TIN TỨC

Văn chương và những ngộ nhận đáng buồn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-07-13 21:38:47
mail facebook google pos stwis
595 lượt xem

Lê Xuân

Tôi đã đọc một số bài thơ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều từ những năm trước, nó như có tính “dự báo”, “dọn đường” cho trường ca “Lò mổ” ra đời tạo được tiếng vang. Và thi ca với sứ mệnh thiêng liêng của nó, qua trường ca “Lò Mổ” cũng sẽ vượt qua biên giới của lý trí để tới với bạn bè năm châu bốn biển.

Bìa Trường ca “Lò Mổ” của Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Ở bài viết nhỏ này tôi chỉ đưa ra những cảm nhận cá nhân sau những ồn ào tranh cãi về “Lò Mổ”, trân trọng mọi ý kiến, tuyệt nhiên không nhằm “bốc thơm” hay “châm chọc” một ai.

Theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cho biết, anh viết trường ca “Lò mổ” từ năm 2016 và đến nay sau nhiều lần chỉnh sửa vẽ tranh mới hoàn thành. Trong buổi ra mắt sách khá hoành tráng ở NXB Hội Nhà văn Việt Nam – 65 Nguyễn Du, Hà Nội, anh cho biết lý do viết trường ca “Lò mổ” là khi cùng cha ghé qua lò mổ ở ngoại ô Hà Đông: “Đó là lần đầu tiên trong đời tôi tiếp xúc với một không gian u ám, tàn khốc, nơi chứng kiến cảnh giết chóc những con vật”; rồi trong cơn ác mộng… tôi nhìn thấy những con bò xếp hàng, trò chuyện và bước tới để nhận cái chết. Tôi nghe thấy tiếng những con bò rống vang khi bị chọc tiết, tôi nhìn thấy máu chảy xối xả… tôi nhìn thấy linh hồn những con bò bay qua ô cửa sổ lò mổ …”. Như vậy là cái bi thương ấy cứ ám ảnh anh và anh cầu mong sau cái chết đó là sự nẩy mầm của sự sống.

Sau khi ra mắt sách, đã có nhiều bài viết ca ngợi và cũng có những tiếng nói “phản biện” với một tâm thế mang dấu ấn cá nhân của một cách đọc “chụp mũ” cùng với sự đố kỵ. Việc khen chê một tác phẩm là chuyện bình thường trong giới học thuật xưa nay. Song, để khen cho đúng, chê cho đúng không phải chuyện dễ. Có lẽ ta nên nhớ lời nhà hiền triết Tuân Tử (313 – 235 trước Công nguyên), người Trung Hoa, đã dạy: “Người chê ta đúng là thầy ta, người khen ta đúng là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”. Khen đúng, chê đúng giúp ta được bài học để bước tiếp. Còn khen chê không đúng thì quả là điều đáng buồn. Nó làm vàng thau lẫn lộn, đưa người ta vào “ma hồn trận” để  “ma đưa lối quỷ dẫn đường” (Nguyễn Du). Nguyên nhân của những tranh cãi nằm ở nhiều phía, chủ quan và khách quan.

Trước hết là ở cách đọc. Ở trường ca “Lò Mổ”-  một tác phẩm có sự kết hợp giữa Thơ và Họa đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng bạn đọc. Đọc lần thứ nhất chỉ là cách đọc “bì phu” (sờ vào da của tác phẩm). Ta phải đọc lần hai, còn gọi là cách đọc “cốt nhục”, đi vào phần xương thịt của tác phẩm. Rồi đọc lần 3, hoặc lần thứ “n” – cách đọc “hút tủy” tác phẩm thì mới từng bước thấy hết cái “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời) của hình tượng thơ mang lại. Cái buồn, cái đau, cái ác, cái xấu bị đẩy lên tận cùng để cái đẹp, cái tốt nảy mầm vươn ra ánh sáng, để “Sự sống lại bắt đầu từ cái chết” như nhà văn Nguyễn Khải đã nói. Tính nhân văn được đưa lên một tầm cao mới. Nó là “tảng băng chìm” đang từ từ nhô lên mặt biển sau giông tố.

“Lò Mổ” không phải là tác phẩm dễ đọc, nó như một món “hàng hiệu” kén khách. Tùy vào trình độ và tâm thế mà người đọc lĩnh hội được những gì. Lâu nay một số bạn đọc quen với với lối thơ truyền thống, có vần điệu du dương, hình ảnh lấp lánh, dễ nhớ dễ thuộc, nên khi bắt gặp một loại thơ tự do viết theo lối mới thì có cảm tưởng như khi ăn cơm ta nhai phải hạt sạn, điều đó cũng dễ hiểu. Vì thế đã có nhà thơ tự xưng “dịch thơ Việt ra thơ Việt” cho dễ nghe, dễ nhớ.

Khi tôi đọc trường ca ta này lần đầu, đọc xong tôi nhắm mắt lại như bị “ma ám”, mộng mị khi bay lên chín tầng mây, có khi như rớt xuống địa ngục cùng con bò và tay đồ tể. Nhưng khi tỉnh lại đọc lần hai, lần ba cho hình tượng thơ thấm vào hồn thì lúc đó khó dứt ra và ta thấy hân hoan chào đón chú Bê con chào đời trong ánh sáng. Phải sống, phải trải nghiệm mới hiểu hết trường ca này, và ta sẽ thấy những liên tưởng “ngoài tác phẩm” đem tới nhiều điều thú vị. Bởi nhà thơ vốn là một họa sĩ thuộc trường phái “hiện sinh” nên đã đem vào trường ca nhiều “ẩn dụ liên tưởng”. Và nếu ai ít vốn sống về các lĩnh vực hội họa, mỹ thuật, âm nhạc…thì khó thẩm thấu hết thông điệp mà nhà thơ gửi vào tác phẩm qua các hình tượng nghệ thuật đa chiều, đa nghĩa, nhiều khi rất siêu thực.

Sự kết hợp giữa Thơ và Họa trong “Lò Mổ” là một sự tìm tòi mới lạ về hình thức, nó khác với loại “truyện tranh thiếu nhi”. “Lò Mổ” chuyển tải một nội dung về thân phận con người và cuộc sống với tất cả sự ái, ố, hỉ, nộ và bi thương như cuộc đời vốn có. Vì vậy có thể một số người hôm nay cho “Lò Mổ” có nhiều hạt sạn thì biết đâu sau một thời gian được bạn đọc thẩm định, rồi “mặc định” thì bạn sẽ điều chỉnh lại cách đọc, cách cảm để thấy những mặt thành công, sự cách tân thể loại cùng những hạn chế của trường ca này. Nhưng dù sao đi nữa thì khi chúng ta đọc và cảm cũng nên “Lấy hồn ta để hiểu hồn người” như nhà Phê bình văn học Hoài Thanh đã nói. Song, thời đại đã mở của với trí tuệ nhân tạo AI, với ChatGPT thì không những thơ ca mà nhiều loại hình nghệ thuật còn đổi mới và tiến xa hơn nữa. Cái vỏ của thơ ca cũng phải nới rộng biên độ để có thể chứa đựng những nội dung mới, khái niệm mới.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Với “Lò Mổ” là sự kết hợp rất hài hòa giữa Thơ và Họa, giữa nội dung và nghệ thuật qua 18 chương của trường ca được tóm lược qua 18 bức tranh mang tên “Nguyện cầu”, phản ánh khá rõ chủ đề của từng chương, và khi xâu chuỗi lại nó là một tổng thể khá hoàn chỉnh của một câu chuyện được diễn tả bằng “thơ tự do” bằng bút pháp thơ “hậu hiện đại”, mang hơi thở “phân tâm học” của Freud, điều mà ta không dễ gì đọc lướt để hiểu hết thông điệp của tác giả. Đọc, liên tưởng, phản biện… các tầng nghĩa chìm sẽ từ từ hiện lên, và ta “đồng sáng tạo” cùng tác giả. Loại thơ này rất kén người đọc.

Vì vậy sau khi “Lò Mổ” ra mắt, đã có nhiều bài viết trên các báo, Tạp chí, facebook cá nhân của một số tác giả đã có nhiều “phản biện”, tranh cãi, tạo nên một không khí thẩm định tác phẩm đa sắc màu. Nếu tác phẩm cứ đèm đẹp nằm yên trong ao làng thì có ích chi. Chính nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã có những lời tự bạch, tâm sự với bạn đọc về sự ra đời của tác phẩm và ý định của nhà thơ về một xu hướng sáng tác đa văn bản, nhiều liên tưởng của sự kết hợp giữa Thơ và Họa.

Những ngày qua, có người hỏi tôi về các ý kiến tranh luận quanh trường ca “Lò Mổ”. Tôi thấy vui buồn lẫn lộn. Nhưng trên hết, tôi nhận ra rằng: Vẫn còn nhiều người dành sự quan tâm nghiêm túc với văn chương. Đó là điều đáng mừng. Song, trong những tranh luận đó, cũng có những ngộ nhận, đáng tiếc thay lại đến từ những người cầm bút.

Sự ngộ nhận về chính trị.

Một số người cho rằng trường ca “Lò Mổ” có hơi hướng của “cách mạng màu” hay mang tư tưởng “diễn biến hòa bình”. Theo tôi, nhận định như vậy là quá vội vã, thậm chí là áp đặt. Tôi không viết chính trị, tôi viết văn học. Và như thế hệ của tôi đã trải qua, ai trong chúng tôi cũng biết đâu là ranh giới để tự gìn giữ mình mà vẫn không đánh mất ngòi bút trung thực.

Không nên gán ghép những suy diễn chính trị vào một tác phẩm văn học phản ánh hiện thực. Văn học, suy cho cùng, là tiếng nói của con người trước cái Thiện, cái Ác, là nơi người viết đối thoại với thời đại, chứ không phải một công cụ tuyên truyền hay đả kích phiến diện. Chừng nào còn đòi hỏi văn học phải thuần phục một màu duy ý chí, chừng đó văn chương còn nghèo đi và xã hội càng thiếu đi một “tấm gương phản tư”

    Và câu chuyện đố kỵ.

Đây mới thật sự là điều khiến tôi trăn trở. Không ít người trong giới cầm bút vẫn còn mang tâm lý “văn mình, vợ người”, luôn muốn mình nổi trội hơn người khác. Hôm qua còn là bạn, hôm nay thấy người kia đoạt giải hay được độc giả mến mộ, liền sinh lòng ganh ghét, xa lánh, nói xấu, thậm chí vùi dập nhau bằng lời mỉa mai. Tôi không trách, nhưng tôi tiếc.

Bởi một người viết thật sự, thì trái tim phải rộng hơn những toan tính thiệt hơn ấy. Văn chương không nuôi được ai, nhưng nó nuôi lớn nhân cách của người cầm bút. Năm 2010, tôi đã có hai bài thơ trào phúng đăng trên website Hội Nhà văn Việt Nam: “Kẻ đố kỵ” và “Kẻ hãnh tiến”. Xin trích một đoạn trong bài “Kẻ đố kỵ” – như một tấm gương phản chiếu:

“Kẻ đố kỵ thời nay đầy rẫy/Ghen ghét người, vạch lá tìm sâu/Cho mình giỏi còn người đời dốt hết/Nhìn bạn bè bằng nửa con ngươi/Kẻ đố kỵ hay khoe khoang ầm ĩ/Luôn thổi phồng thành tích cá nhân/Và với ai cũng bới lông tìm vết/Ném đá giấu tay hại cả bạn mình/Kẻ đố kỵ hay ngồi lê mách lẻo/Buôn “dưa lê” đủ chuyện trên đời/Thấy ai hơn mình liền hằn học/Cố phịa ra điều xấu hại người/Kẻ đố kỵ lắm mưu gian kế hiểm/Khi giấu đầu, khi lại hở đuôi/Người khác khổ đau, hắn cười khoái trá/Chẳng biết mình cũng chỉ một loài tôm”*

 (*“Loài tôm cứt lộn lên đầu” – thành ngữ dân gian)

Thói đố kỵ rất dễ dẫn đến sự dối trá. Và điều ấy, sớm hay muộn, sẽ quay lại làm hại chính ta. Nhà văn Edmondo De Amicis – nhà thơ, nhà báo người Ý, từng viết: “Đừng để con rắn ghen tị luồn vào trong tim. Đó là một con rắn độc. Nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái tim bạn.”

Nhà văn, nhà viết kịch người Nga Yuri Olesha (1899–1960) có một tiểu thuyết để đời mang tên “Đố Kỵ” (Envy, 1927). Đó là một tác phẩm đậm chất thơ nhưng chua xót, thể hiện đúng bi kịch của sự ganh ghét trong xã hội hiện đại. Nhà phê bình Joseph Epstein thì nhận xét: “Trong bảy mối tội đầu của con người, chỉ có đố kỵ là không đem lại bất kỳ sự thỏa mãn hay vui thú nào.”. Chữ envy bắt nguồn từ tiếng Latin invidia – nghĩa là “mất thị giác”. Trong “Thần khúc” của Dante (1265–1321), hình phạt dành cho kẻ đố kỵ là bị khâu mí mắt bằng dây chì, như một biểu tượng cho sự mù lòa và tầm nhìn hạn hẹp của tâm hồn.

Văn chương cần sự đổi mới nhưng không thể tách rời chân thật.

Nội dung và hình thức trong văn chương là hai mặt của một đồng xu. Nhà phê bình văn học người Nga Nicolaieva từng viết: “Không có hình thức nào không chứa đựng nội dung, và không có nội dung nào tồn tại ngoài hình thức. Phá bỏ hình thức là phá bỏ nội dung, và ngược lại.”

Trường ca “Lò Mổ”, nếu có gì đáng nói, thì chính là nằm trong chuỗi 18 bức tranh mang tên “Nguyện cầu”, nơi ngôn từ đã được dồn nén đến tận cùng. Nhà văn Xsedrin từng nói một câu bất hủ: “Văn học nằm ngoài những định luật của sự băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết.”

Đã một thời có những tác phẩm từng bị cấm như Thơ Mới hay các tác phẩm của nhóm “Nhân văn giai phẩm”, rồi cuối cùng vẫn được “giải thiêng”, được nhìn nhận lại dưới ánh sáng đổi mới. Văn chương chân chính không sợ bị vùi lấp. Bởi người viết có thể chịu thiệt, nhưng cái đẹp, cái thật thì không thể chết.

Hãy để thời gian và bạn đọc làm trọng tài. Sau những ồn ào, sau những tranh cãi, xin hãy để trường ca “Lò Mổ” tự bước đi bằng giá trị văn chương của nó. Cứ để tháng năm lắng lại, ta sẽ biết đâu là quặng, đâu là ngọc, đâu là vàng, đâu là thau. Và rồi những tranh cãi cuối cùng cũng theo ta về La Mã, chỉ còn tình người, tình bạn đọng lại, như khi ta vui mừng chào đón một chú Bê con kháu khỉnh chào đời.

Tôi tin rằng trường ca “Lò Mổ” sẽ còn để lại dư ba. Và có thể, từ những tranh luận này, chúng ta sẽ khơi lại được một không khí học thuật từng im vắng quá lâu.

L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm