm trọng tài. Sau những ồn ào, sau những tranh cãi, xin hãy để trường ca “Lò Mổ” tự bước đi bằng giá trị văn chương của nó. Cứ để tháng năm lắng lại, ta sẽ biết đâu là quặng, đâu là ngọc, đâu là vàng, đâu là thau. Và rồi những tranh cãi cuối cùng cũng theo ta về La Mã, chỉ còn tình người, tình bạn đọng lại, như khi ta vui mừng chào đón một chú Bê con kháu khỉnh chào đời.

Tôi tin rằng trường ca “Lò Mổ” sẽ còn để lại dư ba. Và có thể, từ những tranh luận này, chúng ta sẽ khơi lại được một không khí học thuật từng im vắng quá lâu.

L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm