TIN TỨC

Vì yêu mến chữ yêu người yêu văn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-16 18:05:35
mail facebook google pos stwis
2338 lượt xem

Bút kí của LA GIANG (Nguyễn Minh Đức)

Nghề viết báo, viết văn, làm thơ suy cho cùng là nghề rất vất vả, khổ ải. Nhưng đổi lại, thật đỗi hạnh phúc và vinh quang, nhất là những khi “đứa con tinh thần” của mình “thai nghén, mang nặng đẻ đau” được chào đời một cách trọn vẹn, được đón nhận và sống lâu trong lòng bạn đọc, được bạn đọc mãi nhớ đến. Bởi vậy, thiết nghĩ khi ta yêu mến chữ không thể không yêu người yêu văn. Nhân kỉ niệm 100 năm Báo chí cách mạng Việt Nam, xin được bày tỏ đôi điều tri ân.

Đoạn trường yêu mến chữ

Tôi tập tọe viết báo khi đang học năm thứ hai của Trường Sĩ quan chính trị - Quân sự Bắc Ninh (nay là Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng). Hồi ấy, do đam mê đọc và nghe, chưa khi nào tôi có thể được đọc và nghe nhiều như thời kì ngồi trên ghế nhà trường. Nguồn đọc chủ yếu trên Báo Quân đội nhân dân (thời ấy 4 trang), Báo Nhân dân và một số loại báo khác, nhưng muốn đọc nhiều thì phải đến thư viện.

Ngay giữa năm học thứ nhất, tôi đã được “thẻ đặc cách” thư viện, đó là chính sách ưu tiên bạn đọc của Nhà trường. Thời ấy chưa có tivi, nguồn nghe chủ yếu qua radio trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, nhưng chỉ được nghe chương trình thời sự vào khung giờ nhất định và chương trình Phát thanh quân đội hằng tối vào lúc từ 21h đến 21h30. Các tối thứ 7, chủ nhật có chương trình văn nghệ tổng hợp. Tôi thích nhất chương trình vào khung giờ đó. Lịch thời gian của học viên sĩ quan như guồng máy, kín mít, giờ nào việc đó. Việc đọc và nghe là tranh thủ từng phút từng giờ, hễ rảnh rỗi lúc nào đọc lúc đó.

 Điều thú vị hơn là, ngay giữa năm học thứ nhất, tôi đặt bút tập viết bài báo nhỏ gọi là “hộp diêm”. Ban đầu tôi khá viết dài, câu văn loằng ngoằng như dây rau muống. Viết xong, nhờ anh Quý, Phó đại đội trưởng chính trị của tôi đọc, góp ý. Cũng phải mất vài ba lần, đến lúc anh có vẻ hơi cáu (vì anh công việc nhiều), nên tôi nản. Vài tuần sau, khi đọc được tác phẩm ưng ý ở báo, tôi lấy bút đếm số chữ, nghiên cứu cách viết của họ. Cách đặt “tít” thế nào? Mở đầu từ đâu? Vì sao mở đầu như thế? Dạng bài ấy là phản ảnh hay tin tức? Lấy nguồn tin ở đâu? Làm cách nào để có nguồn tin đáng tin cậy ấy...? Thế nào là dạng tin, bài phản ánh, bài phóng sự, phóng sự điều tra, thế nào là thể kí, kí chân dung, bút kí, hồi kí, kí văn học thì khác kí báo chí chỗ nào? Cách sáng tác một bài báo hoàn chỉnh theo từng thể loại. Hàng loạt câu hỏi cứ thế vang lên trong đầu. Sau vài ngày, tôi tìm đọc được nguồn tài liệu về viết báo của nhà báo Hữu Thọ, ông làm việc ở Báo Nhân dân và một số tài liệu liên quan khác. Tôi đọc kĩ, đánh dấu từng phần rồi viết thử.

Mỗi tối, sau điểm quân số, điểm danh xong, tranh thủ trước giờ buông màn mấy chục phút, tôi lọ mọ ra cột đèn (vì trong phòng đã tắt đèn) viết ra tờ giấy rồi viết lại vài lần. Khi viết được rồi, đợi ngày giao ban, tranh thủ lúc anh Quý vui vẻ, chuẩn bị chơi thể thao thì tôi ào đến dúi bài đưa anh và khoe: “Em viết được rồi. Anh đọc lại giúp ạ!”. Anh cầm lướt nhanh, chẳng nói gì. Bài chỉ 300 chữ thôi, đọc nhanh lắm. Buổi tối, anh cho gọi lên và góp ý chỉnh sửa 4 chữ. Anh nói em chịu khó rèn như vậy là tốt đấy. Mai này tốt nghiệp có thể tiếp tục học làm nhà báo được. Tôi sướng rơn trong lòng. Chiều chủ nhật được anh ra ngoài doanh trại, tôi đến bưu điện dùng hai con tem “tiêu chuẩn” gửi về Báo Quân đội nhân dân theo địa chỉ số 7, Phan Đình Phùng, Hà Nội.

Hơn tuần sau, đang lúc buổi học chiến thuật. Giờ giải lao, trực ban gọi toáng lên: “Bài của mày được đăng đây này! Thằng này giỏi quá hè!?”. Cả bọn xúm lại đòi khao. Vậy là hai bao thuốc lá Sông Cầu với ấm chè Thái Nguyên (lính lác với nhau gọi là “ấm chè” và “bao thóc”) coi như xong bài báo. Bài “hộp diêm” ấy đóng khung cẩn thận, ở góc nhỏ tờ báo nhưng trang trọng, tôi sướng cả tuần. Bài báo có tựa “Góc khuất ông Sáng”, viết về góc khuất ở ngã tư đường, nhà ông Sáng ở ngay đó. Ngày trước, nhà ông trồng hàng dâm bụt bao quanh. Chẳng hiểu thế nào ông mua gạch xây kín. Không xây chườm ra đường nhưng ngã tư ấy là một góc khuất “nguy hiểm”. Nhà ông thì đẹp mà ngã tư thì nhiều xe và người gặp nạn. Góp ý nhẹ nhàng và có chuyển biến sau một thời gian, bờ tường khuất lấp ngã tư ông Sáng đập và thay chấn song. Theo nhận xét của anh Quế, trưởng phòng bạn đọc Báo Quân đội nhân dân sau này, nói: “Cái “tit” của cậu khá ấn tượng. Cố gắng nhé”. Tôi biết, Trường Sĩ quan chính trị đã đào tạo nhiều cán bộ sĩ quan sau này tốt nghiệp ra làm báo. Ở đó cũng có những khối, lớp đào tạo báo chí chuyên nghiệp. Nhưng thời kì ấy tôi đang học sĩ quan, viết báo chẳng qua chỉ là “học mót, học lỏm” của các anh chị chứ có bài bản trường lớp gì đâu. Rất vui là có nhiều bài báo, bài thơ được sử dụng.

Khi ra trường làm cán bộ quản lí, tôi tranh thủ học thêm, rồi được đi bồi dưỡng lớp báo chí của Tổng cục Chính trị. Từ đó, tôi viết nhiều thể loại, cả viết báo, viết văn, làm thơ. Thực tiễn những năm quản lí ở đơn vị cơ sở tuy vất vả nhưng thật lí thú, sống gần anh em, được đi nhiều nơi, học tập và tìm hiểu, có nhiều tư liệu để viết. Tôi nhớ mãi bài kí: “Lại Yên như thế bao giờ mới yên?”, là bài viết về làng nghề của xã Lại Yên, thuộc Hoài Đức (Hà Tây cũ). Cũng là cách góp ý nhẹ nhàng về làng nghề nhưng sản xuất gây ô nhiễm. Người dân bức xúc cãi nhau, xung đột ý thức đến lợi ích, đời sống tinh thần căng thẳng. Bài báo ấy ra sau thời gian thì Hà Tây nhập về Hà Nội. Một cuộc chấn chỉnh về nhận thức, tư tưởng, hành động sau đó, xã Lại Yên đã yên trở lại, Thủ đô thêm góc văn minh.

Cũng là viết về làng nghề truyền thống, tôi về làng lụa Hà Đông viết bài “Nghìn năm vẫn tiếng thoi đưa”, khẳng định giá trị văn hoá truyền thống của một làng nghề lâu đời. Từ khi cụ Lã Thị Nga (vợ ông Cao Biền, thời Đường) từ Hàng Châu theo chồng sang thu phục quân Nam Chiếu, xây thành Đại La. Bà đến làng Vạn Phúc thấy dân tình khổ ải, bà truyền nghề trồng dâu nuôi tằm ươm tơ dệt lụa cho người dân, lập nên làng lụa. Mãi đến nay (năm 2010) kỉ niệm nghìn năm Thăng Long Hà Nội, nghề tầm tang hơn nghìn năm bên dòng Nhuệ giang thoi chẳng ngừng đưa, mang đến sản vật đặc sắc làm đẹp cho đời. Cũng chính mảnh đất này, Bác Hồ viết “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” tháng 12/1946. Những bài thơ, bài báo, truyện của tôi viết về mảnh đất và con người nơi đây được bạn đọc yêu mến.

Tôi viết khá nhiều tin, bài cộng tác với các báo Trung ương và địa phương, nhất là Báo Quân đội, Báo Nhân dân, Chương trình Phát thanh quân đội, Tạp chí Văn nghệ quân đội, Báo Văn nghệ, Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Báo Đồng Nai… về các lĩnh vực văn học, văn hoá, giá trị văn hoá truyền thống cần tiếp tục phát huy, lưu truyền. Mỗi bài tôi gắng rèn giũa chắt chiu, tiết chữ, nén thông tin đến độ tối đa nhất có thể, triệt tiêu những chữ thừa, không cần thiết cho cấu trúc câu, giúp người đọc dễ hiểu, phát thanh dễ nghe.

Sau này, khi chính thức trở thành nhà báo, tôi được phân công đảm nhiệm công tác biên tập, rồi làm Phó Trưởng ban Tạp chí Khoa học và chiến thuật, một tạp chí chuyên ngành của Trường Sĩ quan Lục quân 2 (Đại học Nguyễn Huệ), tôi càng nỗ lực rèn giũa mình nhiều hơn, trau chuốt từng con chữ, làm “bà đỡ” cho nhiều tác phẩm của cộng tác viên có được “sản phẩm” ưng ý. Gần 15 năm làm việc ở cơ quan quản lí báo chí, tôi ý thức rõ trách nhiệm biên tập báo, giúp cộng tác viên trưởng thành qua từng tác phẩm được sử dụng, đăng tải.

Công việc ở cơ quan quản lí báo chí, dù là cấp cơ sở nhưng khá căng thẳng vì áp lực chuyên môn, tiến độ và nhiều mặt khác. Tuy vậy, tôi vẫn thường xuyên viết, cộng tác với các báo, trong đó có Tạp chí Văn nghệ Đồng Nai, nơi tôi hiện đang là biên tập viên mảng văn xuôi. May mắn viết bài và được các nhà văn, nhà thơ, nhà quản lí văn hoá kì cựu yêu mến để mắt tới, giới thiệu, được Ban Chấp hành Hội đồng ý, trở thành hội viên hơn chục năm qua và là cộng tác viên của Tạp chí.

Yêu người yêu văn

Tôi yêu mến tất cả mọi người, trước hết là bạn bè đồng nghiệp viết. Ngay cả khi chưa yêu người, chưa được gặp tác giả lần nào nhưng được đọc tác phẩm của họ, tôi yêu văn họ trước rồi tìm hiểu và yêu mến con người họ sau. Mỗi khi đọc được tác phẩm tốt nào đó của họ, dù dưới bất kì sản phẩm nào, là bài báo, văn xuôi như truyện, bút kí, hồi kí, tản văn, những bài thơ hay, bình thơ, bình luận văn nghệ, nghe ca từ kết hợp âm nhạc… tôi cho rằng đó là những người có thực tài. Đọc họ, bản thân mình được học hỏi và lớn lên khá nhiều thứ, nhất là ngôn ngữ, giọng điệu, kĩ thuật…

Phải thật sự họ có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực đó, có nền tảng, phông văn hoá đủ rộng bao quát và chiều sâu lĩnh vực đó, có trái tim nhân văn và ý thức rõ tác dụng, giá trị về lĩnh vực đó, họ viết bằng cả trái tim mình, kiểm soát bài viết bằng tất cả lí trí theo những quy chuẩn chung kiến thức mà xã hội nghề nghiệp và bạn đọc yêu mến cần, tác phẩm họ viết ra được bạn đọc đón nhận, trở thành người bạn của bạn đọc, sống lâu trong đời sống lĩnh vực đó và lan toả trong xã hội. Đó là tác phẩm có giá trị và thành công. Điều này thì nhận định của nhà quý tộc người Pháp La Rochefoucault từ thế kỉ XVI đã đúng. Ông cho rằng: “Một quyển sách tốt là một người bạn hiền”. Hay nói cách khác, đọc một cuốn sách hay, bài viết tốt cũng như cách ta ngồi hầu chuyện với người tri kỉ vậy!

Theo tôi hiểu thì các báo, tạp chí trung ương đến địa phương, công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện theo tiêu chí, tôn chỉ mục đích là những vấn đề rất quan trọng. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của hội đồng biên tập, ban biên tập, những người chịu trách nhiệm chính, có tiếng nói quyết định cho một tờ báo, tạp chí ra đời đúng định hướng, đạt mục đích tuyên truyền, là cơ quan ngôn luận, tiếng nói của tổ chức Đảng hoặc từng ngành nghề riêng. Đồng thời, đội ngũ làm công chuyện “bếp núc” của toà soạn và trị sự, nhất là đội ngũ biên tập viên có vai trò không nhỏ. Tôi luôn quan niệm đội ngũ biên tập như những “người lính gác cổng” để báo, tạp chí luôn đúng định hướng, tôn chỉ mục đích, hay hơn, hấp dẫn hơn, thu hút bạn đọc ngày càng nhiều và tránh sai sót đáng tiếc. Đội ngũ biên tập viên chính là “bà đỡ”, là “thiên sứ tình yêu” cho những “đứa con” tinh thần, những tác phẩm có chất lượng ra đời. Do vậy, đội ngũ biên tập phải có thái độ làm việc nghiêm túc, bám sát tiêu chí, chọn lọc kỹ lưỡng, thẩm định khách quan, biên tập cẩn trọng, giữ được tiếng nói riêng của tác giả nhưng không để lệch chuẩn về tư tưởng và nghệ thuật.

Tuy vậy, nhân tố quyết định chất lượng tờ báo, tạp chí theo tôi chính là chất lượng sáng tạo tác phẩm, sáng tác của đội ngũ phóng viên, cộng tác viên của tờ báo, tạp chí ấy. Chuẩn mực thẩm mĩ tác phẩm bao gồm nội dung, hình thức và quan điểm sáng tác. Nội dung phải đảm bảo giá trị chân - thiện - mĩ, phản ánh sâu sắc hiện thực đời sống, nuôi dưỡng tâm hồn, lòng yêu nước và ý thức cộng đồng. Hình thức ngôn ngữ cần chắt lọc, nén chữ, biểu đạt phù hợp, sử dụng biểu tượng, hình ảnh giàu giá trị cảm xúc và nghệ thuật. Quan điểm sáng tác của văn nghệ sĩ không tách khỏi trách nhiệm xã hội để chạy theo thị hiếu thấp kém, bạo lực.

Đối với một truyện ngắn, tản văn, bút kí văn học, nhất là một truyện ngắn hay, đã có rất nhiều nhà lí luận phê bình, công trình khoa học, nhà văn nổi tiếng bàn tới. Tôi hiểu rằng truyện ngắn là một tự sự cỡ nhỏ, hấp dẫn, năng động. Để có truyện ngắn hay thì ngôn từ, cấu tứ, nhân vật, cốt truyện, tình huống, không khí truyện, cách kể, ngôi kể và chi tiết đắt. Chừng này yếu tố nếu đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu nó ở bài viết này không thể làm rõ được hết, nhưng cá nhân tôi thấy cả nội dung, hình thức nghệ thuật cũng như quan điểm sáng tác của nhà văn cần “chuyên nghiệp hoá” chính mình, không thể theo lối ngẫu hứng sáng tác được chăng hay chớ.

Chẳng hạn khi ta bàn về ngôi kể trong truyện ngắn, phải xuất phát từ điểm nhìn và ngôi kể vì có liên quan chặt chẽ với nhau. Có điểm nhìn trần thuật, nhìn đằng sau, đằng trước, nhìn bên trong, bên ngoài. Về ngôi kể của nhân vật người kể chuyện, bản thân nhà văn sẽ đứng trước mấy sự lựa chọn: nhân vật kể chuyện là “tôi” (tức là tôi đứng ra kể chuyện mình hoặc một nhân vật đứng ra kể chuyện xưng “tôi”) hay nhân vật đứng ở ngôi thứ ba để kể chuyện. “Tôi” ở đây không phải là nhà văn mà là nhân vật trong câu chuyện kể. Phân biệt được điểm nhìn và ngôi kể, nhà văn sẽ tránh được việc lẫn lộn về lời văn của mình với nhân vật, không làm thay, nói thay nhân vật và không lẫn lộn về ngôi kể trong lúc kể một câu chuyện, dễ làm nhiễu loạn thông tin, bạn đọc nhìn vào văn bản như ma trận chẳng biết đâu mà lần.

Tương tự đối với thơ cũng vậy, thơ phát tiết từ cảm xúc hiện thực đời sống, có tính mãnh liệt, siêu thăng và khái quát cao. Tôi hiểu thơ thì phải có tư tưởng, hình ảnh sáng tạo, ngôn ngữ cô đọng, tránh dễ dãi, cũ kĩ. Nhà thơ Hoài Thanh từng nói “Từ bao giờ đến bây giờ. Từ Homero đến Kinh thi, đến ca dao Việt Nam, thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó đã ra đời giữa những vui buồn của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế”. Đến nay, loài người vẫn chưa thôi đi tìm khái niệm thẩm mĩ cho riêng mình. Theo tôi từ ca dao, dân ca Việt Nam phát triển đến thơ hiện nay đã từng trải nhiều giai đoạn tương ứng với những hình thức thể hiện vô cùng phong phú. Từ lục bát đến thơ Đường đến thơ tự do, từ niêm luật, vần luật đến phá cách. Việc lựa chọn hình thức thể hiện nào phụ thuộc vào cảm tác thi sĩ. Nhưng tôi thiển nghĩ nhất thiết nếu đã dùng niêm luật, vần luật thì phải dùng sao cho đúng. Chẳng hạn khi làm thơ lục bát, ngoài yếu tố câu lục (6), câu bát (8) hay trên 6 dưới 8 còn phải đặc biệt chú ý đến vần. Trong gieo vần thì phải chú ý cả vần chân và vần lưng đều là vần bằng, bắt buộc. Tối kị việc gieo vần mà ta không để nó theo vần, kiểu như câu trên (6) là vần “ồng” mà câu dưới “8” là vần “ơm” được, vì đọc vào văn bản có cảm giác tức cười, như đang mắc phải xương cá ở ngang cổ họng vậy. Thể thơ lục, bát ta chưa nói đến Nguyễn Du, Nguyễn Bính và nhiều bậc kì tài khác, chỉ cần đọc “Sông Lấp” của cụ Trần Tế Xương: “Sông kia rày đã nên đồng/ Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”. Ngoài việc gieo vần đúng và hay, phân tích kĩ chữ “Vẳng nghe” của cụ trong bài Sông lấp cũng đủ thấy dùng từ hết sức đắt, không ai qua được. Còn hiểu trong “Bóng chữ” của nhà thơ lê Đạt thì cái bóng ấy là đâu là như thế nào cũng viết nên được một bài dài.

Đáng tiếc là có không ít ý kiến cho rằng: “Viết sao là quyền tác giả. Sáng tạo  là của cá nhân, phải cá tính! Cứ gửi đến toà soạn, dùng được thì dùng, không được thì bỏ, không sao”. Theo tôi, như thế là rất lãng phí, thậm chí là quá giản đơn và có phần thiếu trách nhiệm, chưa nghiêm túc với bản thân. Tôi luôn coi trọng sự góp ý phê bình của bạn đọc để kiểm nghiệm, điều chỉnh sao cho phù hợp, đúng tôn chỉ và gần gũi hơn với công chúng mà vẫn giữ được tính đặc thù. Khi biên tập thì không dừng lại ở việc “chọn hay bỏ”, mà là quá trình đối thoại, đồng hành với người sáng tạo và tiếp nhận để đồng sáng tạo một không gian văn hóa tử tế, thân thiện. Đáng tiếc là có những tác giả khi được góp ý mặt kĩ thuật hoặc nội dung tác phẩm dễ dẫn đến xung đột, bằng mặt mà không bằng lòng. Như trên đã nói, cũng giống như người phụ nữ, đã thai nghén thì phải nỗ lực và quyết định sinh con. Người biên tập chỉ làm vai trò “bà đỡ” thôi, không thể can thiệp kiểu “dùng dao mổ bụng lấy con” như bệnh viện được. Do vậy, nhất thiết phải rất quý trọng, nỗ lực vì tác phẩm của mình mà không bảo thủ mãi. Chỉ có Hi Mã lạp Sơn (Himalaya) mới là “Ta là Một, là Riêng, là thứ Nhất” thôi chứ văn nghệ sĩ không thể tách khỏi Nhân dân và bạn đọc.

Trong một xã hội trọng lời khen, đôi khi lạm dụng thái quá dưới tác dụng mạng xã hội đẩy thuyền, lời khen ấy vô tình làm thui chột tài năng chớm hé. Tôi nghĩ hai từ “nổi tiếng”, anh chị ấy, ông bà ấy, nhà văn nhà thơ ấy “nổi tiếng”, như một đẳng cấp cao hơn người khác, làm cho chủ nhân từ chỗ e thẹn đến đỏ mặt rồi đến tái mặt vì hai chữ “nổi tiếng”. Bác Hồ, bậc thầy của ngôn ngữ tiếng Việt, trong rất nhiều tác phẩm, Người cũng chỉ viết: “Ông Đỗ Phủ là người làm thơ Đường nổi tiếng ở Trung Quốc”. Nói vậy không phải Bác quá đề cao mình mà là đúng đắn và khiêm nhường trong sử dụng từ ngữ sao cho đúng, cho hợp, cho vừa phải. Phung phí quá lời khen một ai đó cũng làm đau lòng chữ. Bác Hồ dạy người viết báo, viết văn hay làm thơ cũng thế, viết cái gì, viết cho ai xem, viết như thế nào vẫn mãi là chân lí cho người mang nghiệp viết mà tôi luôn hằng học tập, noi theo.

Biên Hoà, tháng 5/2025
N.M.Đ

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm