TIN TỨC

Trước bóng tiền nhân – Ký của Nguyên Hùng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-04 17:44:07
mail facebook google pos stwis
1148 lượt xem

NGUYÊN HÙNG/ Tạp chí Sông Lam
 

TRƯỚC BÓNG TIỀN NHÂN


Gió từ núi Hồng Lĩnh thổi qua dải Thiên Nhẫn, mang theo mùi hương hoa rừng và bụi thời gian. Cái nắng đầu hạ như vừa đủ để hong khô những bước chân lữ thứ, lại cũng vừa đủ để sưởi ấm cõi lòng – khi chúng tôi, những người bạn văn đến từ nhiều miền đất nước, cùng nhau dừng lại bên những dấu chân xưa của lịch sử.

Chúng tôi đã đến đây – bên Hồ Thành lặng soi trời mây Nam Kim – với tâm thế của những người đi tìm sự tĩnh tại, tìm một khoảng lùi để soi chiếu lại chính mình giữa dòng đời cuộn chảy. Một hành trình tưởng như chỉ là chuỗi điểm đến văn hóa – lịch sử trong khuôn khổ một trại sáng tác, lại vô tình trở thành chuyến đi vào cõi sâu tâm tưởng.

Bởi khi đứng trước những di tích thiêng liêng, nơi từng in dấu chân của các bậc tiền nhân gánh vác sơn hà, tôi không thể không tự vấn: Ta là ai giữa thời đại hôm nay? Ta có học được gì từ những bóng hình đã khuất – những con người không chỉ là danh nhân của một vùng đất mà còn là nhân cách lớn của dân tộc?


La Sơn Phu Tử – cái lưng thẳng của kẻ sĩ giữa thời binh lửa

Tôi không thể quên cảm xúc khi đứng trước khu mộ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, giữa sườn núi cao, phía trước mặt là Hồ Thành thơ mộng, nơi rất thoáng đãng nhưng không khí dường như đặc quánh lại bởi sự lặng im uy nghiêm. Nguyễn Thiếp – một kẻ sĩ đúng nghĩa – người từng từ quan, sống ẩn dật trên núi Bùi Phong, lấy sách làm bạn, lấy dân làm gốc. Nhưng cũng chính ông, ba lần được Quang Trung thỉnh mời, đã rời chốn ở ẩn để góp trí tuệ giúp vua, trong những giai đoạn quan trọng của quốc gia. Chính ông đã hiến kế giúp Quang Trung đại thắng quân Thanh đầu xuân Kỷ Dậu (1789) và đã dâng lên vị anh hùng áo vải một bản tấu bàn về 3 vấn đề cốt yếu trong phép trị nước: "Quân đức" - “Dân tâm" - "Học pháp" nhằm khuyên vua nên theo đạo Thánh hiền, nên dùng nhân chính để thu phục lòng người và phải chăm lo việc giáo dục…

Ở thời đại ấy, ra làm quan không phải để hưởng bổng lộc, mà là để hiến dâng. Vào triều không phải vì danh tiếng, mà vì trách nhiệm. Nguyễn Thiếp hiểu rằng thời thế cần ông – và ông không thể quay lưng. Cũng như khi đất nước không còn nguy nan, ông lại lui về, để giữ mình thanh bạch, sống đúng với tinh thần "an bần lạc đạo".

Triết lý “Kẻ sĩ sống chết vì đạo nghĩa” của ông không chỉ là lời nhắc nhở gửi tới vua quan đương triều, mà là lời cảnh tỉnh muôn đời cho những người có học, có chữ, có lương tri.

Chúng tôi cúi đầu trước mộ cụ Nguyễn Thiếp, không chỉ để tỏ lòng thành kính mà còn để nhắc nhớ nhau rằng: làm người viết, đôi khi cũng cần dám “lánh mình” như La Sơn Phu Tử, nhưng là để giữ vững tiết tháo, để giữ sự trong sáng cho con chữ, giữ trách nhiệm với thời cuộc. Có lẽ, đó là cách mà hậu thế tri ân tốt nhất – bằng sự tiếp nối và ý thức, không chỉ bằng vòng hoa hay nén hương.

Và tôi tự hỏi: hôm nay, chúng ta – những người cầm bút – đã từng khi nào sống trọn với cái “lưng thẳng” như thế chưa? Chữ nghĩa viết ra có hướng về sự thật và cái đẹp không? Hay đôi khi lại cúi xuống hoặc lách nghiêng trước những phù phiếm tạm bợ?

Nguyễn Thiếp không để lại nhiều sách vở, nhưng để lại một di sản nhân cách. Đó chính là thứ chúng tôi cần học nhất – học để viết, học để sống.

Đoàn nhà văn trước phần mộ La Sơn Phu Tử.

Bóng dáng Người – Chủ tịch Hồ Chí Minh trong không gian quê hương

Và rồi chúng tôi đến Kim Liên – nơi Bác Hồ sinh ra, nơi cái nôi của một vĩ nhân. Hai bờ quê nội – quê ngoại, xanh rợp tre trúc, rợp bóng ký ức. Trên con đường nhỏ, tôi hình dung bước chân Bác thuở thiếu thời, những năm tháng đầu tiên nuôi mầm lý tưởng cho cả một cuộc đời dấn thân vì dân tộc.

Không nơi đâu như ở đây, sự giản dị lại khiến lòng người chùng xuống. Một chiếc giường tre, vài vật dụng mộc mạc, một khung cửa nhỏ nhìn ra sân đầy nắng – tất cả khiến tôi nghẹn lại. Cuộc đời của một lãnh tụ bắt đầu từ chính nơi lam lũ này. Không ngai vàng, không gấm vóc, chỉ có lý tưởng lớn, có tình thương sâu và trí tuệ hiếm có. Viết về Bác, thật khó – bởi không phải chỉ viết về một con người, mà là viết về một biểu tượng – của đạo đức, của dấn thân, và của nhân ái.

Điều khiến tôi xúc động nhất là khi ngẫm ngợi, từ chính nơi mảnh vườn này, Người đã ra đi tìm đường cứu nước. Bàn chân guốc mộc năm nào đã bước ra biển lớn, mở đầu một hành trình vĩ đại – không phải chỉ là cuộc ra đi của một cá nhân, mà là sự thức dậy của cả một dân tộc. Sau hơn nửa thế kỷ xa quê, ngày 16 tháng 6 năm 1957, Bác Hồ mới có dịp trở về thăm quê hương Nghệ An – một chuyến về thăm không chỉ nối lại mạch nguồn ký ức mà còn làm ấm lòng bao người dân xứ Nghệ.

Tôi đã đứng lặng giữa vườn quê Kim Liên, giữa hương cau, hương bưởi ngan ngát và tiếng chim chiều xa vắng. Có một điều rất lạ: dù bao lần đọc tiểu sử, xem phim tài liệu, tôi vẫn thấy lòng mình như mềm ra, xúc động như lần đầu biết đến một con người từng cất tiếng khóc chào đời ở đây, rồi cả cuộc đời chỉ sống cho người khác. Cả cuộc đời Bác, như ai đó đã nói, có thể gói gọn trong một chữ “vì” – vì dân, vì nước, vì nhân loại khốn cùng. Và tôi, một người viết bé nhỏ, đã tự hỏi mình: trong từng con chữ, liệu mình có chắt lọc được chút tinh hoa từ phẩm chất ấy?

Đứng ở đây, tôi không chỉ thấy ngôi nhà tranh đơn sơ mà như thấy cả những năm tháng cơ cực, thấy cả ý chí kiên cường ẩn trong dáng vóc nhỏ bé ấy. Từ Kim Liên, Người đã đi tới năm châu, mang theo hồn dân tộc. Để rồi khi trở lại, không phải là trở về của một người con xa xứ, mà là sự hồi cố của một vị cha già dẫn dắt cả dân tộc qua bể dâu thời cuộc.

Người sống vì dân, nghĩ vì nước, viết vì nhân loại, và cuối cùng ra đi trong căn nhà sàn mộc mạc, tài sản chỉ là vài bộ quần áo cũ và một chiếc tủ sách. Nhưng Người để lại một gia tài văn hóa đồ sộ, với hàng ngàn bài viết, bài báo, và những bức thư thấm đẫm lòng yêu nước, yêu dân.

Chúng tôi, những người viết hôm nay, dẫu viết về bất kỳ đề tài nào – lịch sử, thiếu nhi, thơ ca hay đời sống – vẫn luôn phải soi chiếu mình qua tấm gương đạo đức và nhân văn của Người. Viết – không chỉ là để in ra giấy, mà còn là một hành vi đạo đức. Viết – để lan tỏa tử tế, khơi dậy lẽ phải, gìn giữ nhân cách.

Các nhà văn trước nhà Bác Hồ tại Kim Liên, Nam Đàn.
 

Nguyễn Du – mắt nhìn thấu nghìn năm nhân thế

Tôi đã từng đọc “Truyện Kiều” từ thuở học trò, từng thuộc lòng những câu thơ thấm đẫm thân phận con người và tấm lòng thế sự. Nhưng chỉ khi đứng lặng trước tượng Nguyễn Du trong khu tưởng niệm ở Tiên Điền, trong nắng và gió của một buổi xế trưa, tôi mới thật sự cảm được thế nào là nỗi cô đơn của kẻ thức thời giữa cuộc thế đổi thay.

Nguyễn Du, một người đi qua nhiều triều đại, từng bị dằn vặt giữa trung quân và lòng dân, giữa chữ “trung” và chữ “hiếu”, giữa cái sống và cái viết. Cuộc đời ông là minh chứng cho một điều: kẻ sĩ thực thụ không sống dễ dãi. Họ bị giằng xé, họ đau, nhưng họ viết – và từ nỗi đau ấy, họ để lại cho nhân gian một “Truyện Kiều” thấm đẫm nhân đạo, một di sản để hậu thế soi mình. Trước tượng ông, tôi thầm nghĩ: làm người viết hôm nay, nếu không đủ nhẫn nại, không đủ tỉnh táo và trắc ẩn để hiểu đời – thì sao có thể viết ra được điều gì chân thực?

Nguyễn Du không chỉ là một nhà thơ, mà là một nhà nhân học. Ông viết về thân phận, về nỗi bất công, về sự giằng xé giữa đạo lý và định mệnh. Mỗi câu thơ ông viết ra đều như một tiếng thở dài của nhân thế, nhưng cũng là một sự cứu rỗi bằng cái đẹp.

Có thể nói, Nguyễn Du là một trong những người đầu tiên dám nói lên cái đau của con người, trong một thời đại mà lễ giáo đè nặng và chiến tranh vẫn âm ỉ cháy. Ông viết bằng nước mắt, bằng những đêm trăn trở – để lại một áng văn không chỉ đẹp, mà còn có tính giải phóng.

Người viết hôm nay, liệu còn bao nhiêu người dám đối diện với cái bi kịch của thời đại mình? Dám chạm đến sự thật dù gai góc, phức tạp? Dám sống và viết như Nguyễn Du – đặt "tâm" làm gốc?

Các nhà văn trước tượng Nguyễn Du tại Khu tưởng niệm Đại thi hào.
 

Nguyễn Công Trứ – bậc sĩ phu tài tử, giữa hai bờ đời – thơ

Và rồi, chúng tôi dừng chân tại nơi yên nghỉ của Nguyễn Công Trứ – một nhân cách độc đáo bậc nhất trong lịch sử Việt. Ông là một đại quan, nhưng cũng là một thi sĩ lãng tử. Lúc làm Tổng đốc, ông uy nghiêm, hết lòng vì dân. Lúc bị giáng chức, về vườn đi cày, ông vẫn thản nhiên ngâm thơ, đánh đàn. Dù ở đâu, ông vẫn là chính mình – một kẻ sĩ đúng nghĩa.

Tôi yêu câu thơ ông viết: “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”. Danh – ở đây không phải là danh vọng, mà là dấu ấn. Người cầm bút cũng thế. Viết không phải để nổi tiếng, mà để để lại cái gì đó với đời. Một câu thơ làm ấm lòng ai đó, một trang văn thức tỉnh một tâm hồn, một bài báo lay động một nhận thức – đó mới là “danh” chân chính.

Nguyễn Công Trứ dạy ta rằng, làm quan hay làm thơ, đều cần khí phách. Và khí phách ấy – đôi khi – nằm trong sự lặng im không đầu hàng, trong sự tự tại giữa vòng danh lợi, trong nụ cười khi đối diện với nghịch cảnh.

Trước bàn thờ ông, chúng tôi cúi đầu tri ân một kẻ sĩ đã đi hết một đời trọn vẹn – dẫu thăng trầm, vẫn giữ được cái “tôi” đậm đà cốt cách. Có lẽ, đó là điều người viết hôm nay cần học: sống một đời không uổng – không cúi đầu trước những hào nhoáng giả trá, không ngại khó trong hành trình đi tìm chữ thật, chữ đẹp.
 

Thay lời kết

Chúng tôi đã tạm xa những miền đất thiêng trong chuyến đi cuối tháng Tư nhiều kỷ niệm, nhưng bóng dáng của Nguyễn Thiếp, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ và Chủ tịch Hồ Chí Minh thì vẫn như đang bước song song bên cạnh. Mỗi người một thời đại, một hoàn cảnh, nhưng đều có chung một điều: sống trọn vẹn với niềm tin, bằng tình yêu nước thương dân và để lại dấu ấn bằng tư cách kẻ sĩ.

Tôi trở về với trang viết, như vừa bước ra khỏi một cuộc đối thoại trầm sâu. Và tôi biết rằng, hành trình cầm bút phía trước sẽ không còn là việc "viết cho hay", mà là viết để giữ lửa, để trả ơn, để tiếp nối. Bởi trong lòng tôi – và tôi tin cả trong lòng những người bạn văn của mình – đã thấp thoáng ánh mắt các bậc tiền nhân, đang nhìn về phía chúng ta.
 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm