TIN TỨC

Vì yêu mến chữ yêu người yêu văn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-16 18:05:35
mail facebook google pos stwis
2219 lượt xem

Bút kí của LA GIANG (Nguyễn Minh Đức)

Nghề viết báo, viết văn, làm thơ suy cho cùng là nghề rất vất vả, khổ ải. Nhưng đổi lại, thật đỗi hạnh phúc và vinh quang, nhất là những khi “đứa con tinh thần” của mình “thai nghén, mang nặng đẻ đau” được chào đời một cách trọn vẹn, được đón nhận và sống lâu trong lòng bạn đọc, được bạn đọc mãi nhớ đến. Bởi vậy, thiết nghĩ khi ta yêu mến chữ không thể không yêu người yêu văn. Nhân kỉ niệm 100 năm Báo chí cách mạng Việt Nam, xin được bày tỏ đôi điều tri ân.

Đoạn trường yêu mến chữ

Tôi tập tọe viết báo khi đang học năm thứ hai của Trường Sĩ quan chính trị - Quân sự Bắc Ninh (nay là Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng). Hồi ấy, do đam mê đọc và nghe, chưa khi nào tôi có thể được đọc và nghe nhiều như thời kì ngồi trên ghế nhà trường. Nguồn đọc chủ yếu trên Báo Quân đội nhân dân (thời ấy 4 trang), Báo Nhân dân và một số loại báo khác, nhưng muốn đọc nhiều thì phải đến thư viện.

Ngay giữa năm học thứ nhất, tôi đã được “thẻ đặc cách” thư viện, đó là chính sách ưu tiên bạn đọc của Nhà trường. Thời ấy chưa có tivi, nguồn nghe chủ yếu qua radio trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, nhưng chỉ được nghe chương trình thời sự vào khung giờ nhất định và chương trình Phát thanh quân đội hằng tối vào lúc từ 21h đến 21h30. Các tối thứ 7, chủ nhật có chương trình văn nghệ tổng hợp. Tôi thích nhất chương trình vào khung giờ đó. Lịch thời gian của học viên sĩ quan như guồng máy, kín mít, giờ nào việc đó. Việc đọc và nghe là tranh thủ từng phút từng giờ, hễ rảnh rỗi lúc nào đọc lúc đó.

 Điều thú vị hơn là, ngay giữa năm học thứ nhất, tôi đặt bút tập viết bài báo nhỏ gọi là “hộp diêm”. Ban đầu tôi khá viết dài, câu văn loằng ngoằng như dây rau muống. Viết xong, nhờ anh Quý, Phó đại đội trưởng chính trị của tôi đọc, góp ý. Cũng phải mất vài ba lần, đến lúc anh có vẻ hơi cáu (vì anh công việc nhiều), nên tôi nản. Vài tuần sau, khi đọc được tác phẩm ưng ý ở báo, tôi lấy bút đếm số chữ, nghiên cứu cách viết của họ. Cách đặt “tít” thế nào? Mở đầu từ đâu? Vì sao mở đầu như thế? Dạng bài ấy là phản ảnh hay tin tức? Lấy nguồn tin ở đâu? Làm cách nào để có nguồn tin đáng tin cậy ấy...? Thế nào là dạng tin, bài phản ánh, bài phóng sự, phóng sự điều tra, thế nào là thể kí, kí chân dung, bút kí, hồi kí, kí văn học thì khác kí báo chí chỗ nào? Cách sáng tác một bài báo hoàn chỉnh theo từng thể loại. Hàng loạt câu hỏi cứ thế vang lên trong đầu. Sau vài ngày, tôi tìm đọc được nguồn tài liệu về viết báo của nhà báo Hữu Thọ, ông làm việc ở Báo Nhân dân và một số tài liệu liên quan khác. Tôi đọc kĩ, đánh dấu từng phần rồi viết thử.

Mỗi tối, sau điểm quân số, điểm danh xong, tranh thủ trước giờ buông màn mấy chục phút, tôi lọ mọ ra cột đèn (vì trong phòng đã tắt đèn) viết ra tờ giấy rồi viết lại vài lần. Khi viết được rồi, đợi ngày giao ban, tranh thủ lúc anh Quý vui vẻ, chuẩn bị chơi thể thao thì tôi ào đến dúi bài đưa anh và khoe: “Em viết được rồi. Anh đọc lại giúp ạ!”. Anh cầm lướt nhanh, chẳng nói gì. Bài chỉ 300 chữ thôi, đọc nhanh lắm. Buổi tối, anh cho gọi lên và góp ý chỉnh sửa 4 chữ. Anh nói em chịu khó rèn như vậy là tốt đấy. Mai này tốt nghiệp có thể tiếp tục học làm nhà báo được. Tôi sướng rơn trong lòng. Chiều chủ nhật được anh ra ngoài doanh trại, tôi đến bưu điện dùng hai con tem “tiêu chuẩn” gửi về Báo Quân đội nhân dân theo địa chỉ số 7, Phan Đình Phùng, Hà Nội.

Hơn tuần sau, đang lúc buổi học chiến thuật. Giờ giải lao, trực ban gọi toáng lên: “Bài của mày được đăng đây này! Thằng này giỏi quá hè!?”. Cả bọn xúm lại đòi khao. Vậy là hai bao thuốc lá Sông Cầu với ấm chè Thái Nguyên (lính lác với nhau gọi là “ấm chè” và “bao thóc”) coi như xong bài báo. Bài “hộp diêm” ấy đóng khung cẩn thận, ở góc nhỏ tờ báo nhưng trang trọng, tôi sướng cả tuần. Bài báo có tựa “Góc khuất ông Sáng”, viết về góc khuất ở ngã tư đường, nhà ông Sáng ở ngay đó. Ngày trước, nhà ông trồng hàng dâm bụt bao quanh. Chẳng hiểu thế nào ông mua gạch xây kín. Không xây chườm ra đường nhưng ngã tư ấy là một góc khuất “nguy hiểm”. Nhà ông thì đẹp mà ngã tư thì nhiều xe và người gặp nạn. Góp ý nhẹ nhàng và có chuyển biến sau một thời gian, bờ tường khuất lấp ngã tư ông Sáng đập và thay chấn song. Theo nhận xét của anh Quế, trưởng phòng bạn đọc Báo Quân đội nhân dân sau này, nói: “Cái “tit” của cậu khá ấn tượng. Cố gắng nhé”. Tôi biết, Trường Sĩ quan chính trị đã đào tạo nhiều cán bộ sĩ quan sau này tốt nghiệp ra làm báo. Ở đó cũng có những khối, lớp đào tạo báo chí chuyên nghiệp. Nhưng thời kì ấy tôi đang học sĩ quan, viết báo chẳng qua chỉ là “học mót, học lỏm” của các anh chị chứ có bài bản trường lớp gì đâu. Rất vui là có nhiều bài báo, bài thơ được sử dụng.

Khi ra trường làm cán bộ quản lí, tôi tranh thủ học thêm, rồi được đi bồi dưỡng lớp báo chí của Tổng cục Chính trị. Từ đó, tôi viết nhiều thể loại, cả viết báo, viết văn, làm thơ. Thực tiễn những năm quản lí ở đơn vị cơ sở tuy vất vả nhưng thật lí thú, sống gần anh em, được đi nhiều nơi, học tập và tìm hiểu, có nhiều tư liệu để viết. Tôi nhớ mãi bài kí: “Lại Yên như thế bao giờ mới yên?”, là bài viết về làng nghề của xã Lại Yên, thuộc Hoài Đức (Hà Tây cũ). Cũng là cách góp ý nhẹ nhàng về làng nghề nhưng sản xuất gây ô nhiễm. Người dân bức xúc cãi nhau, xung đột ý thức đến lợi ích, đời sống tinh thần căng thẳng. Bài báo ấy ra sau thời gian thì Hà Tây nhập về Hà Nội. Một cuộc chấn chỉnh về nhận thức, tư tưởng, hành động sau đó, xã Lại Yên đã yên trở lại, Thủ đô thêm góc văn minh.

Cũng là viết về làng nghề truyền thống, tôi về làng lụa Hà Đông viết bài “Nghìn năm vẫn tiếng thoi đưa”, khẳng định giá trị văn hoá truyền thống của một làng nghề lâu đời. Từ khi cụ Lã Thị Nga (vợ ông Cao Biền, thời Đường) từ Hàng Châu theo chồng sang thu phục quân Nam Chiếu, xây thành Đại La. Bà đến làng Vạn Phúc thấy dân tình khổ ải, bà truyền nghề trồng dâu nuôi tằm ươm tơ dệt lụa cho người dân, lập nên làng lụa. Mãi đến nay (năm 2010) kỉ niệm nghìn năm Thăng Long Hà Nội, nghề tầm tang hơn nghìn năm bên dòng Nhuệ giang thoi chẳng ngừng đưa, mang đến sản vật đặc sắc làm đẹp cho đời. Cũng chính mảnh đất này, Bác Hồ viết “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” tháng 12/1946. Những bài thơ, bài báo, truyện của tôi viết về mảnh đất và con người nơi đây được bạn đọc yêu mến.

Tôi viết khá nhiều tin, bài cộng tác với các báo Trung ương và địa phương, nhất là Báo Quân đội, Báo Nhân dân, Chương trình Phát thanh quân đội, Tạp chí Văn nghệ quân đội, Báo Văn nghệ, Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Báo Đồng Nai… về các lĩnh vực văn học, văn hoá, giá trị văn hoá truyền thống cần tiếp tục phát huy, lưu truyền. Mỗi bài tôi gắng rèn giũa chắt chiu, tiết chữ, nén thông tin đến độ tối đa nhất có thể, triệt tiêu những chữ thừa, không cần thiết cho cấu trúc câu, giúp người đọc dễ hiểu, phát thanh dễ nghe.

Sau này, khi chính thức trở thành nhà báo, tôi được phân công đảm nhiệm công tác biên tập, rồi làm Phó Trưởng ban Tạp chí Khoa học và chiến thuật, một tạp chí chuyên ngành của Trường Sĩ quan Lục quân 2 (Đại học Nguyễn Huệ), tôi càng nỗ lực rèn giũa mình nhiều hơn, trau chuốt từng con chữ, làm “bà đỡ” cho nhiều tác phẩm của cộng tác viên có được “sản phẩm” ưng ý. Gần 15 năm làm việc ở cơ quan quản lí báo chí, tôi ý thức rõ trách nhiệm biên tập báo, giúp cộng tác viên trưởng thành qua từng tác phẩm được sử dụng, đăng tải.

Công việc ở cơ quan quản lí báo chí, dù là cấp cơ sở nhưng khá căng thẳng vì áp lực chuyên môn, tiến độ và nhiều mặt khác. Tuy vậy, tôi vẫn thường xuyên viết, cộng tác với các báo, trong đó có Tạp chí Văn nghệ Đồng Nai, nơi tôi hiện đang là biên tập viên mảng văn xuôi. May mắn viết bài và được các nhà văn, nhà thơ, nhà quản lí văn hoá kì cựu yêu mến để mắt tới, giới thiệu, được Ban Chấp hành Hội đồng ý, trở thành hội viên hơn chục năm qua và là cộng tác viên của Tạp chí.

Yêu người yêu văn

Tôi yêu mến tất cả mọi người, trước hết là bạn bè đồng nghiệp viết. Ngay cả khi chưa yêu người, chưa được gặp tác giả lần nào nhưng được đọc tác phẩm của họ, tôi yêu văn họ trước rồi tìm hiểu và yêu mến con người họ sau. Mỗi khi đọc được tác phẩm tốt nào đó của họ, dù dưới bất kì sản phẩm nào, là bài báo, văn xuôi như truyện, bút kí, hồi kí, tản văn, những bài thơ hay, bình thơ, bình luận văn nghệ, nghe ca từ kết hợp âm nhạc… tôi cho rằng đó là những người có thực tài. Đọc họ, bản thân mình được học hỏi và lớn lên khá nhiều thứ, nhất là ngôn ngữ, giọng điệu, kĩ thuật…

Phải thật sự họ có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực đó, có nền tảng, phông văn hoá đủ rộng bao quát và chiều sâu lĩnh vực đó, có trái tim nhân văn và ý thức rõ tác dụng, giá trị về lĩnh vực đó, họ viết bằng cả trái tim mình, kiểm soát bài viết bằng tất cả lí trí theo những quy chuẩn chung kiến thức mà xã hội nghề nghiệp và bạn đọc yêu mến cần, tác phẩm họ viết ra được bạn đọc đón nhận, trở thành người bạn của bạn đọc, sống lâu trong đời sống lĩnh vực đó và lan toả trong xã hội. Đó là tác phẩm có giá trị và thành công. Điều này thì nhận định của nhà quý tộc người Pháp La Rochefoucault từ thế kỉ XVI đã đúng. Ông cho rằng: “Một quyển sách tốt là một người bạn hiền”. Hay nói cách khác, đọc một cuốn sách hay, bài viết tốt cũng như cách ta ngồi hầu chuyện với người tri kỉ vậy!

Theo tôi hiểu thì các báo, tạp chí trung ương đến địa phương, công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện theo tiêu chí, tôn chỉ mục đích là những vấn đề rất quan trọng. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của hội đồng biên tập, ban biên tập, những người chịu trách nhiệm chính, có tiếng nói quyết định cho một tờ báo, tạp chí ra đời đúng định hướng, đạt mục đích tuyên truyền, là cơ quan ngôn luận, tiếng nói của tổ chức Đảng hoặc từng ngành nghề riêng. Đồng thời, đội ngũ làm công chuyện “bếp núc” của toà soạn và trị sự, nhất là đội ngũ biên tập viên có vai trò không nhỏ. Tôi luôn quan niệm đội ngũ biên tập như những “người lính gác cổng” để báo, tạp chí luôn đúng định hướng, tôn chỉ mục đích, hay hơn, hấp dẫn hơn, thu hút bạn đọc ngày càng nhiều và tránh sai sót đáng tiếc. Đội ngũ biên tập viên chính là “bà đỡ”, là “thiên sứ tình yêu” cho những “đứa con” tinh thần, những tác phẩm có chất lượng ra đời. Do vậy, đội ngũ biên tập phải có thái độ làm việc nghiêm túc, bám sát tiêu chí, chọn lọc kỹ lưỡng, thẩm định khách quan, biên tập cẩn trọng, giữ được tiếng nói riêng của tác giả nhưng không để lệch chuẩn về tư tưởng và nghệ thuật.

Tuy vậy, nhân tố quyết định chất lượng tờ báo, tạp chí theo tôi chính là chất lượng sáng tạo tác phẩm, sáng tác của đội ngũ phóng viên, cộng tác viên của tờ báo, tạp chí ấy. Chuẩn mực thẩm mĩ tác phẩm bao gồm nội dung, hình thức và quan điểm sáng tác. Nội dung phải đảm bảo giá trị chân - thiện - mĩ, phản ánh sâu sắc hiện thực đời sống, nuôi dưỡng tâm hồn, lòng yêu nước và ý thức cộng đồng. Hình thức ngôn ngữ cần chắt lọc, nén chữ, biểu đạt phù hợp, sử dụng biểu tượng, hình ảnh giàu giá trị cảm xúc và nghệ thuật. Quan điểm sáng tác của văn nghệ sĩ không tách khỏi trách nhiệm xã hội để chạy theo thị hiếu thấp kém, bạo lực.

Đối với một truyện ngắn, tản văn, bút kí văn học, nhất là một truyện ngắn hay, đã có rất nhiều nhà lí luận phê bình, công trình khoa học, nhà văn nổi tiếng bàn tới. Tôi hiểu rằng truyện ngắn là một tự sự cỡ nhỏ, hấp dẫn, năng động. Để có truyện ngắn hay thì ngôn từ, cấu tứ, nhân vật, cốt truyện, tình huống, không khí truyện, cách kể, ngôi kể và chi tiết đắt. Chừng này yếu tố nếu đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu nó ở bài viết này không thể làm rõ được hết, nhưng cá nhân tôi thấy cả nội dung, hình thức nghệ thuật cũng như quan điểm sáng tác của nhà văn cần “chuyên nghiệp hoá” chính mình, không thể theo lối ngẫu hứng sáng tác được chăng hay chớ.

Chẳng hạn khi ta bàn về ngôi kể trong truyện ngắn, phải xuất phát từ điểm nhìn và ngôi kể vì có liên quan chặt chẽ với nhau. Có điểm nhìn trần thuật, nhìn đằng sau, đằng trước, nhìn bên trong, bên ngoài. Về ngôi kể của nhân vật người kể chuyện, bản thân nhà văn sẽ đứng trước mấy sự lựa chọn: nhân vật kể chuyện là “tôi” (tức là tôi đứng ra kể chuyện mình hoặc một nhân vật đứng ra kể chuyện xưng “tôi”) hay nhân vật đứng ở ngôi thứ ba để kể chuyện. “Tôi” ở đây không phải là nhà văn mà là nhân vật trong câu chuyện kể. Phân biệt được điểm nhìn và ngôi kể, nhà văn sẽ tránh được việc lẫn lộn về lời văn của mình với nhân vật, không làm thay, nói thay nhân vật và không lẫn lộn về ngôi kể trong lúc kể một câu chuyện, dễ làm nhiễu loạn thông tin, bạn đọc nhìn vào văn bản như ma trận chẳng biết đâu mà lần.

Tương tự đối với thơ cũng vậy, thơ phát tiết từ cảm xúc hiện thực đời sống, có tính mãnh liệt, siêu thăng và khái quát cao. Tôi hiểu thơ thì phải có tư tưởng, hình ảnh sáng tạo, ngôn ngữ cô đọng, tránh dễ dãi, cũ kĩ. Nhà thơ Hoài Thanh từng nói “Từ bao giờ đến bây giờ. Từ Homero đến Kinh thi, đến ca dao Việt Nam, thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó đã ra đời giữa những vui buồn của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế”. Đến nay, loài người vẫn chưa thôi đi tìm khái niệm thẩm mĩ cho riêng mình. Theo tôi từ ca dao, dân ca Việt Nam phát triển đến thơ hiện nay đã từng trải nhiều giai đoạn tương ứng với những hình thức thể hiện vô cùng phong phú. Từ lục bát đến thơ Đường đến thơ tự do, từ niêm luật, vần luật đến phá cách. Việc lựa chọn hình thức thể hiện nào phụ thuộc vào cảm tác thi sĩ. Nhưng tôi thiển nghĩ nhất thiết nếu đã dùng niêm luật, vần luật thì phải dùng sao cho đúng. Chẳng hạn khi làm thơ lục bát, ngoài yếu tố câu lục (6), câu bát (8) hay trên 6 dưới 8 còn phải đặc biệt chú ý đến vần. Trong gieo vần thì phải chú ý cả vần chân và vần lưng đều là vần bằng, bắt buộc. Tối kị việc gieo vần mà ta không để nó theo vần, kiểu như câu trên (6) là vần “ồng” mà câu dưới “8” là vần “ơm” được, vì đọc vào văn bản có cảm giác tức cười, như đang mắc phải xương cá ở ngang cổ họng vậy. Thể thơ lục, bát ta chưa nói đến Nguyễn Du, Nguyễn Bính và nhiều bậc kì tài khác, chỉ cần đọc “Sông Lấp” của cụ Trần Tế Xương: “Sông kia rày đã nên đồng/ Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”. Ngoài việc gieo vần đúng và hay, phân tích kĩ chữ “Vẳng nghe” của cụ trong bài Sông lấp cũng đủ thấy dùng từ hết sức đắt, không ai qua được. Còn hiểu trong “Bóng chữ” của nhà thơ lê Đạt thì cái bóng ấy là đâu là như thế nào cũng viết nên được một bài dài.

Đáng tiếc là có không ít ý kiến cho rằng: “Viết sao là quyền tác giả. Sáng tạo  là của cá nhân, phải cá tính! Cứ gửi đến toà soạn, dùng được thì dùng, không được thì bỏ, không sao”. Theo tôi, như thế là rất lãng phí, thậm chí là quá giản đơn và có phần thiếu trách nhiệm, chưa nghiêm túc với bản thân. Tôi luôn coi trọng sự góp ý phê bình của bạn đọc để kiểm nghiệm, điều chỉnh sao cho phù hợp, đúng tôn chỉ và gần gũi hơn với công chúng mà vẫn giữ được tính đặc thù. Khi biên tập thì không dừng lại ở việc “chọn hay bỏ”, mà là quá trình đối thoại, đồng hành với người sáng tạo và tiếp nhận để đồng sáng tạo một không gian văn hóa tử tế, thân thiện. Đáng tiếc là có những tác giả khi được góp ý mặt kĩ thuật hoặc nội dung tác phẩm dễ dẫn đến xung đột, bằng mặt mà không bằng lòng. Như trên đã nói, cũng giống như người phụ nữ, đã thai nghén thì phải nỗ lực và quyết định sinh con. Người biên tập chỉ làm vai trò “bà đỡ” thôi, không thể can thiệp kiểu “dùng dao mổ bụng lấy con” như bệnh viện được. Do vậy, nhất thiết phải rất quý trọng, nỗ lực vì tác phẩm của mình mà không bảo thủ mãi. Chỉ có Hi Mã lạp Sơn (Himalaya) mới là “Ta là Một, là Riêng, là thứ Nhất” thôi chứ văn nghệ sĩ không thể tách khỏi Nhân dân và bạn đọc.

Trong một xã hội trọng lời khen, đôi khi lạm dụng thái quá dưới tác dụng mạng xã hội đẩy thuyền, lời khen ấy vô tình làm thui chột tài năng chớm hé. Tôi nghĩ hai từ “nổi tiếng”, anh chị ấy, ông bà ấy, nhà văn nhà thơ ấy “nổi tiếng”, như một đẳng cấp cao hơn người khác, làm cho chủ nhân từ chỗ e thẹn đến đỏ mặt rồi đến tái mặt vì hai chữ “nổi tiếng”. Bác Hồ, bậc thầy của ngôn ngữ tiếng Việt, trong rất nhiều tác phẩm, Người cũng chỉ viết: “Ông Đỗ Phủ là người làm thơ Đường nổi tiếng ở Trung Quốc”. Nói vậy không phải Bác quá đề cao mình mà là đúng đắn và khiêm nhường trong sử dụng từ ngữ sao cho đúng, cho hợp, cho vừa phải. Phung phí quá lời khen một ai đó cũng làm đau lòng chữ. Bác Hồ dạy người viết báo, viết văn hay làm thơ cũng thế, viết cái gì, viết cho ai xem, viết như thế nào vẫn mãi là chân lí cho người mang nghiệp viết mà tôi luôn hằng học tập, noi theo.

Biên Hoà, tháng 5/2025
N.M.Đ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch
Mùa đông về bất chợt, từng làn gió bấc mang theo hơi lạnh luồn vào các hang cùng ngõ hẻm của từng xóm phố. Bầu trời hôm nay phủ kín một màu xám bạc, những chiếc lá vàng cuối cùng còn sót lại trên cành cây đang đung đưa lần cuối trước khi rơi xuống đất, để chờ một mùa mới hồi sinh.
Xem thêm
Những người yêu rùa biển
Bài đăng Văn nghệ TPHCM số Xuân Bính Ngọ 2026
Xem thêm
Nhớ quê trong gió bấc mưa phùn - Tạp bút Nguyễn Gia Long
Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Bắc nước ta, nơi có những tháng mùa đông đi qua đầy khắc nghiệt, với mưa phùn, gió bấc và cái lạnh tái tê như muốn cắt da thịt, nên tuổi thơ tôi có biết bao nhiêu những kỷ niệm với mùa đông và miền quê thân thương ấy. Đó là những buổi ra đồng nhổ mạ, cấy lúa cùng mẹ vào dịp cuối năm, mặc dù thời tiết lạnh căm căm. Đó là những buổi chiều lùa trâu ra đồng chăn thả, kệ cho những cơn gió hun hút tràn về. Hay như những hôm trời u ám với gió bấc, mưa phùn giăng đầy trời vậy mà mẹ vẫn bắt mấy anh chị em chúng tôi ra đồng để kiếm rau mang về nấu cám cho lợn ăn. Rồi nữa, có không ít những chiều đông rét mướt, tôi vẫn cùng những đứa trẻ cùng trang lứa trong xóm ra đồng be bờ tát mương, bắt cua, cá, tôm, ốc…, mang về cải thiện cho bữa cơm sinh hoạt gia đình thêm phần tươm tất.
Xem thêm
Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn
Bài đăng Tạp chí Sông Lam Online
Xem thêm
Ao làng tháng Chạp trong ký ức tuổi thơ tôi - Tản văn Nguyễn Thúy Uyên
Nơi tôi sinh ra là một làng quê ven thành phố và dẫu nơi đây đã, đang trong đà đô thị hoá mạnh mẽ nhưng vẫn còn sót lại một số ao, hồ. Với người dân quê tôi nói riêng cũng như hết thảy những làng quê Việt Nam nói chung, thì có lẽ hình ảnh cái ao làng luôn gần gũi, rất thân thương, bởi lẽ những cái ao là nơi cung cấp nước tưới cho cây cối trong vườn nhà; ao là nơi thoát nước trong những ngày mưa triền miên; và ao cũng là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cá, tôm, cua, ốc… cho con người, cũng như làm nơi thả bèo dùng cho việc chăn nuôi gia cầm gia súc.... Đối với trẻ thơ chúng tôi ngày thơ bé, thì ao làng còn là nơi tắm mát “giải nhiệt”, vui chơi đùa nghịch trong những buổi trưa hè oi ả, nóng bức…
Xem thêm
Chân mây - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Trước khi nghỉ hưu dăm bảy năm. Mình chuyển về phòng làm việc có cửa sổ rộng quay ra mặt hồ. Đó là một hồ nước lớn. Cây cổ thụ xanh mướt vây quanh. Bên hồ là công viên cây xanh nổi tiếng của thành phố. Mùa thu những vòm cây bừng nở những sắc hoa. Khi đó hương hoa ngào ngạt tràn ngập không gian. Hương hoa tràn ngập căn phòng của mình.
Xem thêm
Nén hương lòng nơi biên giới thân yêu - Tản văn Vũ Mạnh Định
Những ngày cuối năm, khi đất trời bắt đầu chuyển mình sang một nhịp chậm hơn, tôi có dịp dừng chân trước nghĩa trang liệt sĩ Hội Phú - vùng đất nơi tôi mới nhận công tác. Khói hương bảng lảng trong gió lạnh, những hàng bia trắng lặng im giữa không gian tĩnh mịch khiến lòng tôi chợt chùng xuống. Giữa khoảnh khắc tưởng niệm ấy, ký ức bất chợt đưa tôi trở về Đức Cơ - vùng biên giới đầy nắng gió, nơi những cánh rừng cao su mỗi độ cuối năm lại đồng loạt thay lá, nhuộm vàng cả một khoảng trời.
Xem thêm
Về làng Thụy Khê thăm nhà thờ Phan Huy Chú
Dòng họ Phan Huy ở Thuỵ Khuê (còn gọi là làng Thầy) xã Quốc Oai thành phố Hà Nội (trước đây thuộc xã Sài Sơn huyện Quốc Oai) vốn rất danh giá và nổi tiếng từ lâu đời. Rồi đến năm 2015, khi ông Ban Ki Moon - Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đến thăm và ghi vào sổ lưu niệm của dòng họ tại ngôi nhà thờ Phan Huy Chú ở dưới chân núi Thầy thì danh thơm của chi tộc Phan Huy lại càng lừng lẫy và được rất nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Ngôi nhà thờ ấy, trong tôi từ lâu vẫn biết, đó không chỉ là nơi thờ tự các bậc tổ tiên tiền bối từng là những triều thần, những danh nhân văn hoá lỗi lạc của dòng họ Phan Huy, của nước nhà qua các triều đại phong kiến, trải từ thời Hậu Lê đến đời nhà Nguyễn mà còn là nơi ra đời của của rất nhiều tác phẩm văn chương, những công trình khảo cứu lịch sử đồ sộ, quý giá của nước nhà. Biết vậy, trong thâm tâm tôi đã nhiều lần muốn đến thăm không gian thờ tự này, đồng thời cũng có thể coi đó là một “chứng nhân” chứng kiến sự ra đời của không ít các tác phẩm, những công trình văn hoá đặc biệt ấy; nhưng rồi việc nọ việc kia mà mãi vẫn chưa thực hiện được. Cứ thế, lòng hẹn lòng mãi, cuối cùng, nhân kỳ nghỉ Tết, tôi cũng đã thu xếp công việc để hành hương về chiêm bái. Và rồi, từ chuyến hành hương ấy, tôi được mở mang, hiểu biết thêm nhiều về dòng họ Phan Huy và những danh sĩ rất mực tài hoa, uyên bác của dòng họ này trên đất phủ Quốc, xứ Đoài mây trắng.
Xem thêm
Có một tinh thần sáng tạo độc lập như thế tại Việt Nam
Tiệm phở của Anh Hai (Brother Hai’s Pho Restaurant) là tựa game nổi tiếng thời gian gần đây của một lập trình viên bí ẩn với biệt danh marisa0704, vốn là sinh viên Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông (SoICT), Đại học Bách khoa Hà Nội được truyền cảm hứng từ Flappy Bird của nhà lập trình độc lập từ hơn 10 năm trước. Như một sự ngẫu nhiên, nếu nhìn lại những kết quả của các nghệ sĩ trẻ trong các lĩnh vực mỹ thuật, điện ảnh, sân khấu - kịch, xuất bản và đặc biệt là âm nhạc thì trong hơn một thập kỷ qua, họ đã thực sự sống với tinh thần sáng tạo, thử nghiệm độc lập.
Xem thêm
Lâm Xuân Thi – Người chọn đứng phía sau những điều tử tế
Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TPHCM số ra ngày 01/01/2026
Xem thêm
Vị của mùa Đông - Tản văn Đinh Thu Huế
Mùa đông lẻn vào lòng thành phố bằng những bước chân không tiếng động, chỉ để lại dấu vết qua cái rùng mình của cơn gió bấc và sắc màu trầm mặc trên vòm không. Với tôi, mùa đông không chỉ là một khái niệm thời tiết, nó là một “vị” riêng biệt - vị của ký ức, của sự tĩnh lặng và của những triết lý nhân sinh được gói ghém trong cái lạnh căm căm.
Xem thêm
“Ăn mày laptop”- Thắp sáng niềm tin cuộc đời
Trong thời đại số, khi mạng xã hội thường bị nhìn như nơi ồn ào và nhiễu loạn, dự án “Ăn mày laptop” của Trần Trọng An lại cho thấy một khả năng khác: kết nối lòng tử tế bằng sự minh bạch, kiên trì và nhân ái.
Xem thêm
Nén hương cho một người cô độc - Tùy bút Nguyễn Hồng Lam
Đi hết những năm chiến tranh, vác ba lô về nhà ngỡ bắt đầu đời sống của riêng mình, người lính ấy mới nhận ra không còn gì thuộc về riêng ông nữa. Không gia đình, không quê hương, không có gì chào đón hay níu giữ. Khói lửa chiến tranh cũng đã tàn, chẳng còn chiến trường khốc liệt nào cho ông quay trở lại, dù chỉ để đi hết cuộc đời trong một thói quen. Ông là người lính lơ lạc giữa thời bình. Ngày trở về cũng cũng là ngày cuộc chiến trong tâm thức của riêng ông mới bắt đầu, giữa hòa bình vĩnh viễn, kéo dài thêm suốt hơn 30 năm sau đó.
Xem thêm
Văn chương gìn giữ văn hóa đọc
​Sách và văn hóa đọc đã góp phần gìn giữ, bảo tồn văn hóa quốc gia, dân tộc, phát triển năng lực cá nhân thông qua ngôn ngữ được sử dụng làm công cụ kết nối, truyền bá và lưu giữ những giá trị bất biến ngàn đời. Trong đó, văn chương cũng là một kênh đọc rất hữu hiệu, giàu tính nhân văn, nhân bản được nhân loại tụng ca.
Xem thêm
Hà Vi Tùng, vị tướng mưu lược…
Kỷ niệm 81 năm thành lập QĐND Việt Nam, 36 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân
Xem thêm
Pha Long nơi biên cương Tổ Quốc
“Pha Long nơi biên cương Tổ quốc” không chỉ là câu chuyện tìm mộ liệt sĩ, mà là một hành trình nhân văn về ký ức chiến tranh, tình ruột thịt và sự hóa thân thầm lặng của người lính vào từng tấc đất biên cương. Văn chương TP. HCM trân trọng giới thiệu bài ký của nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh
Xem thêm
Phú Yên nghĩa tình và khát vọng hồi sinh - Ký của Nguyên Hùng
Bài đăng báo Văn nghệ số 50, ra ngày 13/12/2025
Xem thêm
Lời thì thầm của biển – Tản văn của Như Nguyệt
Còn bạn thì sao? Bạn nghe điều gì từ lòng biển? Tôi tin dù bạn nghe được điều gì, hãy giữ lấy niềm tin ấy thật chặt, bởi vì mọi “lời thì thầm” đều có sức mạnh của riêng nó.
Xem thêm
Diễn viên Thương Tín đã về cõi lặng
Thông tin từ chị Bùi Kim Chi (vợ Thương Tín) cho biết, Thương Tín đã qua đời vào khuya nay tại nhà riêng Phủ Hoà, Phan Rang.
Xem thêm