TIN TỨC

Trước bóng tiền nhân – Ký của Nguyên Hùng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-04 17:44:07
mail facebook google pos stwis
861 lượt xem

NGUYÊN HÙNG/ Tạp chí Sông Lam
 

TRƯỚC BÓNG TIỀN NHÂN


Gió từ núi Hồng Lĩnh thổi qua dải Thiên Nhẫn, mang theo mùi hương hoa rừng và bụi thời gian. Cái nắng đầu hạ như vừa đủ để hong khô những bước chân lữ thứ, lại cũng vừa đủ để sưởi ấm cõi lòng – khi chúng tôi, những người bạn văn đến từ nhiều miền đất nước, cùng nhau dừng lại bên những dấu chân xưa của lịch sử.

Chúng tôi đã đến đây – bên Hồ Thành lặng soi trời mây Nam Kim – với tâm thế của những người đi tìm sự tĩnh tại, tìm một khoảng lùi để soi chiếu lại chính mình giữa dòng đời cuộn chảy. Một hành trình tưởng như chỉ là chuỗi điểm đến văn hóa – lịch sử trong khuôn khổ một trại sáng tác, lại vô tình trở thành chuyến đi vào cõi sâu tâm tưởng.

Bởi khi đứng trước những di tích thiêng liêng, nơi từng in dấu chân của các bậc tiền nhân gánh vác sơn hà, tôi không thể không tự vấn: Ta là ai giữa thời đại hôm nay? Ta có học được gì từ những bóng hình đã khuất – những con người không chỉ là danh nhân của một vùng đất mà còn là nhân cách lớn của dân tộc?


La Sơn Phu Tử – cái lưng thẳng của kẻ sĩ giữa thời binh lửa

Tôi không thể quên cảm xúc khi đứng trước khu mộ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, giữa sườn núi cao, phía trước mặt là Hồ Thành thơ mộng, nơi rất thoáng đãng nhưng không khí dường như đặc quánh lại bởi sự lặng im uy nghiêm. Nguyễn Thiếp – một kẻ sĩ đúng nghĩa – người từng từ quan, sống ẩn dật trên núi Bùi Phong, lấy sách làm bạn, lấy dân làm gốc. Nhưng cũng chính ông, ba lần được Quang Trung thỉnh mời, đã rời chốn ở ẩn để góp trí tuệ giúp vua, trong những giai đoạn quan trọng của quốc gia. Chính ông đã hiến kế giúp Quang Trung đại thắng quân Thanh đầu xuân Kỷ Dậu (1789) và đã dâng lên vị anh hùng áo vải một bản tấu bàn về 3 vấn đề cốt yếu trong phép trị nước: "Quân đức" - “Dân tâm" - "Học pháp" nhằm khuyên vua nên theo đạo Thánh hiền, nên dùng nhân chính để thu phục lòng người và phải chăm lo việc giáo dục…

Ở thời đại ấy, ra làm quan không phải để hưởng bổng lộc, mà là để hiến dâng. Vào triều không phải vì danh tiếng, mà vì trách nhiệm. Nguyễn Thiếp hiểu rằng thời thế cần ông – và ông không thể quay lưng. Cũng như khi đất nước không còn nguy nan, ông lại lui về, để giữ mình thanh bạch, sống đúng với tinh thần "an bần lạc đạo".

Triết lý “Kẻ sĩ sống chết vì đạo nghĩa” của ông không chỉ là lời nhắc nhở gửi tới vua quan đương triều, mà là lời cảnh tỉnh muôn đời cho những người có học, có chữ, có lương tri.

Chúng tôi cúi đầu trước mộ cụ Nguyễn Thiếp, không chỉ để tỏ lòng thành kính mà còn để nhắc nhớ nhau rằng: làm người viết, đôi khi cũng cần dám “lánh mình” như La Sơn Phu Tử, nhưng là để giữ vững tiết tháo, để giữ sự trong sáng cho con chữ, giữ trách nhiệm với thời cuộc. Có lẽ, đó là cách mà hậu thế tri ân tốt nhất – bằng sự tiếp nối và ý thức, không chỉ bằng vòng hoa hay nén hương.

Và tôi tự hỏi: hôm nay, chúng ta – những người cầm bút – đã từng khi nào sống trọn với cái “lưng thẳng” như thế chưa? Chữ nghĩa viết ra có hướng về sự thật và cái đẹp không? Hay đôi khi lại cúi xuống hoặc lách nghiêng trước những phù phiếm tạm bợ?

Nguyễn Thiếp không để lại nhiều sách vở, nhưng để lại một di sản nhân cách. Đó chính là thứ chúng tôi cần học nhất – học để viết, học để sống.

Đoàn nhà văn trước phần mộ La Sơn Phu Tử.

Bóng dáng Người – Chủ tịch Hồ Chí Minh trong không gian quê hương

Và rồi chúng tôi đến Kim Liên – nơi Bác Hồ sinh ra, nơi cái nôi của một vĩ nhân. Hai bờ quê nội – quê ngoại, xanh rợp tre trúc, rợp bóng ký ức. Trên con đường nhỏ, tôi hình dung bước chân Bác thuở thiếu thời, những năm tháng đầu tiên nuôi mầm lý tưởng cho cả một cuộc đời dấn thân vì dân tộc.

Không nơi đâu như ở đây, sự giản dị lại khiến lòng người chùng xuống. Một chiếc giường tre, vài vật dụng mộc mạc, một khung cửa nhỏ nhìn ra sân đầy nắng – tất cả khiến tôi nghẹn lại. Cuộc đời của một lãnh tụ bắt đầu từ chính nơi lam lũ này. Không ngai vàng, không gấm vóc, chỉ có lý tưởng lớn, có tình thương sâu và trí tuệ hiếm có. Viết về Bác, thật khó – bởi không phải chỉ viết về một con người, mà là viết về một biểu tượng – của đạo đức, của dấn thân, và của nhân ái.

Điều khiến tôi xúc động nhất là khi ngẫm ngợi, từ chính nơi mảnh vườn này, Người đã ra đi tìm đường cứu nước. Bàn chân guốc mộc năm nào đã bước ra biển lớn, mở đầu một hành trình vĩ đại – không phải chỉ là cuộc ra đi của một cá nhân, mà là sự thức dậy của cả một dân tộc. Sau hơn nửa thế kỷ xa quê, ngày 16 tháng 6 năm 1957, Bác Hồ mới có dịp trở về thăm quê hương Nghệ An – một chuyến về thăm không chỉ nối lại mạch nguồn ký ức mà còn làm ấm lòng bao người dân xứ Nghệ.

Tôi đã đứng lặng giữa vườn quê Kim Liên, giữa hương cau, hương bưởi ngan ngát và tiếng chim chiều xa vắng. Có một điều rất lạ: dù bao lần đọc tiểu sử, xem phim tài liệu, tôi vẫn thấy lòng mình như mềm ra, xúc động như lần đầu biết đến một con người từng cất tiếng khóc chào đời ở đây, rồi cả cuộc đời chỉ sống cho người khác. Cả cuộc đời Bác, như ai đó đã nói, có thể gói gọn trong một chữ “vì” – vì dân, vì nước, vì nhân loại khốn cùng. Và tôi, một người viết bé nhỏ, đã tự hỏi mình: trong từng con chữ, liệu mình có chắt lọc được chút tinh hoa từ phẩm chất ấy?

Đứng ở đây, tôi không chỉ thấy ngôi nhà tranh đơn sơ mà như thấy cả những năm tháng cơ cực, thấy cả ý chí kiên cường ẩn trong dáng vóc nhỏ bé ấy. Từ Kim Liên, Người đã đi tới năm châu, mang theo hồn dân tộc. Để rồi khi trở lại, không phải là trở về của một người con xa xứ, mà là sự hồi cố của một vị cha già dẫn dắt cả dân tộc qua bể dâu thời cuộc.

Người sống vì dân, nghĩ vì nước, viết vì nhân loại, và cuối cùng ra đi trong căn nhà sàn mộc mạc, tài sản chỉ là vài bộ quần áo cũ và một chiếc tủ sách. Nhưng Người để lại một gia tài văn hóa đồ sộ, với hàng ngàn bài viết, bài báo, và những bức thư thấm đẫm lòng yêu nước, yêu dân.

Chúng tôi, những người viết hôm nay, dẫu viết về bất kỳ đề tài nào – lịch sử, thiếu nhi, thơ ca hay đời sống – vẫn luôn phải soi chiếu mình qua tấm gương đạo đức và nhân văn của Người. Viết – không chỉ là để in ra giấy, mà còn là một hành vi đạo đức. Viết – để lan tỏa tử tế, khơi dậy lẽ phải, gìn giữ nhân cách.

Các nhà văn trước nhà Bác Hồ tại Kim Liên, Nam Đàn.
 

Nguyễn Du – mắt nhìn thấu nghìn năm nhân thế

Tôi đã từng đọc “Truyện Kiều” từ thuở học trò, từng thuộc lòng những câu thơ thấm đẫm thân phận con người và tấm lòng thế sự. Nhưng chỉ khi đứng lặng trước tượng Nguyễn Du trong khu tưởng niệm ở Tiên Điền, trong nắng và gió của một buổi xế trưa, tôi mới thật sự cảm được thế nào là nỗi cô đơn của kẻ thức thời giữa cuộc thế đổi thay.

Nguyễn Du, một người đi qua nhiều triều đại, từng bị dằn vặt giữa trung quân và lòng dân, giữa chữ “trung” và chữ “hiếu”, giữa cái sống và cái viết. Cuộc đời ông là minh chứng cho một điều: kẻ sĩ thực thụ không sống dễ dãi. Họ bị giằng xé, họ đau, nhưng họ viết – và từ nỗi đau ấy, họ để lại cho nhân gian một “Truyện Kiều” thấm đẫm nhân đạo, một di sản để hậu thế soi mình. Trước tượng ông, tôi thầm nghĩ: làm người viết hôm nay, nếu không đủ nhẫn nại, không đủ tỉnh táo và trắc ẩn để hiểu đời – thì sao có thể viết ra được điều gì chân thực?

Nguyễn Du không chỉ là một nhà thơ, mà là một nhà nhân học. Ông viết về thân phận, về nỗi bất công, về sự giằng xé giữa đạo lý và định mệnh. Mỗi câu thơ ông viết ra đều như một tiếng thở dài của nhân thế, nhưng cũng là một sự cứu rỗi bằng cái đẹp.

Có thể nói, Nguyễn Du là một trong những người đầu tiên dám nói lên cái đau của con người, trong một thời đại mà lễ giáo đè nặng và chiến tranh vẫn âm ỉ cháy. Ông viết bằng nước mắt, bằng những đêm trăn trở – để lại một áng văn không chỉ đẹp, mà còn có tính giải phóng.

Người viết hôm nay, liệu còn bao nhiêu người dám đối diện với cái bi kịch của thời đại mình? Dám chạm đến sự thật dù gai góc, phức tạp? Dám sống và viết như Nguyễn Du – đặt "tâm" làm gốc?

Các nhà văn trước tượng Nguyễn Du tại Khu tưởng niệm Đại thi hào.
 

Nguyễn Công Trứ – bậc sĩ phu tài tử, giữa hai bờ đời – thơ

Và rồi, chúng tôi dừng chân tại nơi yên nghỉ của Nguyễn Công Trứ – một nhân cách độc đáo bậc nhất trong lịch sử Việt. Ông là một đại quan, nhưng cũng là một thi sĩ lãng tử. Lúc làm Tổng đốc, ông uy nghiêm, hết lòng vì dân. Lúc bị giáng chức, về vườn đi cày, ông vẫn thản nhiên ngâm thơ, đánh đàn. Dù ở đâu, ông vẫn là chính mình – một kẻ sĩ đúng nghĩa.

Tôi yêu câu thơ ông viết: “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”. Danh – ở đây không phải là danh vọng, mà là dấu ấn. Người cầm bút cũng thế. Viết không phải để nổi tiếng, mà để để lại cái gì đó với đời. Một câu thơ làm ấm lòng ai đó, một trang văn thức tỉnh một tâm hồn, một bài báo lay động một nhận thức – đó mới là “danh” chân chính.

Nguyễn Công Trứ dạy ta rằng, làm quan hay làm thơ, đều cần khí phách. Và khí phách ấy – đôi khi – nằm trong sự lặng im không đầu hàng, trong sự tự tại giữa vòng danh lợi, trong nụ cười khi đối diện với nghịch cảnh.

Trước bàn thờ ông, chúng tôi cúi đầu tri ân một kẻ sĩ đã đi hết một đời trọn vẹn – dẫu thăng trầm, vẫn giữ được cái “tôi” đậm đà cốt cách. Có lẽ, đó là điều người viết hôm nay cần học: sống một đời không uổng – không cúi đầu trước những hào nhoáng giả trá, không ngại khó trong hành trình đi tìm chữ thật, chữ đẹp.
 

Thay lời kết

Chúng tôi đã tạm xa những miền đất thiêng trong chuyến đi cuối tháng Tư nhiều kỷ niệm, nhưng bóng dáng của Nguyễn Thiếp, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ và Chủ tịch Hồ Chí Minh thì vẫn như đang bước song song bên cạnh. Mỗi người một thời đại, một hoàn cảnh, nhưng đều có chung một điều: sống trọn vẹn với niềm tin, bằng tình yêu nước thương dân và để lại dấu ấn bằng tư cách kẻ sĩ.

Tôi trở về với trang viết, như vừa bước ra khỏi một cuộc đối thoại trầm sâu. Và tôi biết rằng, hành trình cầm bút phía trước sẽ không còn là việc "viết cho hay", mà là viết để giữ lửa, để trả ơn, để tiếp nối. Bởi trong lòng tôi – và tôi tin cả trong lòng những người bạn văn của mình – đã thấp thoáng ánh mắt các bậc tiền nhân, đang nhìn về phía chúng ta.
 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm