TIN TỨC

Trước bóng tiền nhân – Ký của Nguyên Hùng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-04 17:44:07
mail facebook google pos stwis
1297 lượt xem

NGUYÊN HÙNG/ Tạp chí Sông Lam
 

TRƯỚC BÓNG TIỀN NHÂN


Gió từ núi Hồng Lĩnh thổi qua dải Thiên Nhẫn, mang theo mùi hương hoa rừng và bụi thời gian. Cái nắng đầu hạ như vừa đủ để hong khô những bước chân lữ thứ, lại cũng vừa đủ để sưởi ấm cõi lòng – khi chúng tôi, những người bạn văn đến từ nhiều miền đất nước, cùng nhau dừng lại bên những dấu chân xưa của lịch sử.

Chúng tôi đã đến đây – bên Hồ Thành lặng soi trời mây Nam Kim – với tâm thế của những người đi tìm sự tĩnh tại, tìm một khoảng lùi để soi chiếu lại chính mình giữa dòng đời cuộn chảy. Một hành trình tưởng như chỉ là chuỗi điểm đến văn hóa – lịch sử trong khuôn khổ một trại sáng tác, lại vô tình trở thành chuyến đi vào cõi sâu tâm tưởng.

Bởi khi đứng trước những di tích thiêng liêng, nơi từng in dấu chân của các bậc tiền nhân gánh vác sơn hà, tôi không thể không tự vấn: Ta là ai giữa thời đại hôm nay? Ta có học được gì từ những bóng hình đã khuất – những con người không chỉ là danh nhân của một vùng đất mà còn là nhân cách lớn của dân tộc?


La Sơn Phu Tử – cái lưng thẳng của kẻ sĩ giữa thời binh lửa

Tôi không thể quên cảm xúc khi đứng trước khu mộ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, giữa sườn núi cao, phía trước mặt là Hồ Thành thơ mộng, nơi rất thoáng đãng nhưng không khí dường như đặc quánh lại bởi sự lặng im uy nghiêm. Nguyễn Thiếp – một kẻ sĩ đúng nghĩa – người từng từ quan, sống ẩn dật trên núi Bùi Phong, lấy sách làm bạn, lấy dân làm gốc. Nhưng cũng chính ông, ba lần được Quang Trung thỉnh mời, đã rời chốn ở ẩn để góp trí tuệ giúp vua, trong những giai đoạn quan trọng của quốc gia. Chính ông đã hiến kế giúp Quang Trung đại thắng quân Thanh đầu xuân Kỷ Dậu (1789) và đã dâng lên vị anh hùng áo vải một bản tấu bàn về 3 vấn đề cốt yếu trong phép trị nước: "Quân đức" - “Dân tâm" - "Học pháp" nhằm khuyên vua nên theo đạo Thánh hiền, nên dùng nhân chính để thu phục lòng người và phải chăm lo việc giáo dục…

Ở thời đại ấy, ra làm quan không phải để hưởng bổng lộc, mà là để hiến dâng. Vào triều không phải vì danh tiếng, mà vì trách nhiệm. Nguyễn Thiếp hiểu rằng thời thế cần ông – và ông không thể quay lưng. Cũng như khi đất nước không còn nguy nan, ông lại lui về, để giữ mình thanh bạch, sống đúng với tinh thần "an bần lạc đạo".

Triết lý “Kẻ sĩ sống chết vì đạo nghĩa” của ông không chỉ là lời nhắc nhở gửi tới vua quan đương triều, mà là lời cảnh tỉnh muôn đời cho những người có học, có chữ, có lương tri.

Chúng tôi cúi đầu trước mộ cụ Nguyễn Thiếp, không chỉ để tỏ lòng thành kính mà còn để nhắc nhớ nhau rằng: làm người viết, đôi khi cũng cần dám “lánh mình” như La Sơn Phu Tử, nhưng là để giữ vững tiết tháo, để giữ sự trong sáng cho con chữ, giữ trách nhiệm với thời cuộc. Có lẽ, đó là cách mà hậu thế tri ân tốt nhất – bằng sự tiếp nối và ý thức, không chỉ bằng vòng hoa hay nén hương.

Và tôi tự hỏi: hôm nay, chúng ta – những người cầm bút – đã từng khi nào sống trọn với cái “lưng thẳng” như thế chưa? Chữ nghĩa viết ra có hướng về sự thật và cái đẹp không? Hay đôi khi lại cúi xuống hoặc lách nghiêng trước những phù phiếm tạm bợ?

Nguyễn Thiếp không để lại nhiều sách vở, nhưng để lại một di sản nhân cách. Đó chính là thứ chúng tôi cần học nhất – học để viết, học để sống.

Đoàn nhà văn trước phần mộ La Sơn Phu Tử.

Bóng dáng Người – Chủ tịch Hồ Chí Minh trong không gian quê hương

Và rồi chúng tôi đến Kim Liên – nơi Bác Hồ sinh ra, nơi cái nôi của một vĩ nhân. Hai bờ quê nội – quê ngoại, xanh rợp tre trúc, rợp bóng ký ức. Trên con đường nhỏ, tôi hình dung bước chân Bác thuở thiếu thời, những năm tháng đầu tiên nuôi mầm lý tưởng cho cả một cuộc đời dấn thân vì dân tộc.

Không nơi đâu như ở đây, sự giản dị lại khiến lòng người chùng xuống. Một chiếc giường tre, vài vật dụng mộc mạc, một khung cửa nhỏ nhìn ra sân đầy nắng – tất cả khiến tôi nghẹn lại. Cuộc đời của một lãnh tụ bắt đầu từ chính nơi lam lũ này. Không ngai vàng, không gấm vóc, chỉ có lý tưởng lớn, có tình thương sâu và trí tuệ hiếm có. Viết về Bác, thật khó – bởi không phải chỉ viết về một con người, mà là viết về một biểu tượng – của đạo đức, của dấn thân, và của nhân ái.

Điều khiến tôi xúc động nhất là khi ngẫm ngợi, từ chính nơi mảnh vườn này, Người đã ra đi tìm đường cứu nước. Bàn chân guốc mộc năm nào đã bước ra biển lớn, mở đầu một hành trình vĩ đại – không phải chỉ là cuộc ra đi của một cá nhân, mà là sự thức dậy của cả một dân tộc. Sau hơn nửa thế kỷ xa quê, ngày 16 tháng 6 năm 1957, Bác Hồ mới có dịp trở về thăm quê hương Nghệ An – một chuyến về thăm không chỉ nối lại mạch nguồn ký ức mà còn làm ấm lòng bao người dân xứ Nghệ.

Tôi đã đứng lặng giữa vườn quê Kim Liên, giữa hương cau, hương bưởi ngan ngát và tiếng chim chiều xa vắng. Có một điều rất lạ: dù bao lần đọc tiểu sử, xem phim tài liệu, tôi vẫn thấy lòng mình như mềm ra, xúc động như lần đầu biết đến một con người từng cất tiếng khóc chào đời ở đây, rồi cả cuộc đời chỉ sống cho người khác. Cả cuộc đời Bác, như ai đó đã nói, có thể gói gọn trong một chữ “vì” – vì dân, vì nước, vì nhân loại khốn cùng. Và tôi, một người viết bé nhỏ, đã tự hỏi mình: trong từng con chữ, liệu mình có chắt lọc được chút tinh hoa từ phẩm chất ấy?

Đứng ở đây, tôi không chỉ thấy ngôi nhà tranh đơn sơ mà như thấy cả những năm tháng cơ cực, thấy cả ý chí kiên cường ẩn trong dáng vóc nhỏ bé ấy. Từ Kim Liên, Người đã đi tới năm châu, mang theo hồn dân tộc. Để rồi khi trở lại, không phải là trở về của một người con xa xứ, mà là sự hồi cố của một vị cha già dẫn dắt cả dân tộc qua bể dâu thời cuộc.

Người sống vì dân, nghĩ vì nước, viết vì nhân loại, và cuối cùng ra đi trong căn nhà sàn mộc mạc, tài sản chỉ là vài bộ quần áo cũ và một chiếc tủ sách. Nhưng Người để lại một gia tài văn hóa đồ sộ, với hàng ngàn bài viết, bài báo, và những bức thư thấm đẫm lòng yêu nước, yêu dân.

Chúng tôi, những người viết hôm nay, dẫu viết về bất kỳ đề tài nào – lịch sử, thiếu nhi, thơ ca hay đời sống – vẫn luôn phải soi chiếu mình qua tấm gương đạo đức và nhân văn của Người. Viết – không chỉ là để in ra giấy, mà còn là một hành vi đạo đức. Viết – để lan tỏa tử tế, khơi dậy lẽ phải, gìn giữ nhân cách.

Các nhà văn trước nhà Bác Hồ tại Kim Liên, Nam Đàn.
 

Nguyễn Du – mắt nhìn thấu nghìn năm nhân thế

Tôi đã từng đọc “Truyện Kiều” từ thuở học trò, từng thuộc lòng những câu thơ thấm đẫm thân phận con người và tấm lòng thế sự. Nhưng chỉ khi đứng lặng trước tượng Nguyễn Du trong khu tưởng niệm ở Tiên Điền, trong nắng và gió của một buổi xế trưa, tôi mới thật sự cảm được thế nào là nỗi cô đơn của kẻ thức thời giữa cuộc thế đổi thay.

Nguyễn Du, một người đi qua nhiều triều đại, từng bị dằn vặt giữa trung quân và lòng dân, giữa chữ “trung” và chữ “hiếu”, giữa cái sống và cái viết. Cuộc đời ông là minh chứng cho một điều: kẻ sĩ thực thụ không sống dễ dãi. Họ bị giằng xé, họ đau, nhưng họ viết – và từ nỗi đau ấy, họ để lại cho nhân gian một “Truyện Kiều” thấm đẫm nhân đạo, một di sản để hậu thế soi mình. Trước tượng ông, tôi thầm nghĩ: làm người viết hôm nay, nếu không đủ nhẫn nại, không đủ tỉnh táo và trắc ẩn để hiểu đời – thì sao có thể viết ra được điều gì chân thực?

Nguyễn Du không chỉ là một nhà thơ, mà là một nhà nhân học. Ông viết về thân phận, về nỗi bất công, về sự giằng xé giữa đạo lý và định mệnh. Mỗi câu thơ ông viết ra đều như một tiếng thở dài của nhân thế, nhưng cũng là một sự cứu rỗi bằng cái đẹp.

Có thể nói, Nguyễn Du là một trong những người đầu tiên dám nói lên cái đau của con người, trong một thời đại mà lễ giáo đè nặng và chiến tranh vẫn âm ỉ cháy. Ông viết bằng nước mắt, bằng những đêm trăn trở – để lại một áng văn không chỉ đẹp, mà còn có tính giải phóng.

Người viết hôm nay, liệu còn bao nhiêu người dám đối diện với cái bi kịch của thời đại mình? Dám chạm đến sự thật dù gai góc, phức tạp? Dám sống và viết như Nguyễn Du – đặt "tâm" làm gốc?

Các nhà văn trước tượng Nguyễn Du tại Khu tưởng niệm Đại thi hào.
 

Nguyễn Công Trứ – bậc sĩ phu tài tử, giữa hai bờ đời – thơ

Và rồi, chúng tôi dừng chân tại nơi yên nghỉ của Nguyễn Công Trứ – một nhân cách độc đáo bậc nhất trong lịch sử Việt. Ông là một đại quan, nhưng cũng là một thi sĩ lãng tử. Lúc làm Tổng đốc, ông uy nghiêm, hết lòng vì dân. Lúc bị giáng chức, về vườn đi cày, ông vẫn thản nhiên ngâm thơ, đánh đàn. Dù ở đâu, ông vẫn là chính mình – một kẻ sĩ đúng nghĩa.

Tôi yêu câu thơ ông viết: “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”. Danh – ở đây không phải là danh vọng, mà là dấu ấn. Người cầm bút cũng thế. Viết không phải để nổi tiếng, mà để để lại cái gì đó với đời. Một câu thơ làm ấm lòng ai đó, một trang văn thức tỉnh một tâm hồn, một bài báo lay động một nhận thức – đó mới là “danh” chân chính.

Nguyễn Công Trứ dạy ta rằng, làm quan hay làm thơ, đều cần khí phách. Và khí phách ấy – đôi khi – nằm trong sự lặng im không đầu hàng, trong sự tự tại giữa vòng danh lợi, trong nụ cười khi đối diện với nghịch cảnh.

Trước bàn thờ ông, chúng tôi cúi đầu tri ân một kẻ sĩ đã đi hết một đời trọn vẹn – dẫu thăng trầm, vẫn giữ được cái “tôi” đậm đà cốt cách. Có lẽ, đó là điều người viết hôm nay cần học: sống một đời không uổng – không cúi đầu trước những hào nhoáng giả trá, không ngại khó trong hành trình đi tìm chữ thật, chữ đẹp.
 

Thay lời kết

Chúng tôi đã tạm xa những miền đất thiêng trong chuyến đi cuối tháng Tư nhiều kỷ niệm, nhưng bóng dáng của Nguyễn Thiếp, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ và Chủ tịch Hồ Chí Minh thì vẫn như đang bước song song bên cạnh. Mỗi người một thời đại, một hoàn cảnh, nhưng đều có chung một điều: sống trọn vẹn với niềm tin, bằng tình yêu nước thương dân và để lại dấu ấn bằng tư cách kẻ sĩ.

Tôi trở về với trang viết, như vừa bước ra khỏi một cuộc đối thoại trầm sâu. Và tôi biết rằng, hành trình cầm bút phía trước sẽ không còn là việc "viết cho hay", mà là viết để giữ lửa, để trả ơn, để tiếp nối. Bởi trong lòng tôi – và tôi tin cả trong lòng những người bạn văn của mình – đã thấp thoáng ánh mắt các bậc tiền nhân, đang nhìn về phía chúng ta.
 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hà Nội và nỗi niềm hoa sữa – Tản văn Đào Thị Thu Hiền
Nhớ đến những mùa hoa Hà Nội, những người yêu mảnh đất này không thể không nhắc đến mùa hoa sữa. Đó là một mùa hoa nhưng cũng có thể gọi về cả mùa thơ, mùa nhạc khiến cho đất trời thủ đô khoảnh khắc cuối thu chầm chậm sang đông bỗng trở nên rạo rực, thao thức, nồng nàn với những vấn vương bởi cái hương thơm ngọt ngào, đằm sâu, quyến rũ đang dịu dàng gửi vào trong gió. Mùi hương ấy làm cho bao bước chân qua không khỏi ngập ngừng như thể đang bị níu lại. Có lẽ vì thế mà loài hoa này, từ lâu, đã được xem là tình yêu và nỗi nhớ của người Hà Nội.
Xem thêm
Kiến nghị lấy ngày 27/7 làm ngày Quốc giỗ
Tôi quan niệm rằng sự hy sinh của những người con đất Việt không bị giới hạn bởi một thời đại, một cuộc chiến tranh hay một thế hệ. Tất cả những người đã hy sinh vì độc lập, tự do và sự trường tồn của đất nước đều xứng đáng được các thế hệ hôm nay và mai sau tưởng nhớ. Bởi vậy, khi bàn về Ngày Quốc giỗ, cần phân biệt rõ giữa việc lựa chọn một ngày tưởng niệm chung và việc bảo đảm sự tri ân đối với từng đối tượng, từng giai đoạn lịch sử. Hai việc này không nhất thiết loại trừ nhau.
Xem thêm
Những người đi qua Trường Sơn – 55 năm một lời hẹn
Bài đăng Đặc san của Hội Nhà báo TPHCM chào mừng Đại hội Hội Nhà báo TPHCM
Xem thêm
Về bến Lộc An
Bài đăng báo Cựu chiến binh Việt Nam
Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm