TIN TỨC

Vì yêu mến chữ yêu người yêu văn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-16 18:05:35
mail facebook google pos stwis
2430 lượt xem

Bút kí của LA GIANG (Nguyễn Minh Đức)

Nghề viết báo, viết văn, làm thơ suy cho cùng là nghề rất vất vả, khổ ải. Nhưng đổi lại, thật đỗi hạnh phúc và vinh quang, nhất là những khi “đứa con tinh thần” của mình “thai nghén, mang nặng đẻ đau” được chào đời một cách trọn vẹn, được đón nhận và sống lâu trong lòng bạn đọc, được bạn đọc mãi nhớ đến. Bởi vậy, thiết nghĩ khi ta yêu mến chữ không thể không yêu người yêu văn. Nhân kỉ niệm 100 năm Báo chí cách mạng Việt Nam, xin được bày tỏ đôi điều tri ân.

Đoạn trường yêu mến chữ

Tôi tập tọe viết báo khi đang học năm thứ hai của Trường Sĩ quan chính trị - Quân sự Bắc Ninh (nay là Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng). Hồi ấy, do đam mê đọc và nghe, chưa khi nào tôi có thể được đọc và nghe nhiều như thời kì ngồi trên ghế nhà trường. Nguồn đọc chủ yếu trên Báo Quân đội nhân dân (thời ấy 4 trang), Báo Nhân dân và một số loại báo khác, nhưng muốn đọc nhiều thì phải đến thư viện.

Ngay giữa năm học thứ nhất, tôi đã được “thẻ đặc cách” thư viện, đó là chính sách ưu tiên bạn đọc của Nhà trường. Thời ấy chưa có tivi, nguồn nghe chủ yếu qua radio trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, nhưng chỉ được nghe chương trình thời sự vào khung giờ nhất định và chương trình Phát thanh quân đội hằng tối vào lúc từ 21h đến 21h30. Các tối thứ 7, chủ nhật có chương trình văn nghệ tổng hợp. Tôi thích nhất chương trình vào khung giờ đó. Lịch thời gian của học viên sĩ quan như guồng máy, kín mít, giờ nào việc đó. Việc đọc và nghe là tranh thủ từng phút từng giờ, hễ rảnh rỗi lúc nào đọc lúc đó.

 Điều thú vị hơn là, ngay giữa năm học thứ nhất, tôi đặt bút tập viết bài báo nhỏ gọi là “hộp diêm”. Ban đầu tôi khá viết dài, câu văn loằng ngoằng như dây rau muống. Viết xong, nhờ anh Quý, Phó đại đội trưởng chính trị của tôi đọc, góp ý. Cũng phải mất vài ba lần, đến lúc anh có vẻ hơi cáu (vì anh công việc nhiều), nên tôi nản. Vài tuần sau, khi đọc được tác phẩm ưng ý ở báo, tôi lấy bút đếm số chữ, nghiên cứu cách viết của họ. Cách đặt “tít” thế nào? Mở đầu từ đâu? Vì sao mở đầu như thế? Dạng bài ấy là phản ảnh hay tin tức? Lấy nguồn tin ở đâu? Làm cách nào để có nguồn tin đáng tin cậy ấy...? Thế nào là dạng tin, bài phản ánh, bài phóng sự, phóng sự điều tra, thế nào là thể kí, kí chân dung, bút kí, hồi kí, kí văn học thì khác kí báo chí chỗ nào? Cách sáng tác một bài báo hoàn chỉnh theo từng thể loại. Hàng loạt câu hỏi cứ thế vang lên trong đầu. Sau vài ngày, tôi tìm đọc được nguồn tài liệu về viết báo của nhà báo Hữu Thọ, ông làm việc ở Báo Nhân dân và một số tài liệu liên quan khác. Tôi đọc kĩ, đánh dấu từng phần rồi viết thử.

Mỗi tối, sau điểm quân số, điểm danh xong, tranh thủ trước giờ buông màn mấy chục phút, tôi lọ mọ ra cột đèn (vì trong phòng đã tắt đèn) viết ra tờ giấy rồi viết lại vài lần. Khi viết được rồi, đợi ngày giao ban, tranh thủ lúc anh Quý vui vẻ, chuẩn bị chơi thể thao thì tôi ào đến dúi bài đưa anh và khoe: “Em viết được rồi. Anh đọc lại giúp ạ!”. Anh cầm lướt nhanh, chẳng nói gì. Bài chỉ 300 chữ thôi, đọc nhanh lắm. Buổi tối, anh cho gọi lên và góp ý chỉnh sửa 4 chữ. Anh nói em chịu khó rèn như vậy là tốt đấy. Mai này tốt nghiệp có thể tiếp tục học làm nhà báo được. Tôi sướng rơn trong lòng. Chiều chủ nhật được anh ra ngoài doanh trại, tôi đến bưu điện dùng hai con tem “tiêu chuẩn” gửi về Báo Quân đội nhân dân theo địa chỉ số 7, Phan Đình Phùng, Hà Nội.

Hơn tuần sau, đang lúc buổi học chiến thuật. Giờ giải lao, trực ban gọi toáng lên: “Bài của mày được đăng đây này! Thằng này giỏi quá hè!?”. Cả bọn xúm lại đòi khao. Vậy là hai bao thuốc lá Sông Cầu với ấm chè Thái Nguyên (lính lác với nhau gọi là “ấm chè” và “bao thóc”) coi như xong bài báo. Bài “hộp diêm” ấy đóng khung cẩn thận, ở góc nhỏ tờ báo nhưng trang trọng, tôi sướng cả tuần. Bài báo có tựa “Góc khuất ông Sáng”, viết về góc khuất ở ngã tư đường, nhà ông Sáng ở ngay đó. Ngày trước, nhà ông trồng hàng dâm bụt bao quanh. Chẳng hiểu thế nào ông mua gạch xây kín. Không xây chườm ra đường nhưng ngã tư ấy là một góc khuất “nguy hiểm”. Nhà ông thì đẹp mà ngã tư thì nhiều xe và người gặp nạn. Góp ý nhẹ nhàng và có chuyển biến sau một thời gian, bờ tường khuất lấp ngã tư ông Sáng đập và thay chấn song. Theo nhận xét của anh Quế, trưởng phòng bạn đọc Báo Quân đội nhân dân sau này, nói: “Cái “tit” của cậu khá ấn tượng. Cố gắng nhé”. Tôi biết, Trường Sĩ quan chính trị đã đào tạo nhiều cán bộ sĩ quan sau này tốt nghiệp ra làm báo. Ở đó cũng có những khối, lớp đào tạo báo chí chuyên nghiệp. Nhưng thời kì ấy tôi đang học sĩ quan, viết báo chẳng qua chỉ là “học mót, học lỏm” của các anh chị chứ có bài bản trường lớp gì đâu. Rất vui là có nhiều bài báo, bài thơ được sử dụng.

Khi ra trường làm cán bộ quản lí, tôi tranh thủ học thêm, rồi được đi bồi dưỡng lớp báo chí của Tổng cục Chính trị. Từ đó, tôi viết nhiều thể loại, cả viết báo, viết văn, làm thơ. Thực tiễn những năm quản lí ở đơn vị cơ sở tuy vất vả nhưng thật lí thú, sống gần anh em, được đi nhiều nơi, học tập và tìm hiểu, có nhiều tư liệu để viết. Tôi nhớ mãi bài kí: “Lại Yên như thế bao giờ mới yên?”, là bài viết về làng nghề của xã Lại Yên, thuộc Hoài Đức (Hà Tây cũ). Cũng là cách góp ý nhẹ nhàng về làng nghề nhưng sản xuất gây ô nhiễm. Người dân bức xúc cãi nhau, xung đột ý thức đến lợi ích, đời sống tinh thần căng thẳng. Bài báo ấy ra sau thời gian thì Hà Tây nhập về Hà Nội. Một cuộc chấn chỉnh về nhận thức, tư tưởng, hành động sau đó, xã Lại Yên đã yên trở lại, Thủ đô thêm góc văn minh.

Cũng là viết về làng nghề truyền thống, tôi về làng lụa Hà Đông viết bài “Nghìn năm vẫn tiếng thoi đưa”, khẳng định giá trị văn hoá truyền thống của một làng nghề lâu đời. Từ khi cụ Lã Thị Nga (vợ ông Cao Biền, thời Đường) từ Hàng Châu theo chồng sang thu phục quân Nam Chiếu, xây thành Đại La. Bà đến làng Vạn Phúc thấy dân tình khổ ải, bà truyền nghề trồng dâu nuôi tằm ươm tơ dệt lụa cho người dân, lập nên làng lụa. Mãi đến nay (năm 2010) kỉ niệm nghìn năm Thăng Long Hà Nội, nghề tầm tang hơn nghìn năm bên dòng Nhuệ giang thoi chẳng ngừng đưa, mang đến sản vật đặc sắc làm đẹp cho đời. Cũng chính mảnh đất này, Bác Hồ viết “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” tháng 12/1946. Những bài thơ, bài báo, truyện của tôi viết về mảnh đất và con người nơi đây được bạn đọc yêu mến.

Tôi viết khá nhiều tin, bài cộng tác với các báo Trung ương và địa phương, nhất là Báo Quân đội, Báo Nhân dân, Chương trình Phát thanh quân đội, Tạp chí Văn nghệ quân đội, Báo Văn nghệ, Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Báo Đồng Nai… về các lĩnh vực văn học, văn hoá, giá trị văn hoá truyền thống cần tiếp tục phát huy, lưu truyền. Mỗi bài tôi gắng rèn giũa chắt chiu, tiết chữ, nén thông tin đến độ tối đa nhất có thể, triệt tiêu những chữ thừa, không cần thiết cho cấu trúc câu, giúp người đọc dễ hiểu, phát thanh dễ nghe.

Sau này, khi chính thức trở thành nhà báo, tôi được phân công đảm nhiệm công tác biên tập, rồi làm Phó Trưởng ban Tạp chí Khoa học và chiến thuật, một tạp chí chuyên ngành của Trường Sĩ quan Lục quân 2 (Đại học Nguyễn Huệ), tôi càng nỗ lực rèn giũa mình nhiều hơn, trau chuốt từng con chữ, làm “bà đỡ” cho nhiều tác phẩm của cộng tác viên có được “sản phẩm” ưng ý. Gần 15 năm làm việc ở cơ quan quản lí báo chí, tôi ý thức rõ trách nhiệm biên tập báo, giúp cộng tác viên trưởng thành qua từng tác phẩm được sử dụng, đăng tải.

Công việc ở cơ quan quản lí báo chí, dù là cấp cơ sở nhưng khá căng thẳng vì áp lực chuyên môn, tiến độ và nhiều mặt khác. Tuy vậy, tôi vẫn thường xuyên viết, cộng tác với các báo, trong đó có Tạp chí Văn nghệ Đồng Nai, nơi tôi hiện đang là biên tập viên mảng văn xuôi. May mắn viết bài và được các nhà văn, nhà thơ, nhà quản lí văn hoá kì cựu yêu mến để mắt tới, giới thiệu, được Ban Chấp hành Hội đồng ý, trở thành hội viên hơn chục năm qua và là cộng tác viên của Tạp chí.

Yêu người yêu văn

Tôi yêu mến tất cả mọi người, trước hết là bạn bè đồng nghiệp viết. Ngay cả khi chưa yêu người, chưa được gặp tác giả lần nào nhưng được đọc tác phẩm của họ, tôi yêu văn họ trước rồi tìm hiểu và yêu mến con người họ sau. Mỗi khi đọc được tác phẩm tốt nào đó của họ, dù dưới bất kì sản phẩm nào, là bài báo, văn xuôi như truyện, bút kí, hồi kí, tản văn, những bài thơ hay, bình thơ, bình luận văn nghệ, nghe ca từ kết hợp âm nhạc… tôi cho rằng đó là những người có thực tài. Đọc họ, bản thân mình được học hỏi và lớn lên khá nhiều thứ, nhất là ngôn ngữ, giọng điệu, kĩ thuật…

Phải thật sự họ có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực đó, có nền tảng, phông văn hoá đủ rộng bao quát và chiều sâu lĩnh vực đó, có trái tim nhân văn và ý thức rõ tác dụng, giá trị về lĩnh vực đó, họ viết bằng cả trái tim mình, kiểm soát bài viết bằng tất cả lí trí theo những quy chuẩn chung kiến thức mà xã hội nghề nghiệp và bạn đọc yêu mến cần, tác phẩm họ viết ra được bạn đọc đón nhận, trở thành người bạn của bạn đọc, sống lâu trong đời sống lĩnh vực đó và lan toả trong xã hội. Đó là tác phẩm có giá trị và thành công. Điều này thì nhận định của nhà quý tộc người Pháp La Rochefoucault từ thế kỉ XVI đã đúng. Ông cho rằng: “Một quyển sách tốt là một người bạn hiền”. Hay nói cách khác, đọc một cuốn sách hay, bài viết tốt cũng như cách ta ngồi hầu chuyện với người tri kỉ vậy!

Theo tôi hiểu thì các báo, tạp chí trung ương đến địa phương, công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện theo tiêu chí, tôn chỉ mục đích là những vấn đề rất quan trọng. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của hội đồng biên tập, ban biên tập, những người chịu trách nhiệm chính, có tiếng nói quyết định cho một tờ báo, tạp chí ra đời đúng định hướng, đạt mục đích tuyên truyền, là cơ quan ngôn luận, tiếng nói của tổ chức Đảng hoặc từng ngành nghề riêng. Đồng thời, đội ngũ làm công chuyện “bếp núc” của toà soạn và trị sự, nhất là đội ngũ biên tập viên có vai trò không nhỏ. Tôi luôn quan niệm đội ngũ biên tập như những “người lính gác cổng” để báo, tạp chí luôn đúng định hướng, tôn chỉ mục đích, hay hơn, hấp dẫn hơn, thu hút bạn đọc ngày càng nhiều và tránh sai sót đáng tiếc. Đội ngũ biên tập viên chính là “bà đỡ”, là “thiên sứ tình yêu” cho những “đứa con” tinh thần, những tác phẩm có chất lượng ra đời. Do vậy, đội ngũ biên tập phải có thái độ làm việc nghiêm túc, bám sát tiêu chí, chọn lọc kỹ lưỡng, thẩm định khách quan, biên tập cẩn trọng, giữ được tiếng nói riêng của tác giả nhưng không để lệch chuẩn về tư tưởng và nghệ thuật.

Tuy vậy, nhân tố quyết định chất lượng tờ báo, tạp chí theo tôi chính là chất lượng sáng tạo tác phẩm, sáng tác của đội ngũ phóng viên, cộng tác viên của tờ báo, tạp chí ấy. Chuẩn mực thẩm mĩ tác phẩm bao gồm nội dung, hình thức và quan điểm sáng tác. Nội dung phải đảm bảo giá trị chân - thiện - mĩ, phản ánh sâu sắc hiện thực đời sống, nuôi dưỡng tâm hồn, lòng yêu nước và ý thức cộng đồng. Hình thức ngôn ngữ cần chắt lọc, nén chữ, biểu đạt phù hợp, sử dụng biểu tượng, hình ảnh giàu giá trị cảm xúc và nghệ thuật. Quan điểm sáng tác của văn nghệ sĩ không tách khỏi trách nhiệm xã hội để chạy theo thị hiếu thấp kém, bạo lực.

Đối với một truyện ngắn, tản văn, bút kí văn học, nhất là một truyện ngắn hay, đã có rất nhiều nhà lí luận phê bình, công trình khoa học, nhà văn nổi tiếng bàn tới. Tôi hiểu rằng truyện ngắn là một tự sự cỡ nhỏ, hấp dẫn, năng động. Để có truyện ngắn hay thì ngôn từ, cấu tứ, nhân vật, cốt truyện, tình huống, không khí truyện, cách kể, ngôi kể và chi tiết đắt. Chừng này yếu tố nếu đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu nó ở bài viết này không thể làm rõ được hết, nhưng cá nhân tôi thấy cả nội dung, hình thức nghệ thuật cũng như quan điểm sáng tác của nhà văn cần “chuyên nghiệp hoá” chính mình, không thể theo lối ngẫu hứng sáng tác được chăng hay chớ.

Chẳng hạn khi ta bàn về ngôi kể trong truyện ngắn, phải xuất phát từ điểm nhìn và ngôi kể vì có liên quan chặt chẽ với nhau. Có điểm nhìn trần thuật, nhìn đằng sau, đằng trước, nhìn bên trong, bên ngoài. Về ngôi kể của nhân vật người kể chuyện, bản thân nhà văn sẽ đứng trước mấy sự lựa chọn: nhân vật kể chuyện là “tôi” (tức là tôi đứng ra kể chuyện mình hoặc một nhân vật đứng ra kể chuyện xưng “tôi”) hay nhân vật đứng ở ngôi thứ ba để kể chuyện. “Tôi” ở đây không phải là nhà văn mà là nhân vật trong câu chuyện kể. Phân biệt được điểm nhìn và ngôi kể, nhà văn sẽ tránh được việc lẫn lộn về lời văn của mình với nhân vật, không làm thay, nói thay nhân vật và không lẫn lộn về ngôi kể trong lúc kể một câu chuyện, dễ làm nhiễu loạn thông tin, bạn đọc nhìn vào văn bản như ma trận chẳng biết đâu mà lần.

Tương tự đối với thơ cũng vậy, thơ phát tiết từ cảm xúc hiện thực đời sống, có tính mãnh liệt, siêu thăng và khái quát cao. Tôi hiểu thơ thì phải có tư tưởng, hình ảnh sáng tạo, ngôn ngữ cô đọng, tránh dễ dãi, cũ kĩ. Nhà thơ Hoài Thanh từng nói “Từ bao giờ đến bây giờ. Từ Homero đến Kinh thi, đến ca dao Việt Nam, thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó đã ra đời giữa những vui buồn của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế”. Đến nay, loài người vẫn chưa thôi đi tìm khái niệm thẩm mĩ cho riêng mình. Theo tôi từ ca dao, dân ca Việt Nam phát triển đến thơ hiện nay đã từng trải nhiều giai đoạn tương ứng với những hình thức thể hiện vô cùng phong phú. Từ lục bát đến thơ Đường đến thơ tự do, từ niêm luật, vần luật đến phá cách. Việc lựa chọn hình thức thể hiện nào phụ thuộc vào cảm tác thi sĩ. Nhưng tôi thiển nghĩ nhất thiết nếu đã dùng niêm luật, vần luật thì phải dùng sao cho đúng. Chẳng hạn khi làm thơ lục bát, ngoài yếu tố câu lục (6), câu bát (8) hay trên 6 dưới 8 còn phải đặc biệt chú ý đến vần. Trong gieo vần thì phải chú ý cả vần chân và vần lưng đều là vần bằng, bắt buộc. Tối kị việc gieo vần mà ta không để nó theo vần, kiểu như câu trên (6) là vần “ồng” mà câu dưới “8” là vần “ơm” được, vì đọc vào văn bản có cảm giác tức cười, như đang mắc phải xương cá ở ngang cổ họng vậy. Thể thơ lục, bát ta chưa nói đến Nguyễn Du, Nguyễn Bính và nhiều bậc kì tài khác, chỉ cần đọc “Sông Lấp” của cụ Trần Tế Xương: “Sông kia rày đã nên đồng/ Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”. Ngoài việc gieo vần đúng và hay, phân tích kĩ chữ “Vẳng nghe” của cụ trong bài Sông lấp cũng đủ thấy dùng từ hết sức đắt, không ai qua được. Còn hiểu trong “Bóng chữ” của nhà thơ lê Đạt thì cái bóng ấy là đâu là như thế nào cũng viết nên được một bài dài.

Đáng tiếc là có không ít ý kiến cho rằng: “Viết sao là quyền tác giả. Sáng tạo  là của cá nhân, phải cá tính! Cứ gửi đến toà soạn, dùng được thì dùng, không được thì bỏ, không sao”. Theo tôi, như thế là rất lãng phí, thậm chí là quá giản đơn và có phần thiếu trách nhiệm, chưa nghiêm túc với bản thân. Tôi luôn coi trọng sự góp ý phê bình của bạn đọc để kiểm nghiệm, điều chỉnh sao cho phù hợp, đúng tôn chỉ và gần gũi hơn với công chúng mà vẫn giữ được tính đặc thù. Khi biên tập thì không dừng lại ở việc “chọn hay bỏ”, mà là quá trình đối thoại, đồng hành với người sáng tạo và tiếp nhận để đồng sáng tạo một không gian văn hóa tử tế, thân thiện. Đáng tiếc là có những tác giả khi được góp ý mặt kĩ thuật hoặc nội dung tác phẩm dễ dẫn đến xung đột, bằng mặt mà không bằng lòng. Như trên đã nói, cũng giống như người phụ nữ, đã thai nghén thì phải nỗ lực và quyết định sinh con. Người biên tập chỉ làm vai trò “bà đỡ” thôi, không thể can thiệp kiểu “dùng dao mổ bụng lấy con” như bệnh viện được. Do vậy, nhất thiết phải rất quý trọng, nỗ lực vì tác phẩm của mình mà không bảo thủ mãi. Chỉ có Hi Mã lạp Sơn (Himalaya) mới là “Ta là Một, là Riêng, là thứ Nhất” thôi chứ văn nghệ sĩ không thể tách khỏi Nhân dân và bạn đọc.

Trong một xã hội trọng lời khen, đôi khi lạm dụng thái quá dưới tác dụng mạng xã hội đẩy thuyền, lời khen ấy vô tình làm thui chột tài năng chớm hé. Tôi nghĩ hai từ “nổi tiếng”, anh chị ấy, ông bà ấy, nhà văn nhà thơ ấy “nổi tiếng”, như một đẳng cấp cao hơn người khác, làm cho chủ nhân từ chỗ e thẹn đến đỏ mặt rồi đến tái mặt vì hai chữ “nổi tiếng”. Bác Hồ, bậc thầy của ngôn ngữ tiếng Việt, trong rất nhiều tác phẩm, Người cũng chỉ viết: “Ông Đỗ Phủ là người làm thơ Đường nổi tiếng ở Trung Quốc”. Nói vậy không phải Bác quá đề cao mình mà là đúng đắn và khiêm nhường trong sử dụng từ ngữ sao cho đúng, cho hợp, cho vừa phải. Phung phí quá lời khen một ai đó cũng làm đau lòng chữ. Bác Hồ dạy người viết báo, viết văn hay làm thơ cũng thế, viết cái gì, viết cho ai xem, viết như thế nào vẫn mãi là chân lí cho người mang nghiệp viết mà tôi luôn hằng học tập, noi theo.

Biên Hoà, tháng 5/2025
N.M.Đ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm