TIN TỨC

Trước bóng tiền nhân – Ký của Nguyên Hùng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-04 17:44:07
mail facebook google pos stwis
945 lượt xem

NGUYÊN HÙNG/ Tạp chí Sông Lam
 

TRƯỚC BÓNG TIỀN NHÂN


Gió từ núi Hồng Lĩnh thổi qua dải Thiên Nhẫn, mang theo mùi hương hoa rừng và bụi thời gian. Cái nắng đầu hạ như vừa đủ để hong khô những bước chân lữ thứ, lại cũng vừa đủ để sưởi ấm cõi lòng – khi chúng tôi, những người bạn văn đến từ nhiều miền đất nước, cùng nhau dừng lại bên những dấu chân xưa của lịch sử.

Chúng tôi đã đến đây – bên Hồ Thành lặng soi trời mây Nam Kim – với tâm thế của những người đi tìm sự tĩnh tại, tìm một khoảng lùi để soi chiếu lại chính mình giữa dòng đời cuộn chảy. Một hành trình tưởng như chỉ là chuỗi điểm đến văn hóa – lịch sử trong khuôn khổ một trại sáng tác, lại vô tình trở thành chuyến đi vào cõi sâu tâm tưởng.

Bởi khi đứng trước những di tích thiêng liêng, nơi từng in dấu chân của các bậc tiền nhân gánh vác sơn hà, tôi không thể không tự vấn: Ta là ai giữa thời đại hôm nay? Ta có học được gì từ những bóng hình đã khuất – những con người không chỉ là danh nhân của một vùng đất mà còn là nhân cách lớn của dân tộc?


La Sơn Phu Tử – cái lưng thẳng của kẻ sĩ giữa thời binh lửa

Tôi không thể quên cảm xúc khi đứng trước khu mộ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, giữa sườn núi cao, phía trước mặt là Hồ Thành thơ mộng, nơi rất thoáng đãng nhưng không khí dường như đặc quánh lại bởi sự lặng im uy nghiêm. Nguyễn Thiếp – một kẻ sĩ đúng nghĩa – người từng từ quan, sống ẩn dật trên núi Bùi Phong, lấy sách làm bạn, lấy dân làm gốc. Nhưng cũng chính ông, ba lần được Quang Trung thỉnh mời, đã rời chốn ở ẩn để góp trí tuệ giúp vua, trong những giai đoạn quan trọng của quốc gia. Chính ông đã hiến kế giúp Quang Trung đại thắng quân Thanh đầu xuân Kỷ Dậu (1789) và đã dâng lên vị anh hùng áo vải một bản tấu bàn về 3 vấn đề cốt yếu trong phép trị nước: "Quân đức" - “Dân tâm" - "Học pháp" nhằm khuyên vua nên theo đạo Thánh hiền, nên dùng nhân chính để thu phục lòng người và phải chăm lo việc giáo dục…

Ở thời đại ấy, ra làm quan không phải để hưởng bổng lộc, mà là để hiến dâng. Vào triều không phải vì danh tiếng, mà vì trách nhiệm. Nguyễn Thiếp hiểu rằng thời thế cần ông – và ông không thể quay lưng. Cũng như khi đất nước không còn nguy nan, ông lại lui về, để giữ mình thanh bạch, sống đúng với tinh thần "an bần lạc đạo".

Triết lý “Kẻ sĩ sống chết vì đạo nghĩa” của ông không chỉ là lời nhắc nhở gửi tới vua quan đương triều, mà là lời cảnh tỉnh muôn đời cho những người có học, có chữ, có lương tri.

Chúng tôi cúi đầu trước mộ cụ Nguyễn Thiếp, không chỉ để tỏ lòng thành kính mà còn để nhắc nhớ nhau rằng: làm người viết, đôi khi cũng cần dám “lánh mình” như La Sơn Phu Tử, nhưng là để giữ vững tiết tháo, để giữ sự trong sáng cho con chữ, giữ trách nhiệm với thời cuộc. Có lẽ, đó là cách mà hậu thế tri ân tốt nhất – bằng sự tiếp nối và ý thức, không chỉ bằng vòng hoa hay nén hương.

Và tôi tự hỏi: hôm nay, chúng ta – những người cầm bút – đã từng khi nào sống trọn với cái “lưng thẳng” như thế chưa? Chữ nghĩa viết ra có hướng về sự thật và cái đẹp không? Hay đôi khi lại cúi xuống hoặc lách nghiêng trước những phù phiếm tạm bợ?

Nguyễn Thiếp không để lại nhiều sách vở, nhưng để lại một di sản nhân cách. Đó chính là thứ chúng tôi cần học nhất – học để viết, học để sống.

Đoàn nhà văn trước phần mộ La Sơn Phu Tử.

Bóng dáng Người – Chủ tịch Hồ Chí Minh trong không gian quê hương

Và rồi chúng tôi đến Kim Liên – nơi Bác Hồ sinh ra, nơi cái nôi của một vĩ nhân. Hai bờ quê nội – quê ngoại, xanh rợp tre trúc, rợp bóng ký ức. Trên con đường nhỏ, tôi hình dung bước chân Bác thuở thiếu thời, những năm tháng đầu tiên nuôi mầm lý tưởng cho cả một cuộc đời dấn thân vì dân tộc.

Không nơi đâu như ở đây, sự giản dị lại khiến lòng người chùng xuống. Một chiếc giường tre, vài vật dụng mộc mạc, một khung cửa nhỏ nhìn ra sân đầy nắng – tất cả khiến tôi nghẹn lại. Cuộc đời của một lãnh tụ bắt đầu từ chính nơi lam lũ này. Không ngai vàng, không gấm vóc, chỉ có lý tưởng lớn, có tình thương sâu và trí tuệ hiếm có. Viết về Bác, thật khó – bởi không phải chỉ viết về một con người, mà là viết về một biểu tượng – của đạo đức, của dấn thân, và của nhân ái.

Điều khiến tôi xúc động nhất là khi ngẫm ngợi, từ chính nơi mảnh vườn này, Người đã ra đi tìm đường cứu nước. Bàn chân guốc mộc năm nào đã bước ra biển lớn, mở đầu một hành trình vĩ đại – không phải chỉ là cuộc ra đi của một cá nhân, mà là sự thức dậy của cả một dân tộc. Sau hơn nửa thế kỷ xa quê, ngày 16 tháng 6 năm 1957, Bác Hồ mới có dịp trở về thăm quê hương Nghệ An – một chuyến về thăm không chỉ nối lại mạch nguồn ký ức mà còn làm ấm lòng bao người dân xứ Nghệ.

Tôi đã đứng lặng giữa vườn quê Kim Liên, giữa hương cau, hương bưởi ngan ngát và tiếng chim chiều xa vắng. Có một điều rất lạ: dù bao lần đọc tiểu sử, xem phim tài liệu, tôi vẫn thấy lòng mình như mềm ra, xúc động như lần đầu biết đến một con người từng cất tiếng khóc chào đời ở đây, rồi cả cuộc đời chỉ sống cho người khác. Cả cuộc đời Bác, như ai đó đã nói, có thể gói gọn trong một chữ “vì” – vì dân, vì nước, vì nhân loại khốn cùng. Và tôi, một người viết bé nhỏ, đã tự hỏi mình: trong từng con chữ, liệu mình có chắt lọc được chút tinh hoa từ phẩm chất ấy?

Đứng ở đây, tôi không chỉ thấy ngôi nhà tranh đơn sơ mà như thấy cả những năm tháng cơ cực, thấy cả ý chí kiên cường ẩn trong dáng vóc nhỏ bé ấy. Từ Kim Liên, Người đã đi tới năm châu, mang theo hồn dân tộc. Để rồi khi trở lại, không phải là trở về của một người con xa xứ, mà là sự hồi cố của một vị cha già dẫn dắt cả dân tộc qua bể dâu thời cuộc.

Người sống vì dân, nghĩ vì nước, viết vì nhân loại, và cuối cùng ra đi trong căn nhà sàn mộc mạc, tài sản chỉ là vài bộ quần áo cũ và một chiếc tủ sách. Nhưng Người để lại một gia tài văn hóa đồ sộ, với hàng ngàn bài viết, bài báo, và những bức thư thấm đẫm lòng yêu nước, yêu dân.

Chúng tôi, những người viết hôm nay, dẫu viết về bất kỳ đề tài nào – lịch sử, thiếu nhi, thơ ca hay đời sống – vẫn luôn phải soi chiếu mình qua tấm gương đạo đức và nhân văn của Người. Viết – không chỉ là để in ra giấy, mà còn là một hành vi đạo đức. Viết – để lan tỏa tử tế, khơi dậy lẽ phải, gìn giữ nhân cách.

Các nhà văn trước nhà Bác Hồ tại Kim Liên, Nam Đàn.
 

Nguyễn Du – mắt nhìn thấu nghìn năm nhân thế

Tôi đã từng đọc “Truyện Kiều” từ thuở học trò, từng thuộc lòng những câu thơ thấm đẫm thân phận con người và tấm lòng thế sự. Nhưng chỉ khi đứng lặng trước tượng Nguyễn Du trong khu tưởng niệm ở Tiên Điền, trong nắng và gió của một buổi xế trưa, tôi mới thật sự cảm được thế nào là nỗi cô đơn của kẻ thức thời giữa cuộc thế đổi thay.

Nguyễn Du, một người đi qua nhiều triều đại, từng bị dằn vặt giữa trung quân và lòng dân, giữa chữ “trung” và chữ “hiếu”, giữa cái sống và cái viết. Cuộc đời ông là minh chứng cho một điều: kẻ sĩ thực thụ không sống dễ dãi. Họ bị giằng xé, họ đau, nhưng họ viết – và từ nỗi đau ấy, họ để lại cho nhân gian một “Truyện Kiều” thấm đẫm nhân đạo, một di sản để hậu thế soi mình. Trước tượng ông, tôi thầm nghĩ: làm người viết hôm nay, nếu không đủ nhẫn nại, không đủ tỉnh táo và trắc ẩn để hiểu đời – thì sao có thể viết ra được điều gì chân thực?

Nguyễn Du không chỉ là một nhà thơ, mà là một nhà nhân học. Ông viết về thân phận, về nỗi bất công, về sự giằng xé giữa đạo lý và định mệnh. Mỗi câu thơ ông viết ra đều như một tiếng thở dài của nhân thế, nhưng cũng là một sự cứu rỗi bằng cái đẹp.

Có thể nói, Nguyễn Du là một trong những người đầu tiên dám nói lên cái đau của con người, trong một thời đại mà lễ giáo đè nặng và chiến tranh vẫn âm ỉ cháy. Ông viết bằng nước mắt, bằng những đêm trăn trở – để lại một áng văn không chỉ đẹp, mà còn có tính giải phóng.

Người viết hôm nay, liệu còn bao nhiêu người dám đối diện với cái bi kịch của thời đại mình? Dám chạm đến sự thật dù gai góc, phức tạp? Dám sống và viết như Nguyễn Du – đặt "tâm" làm gốc?

Các nhà văn trước tượng Nguyễn Du tại Khu tưởng niệm Đại thi hào.
 

Nguyễn Công Trứ – bậc sĩ phu tài tử, giữa hai bờ đời – thơ

Và rồi, chúng tôi dừng chân tại nơi yên nghỉ của Nguyễn Công Trứ – một nhân cách độc đáo bậc nhất trong lịch sử Việt. Ông là một đại quan, nhưng cũng là một thi sĩ lãng tử. Lúc làm Tổng đốc, ông uy nghiêm, hết lòng vì dân. Lúc bị giáng chức, về vườn đi cày, ông vẫn thản nhiên ngâm thơ, đánh đàn. Dù ở đâu, ông vẫn là chính mình – một kẻ sĩ đúng nghĩa.

Tôi yêu câu thơ ông viết: “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”. Danh – ở đây không phải là danh vọng, mà là dấu ấn. Người cầm bút cũng thế. Viết không phải để nổi tiếng, mà để để lại cái gì đó với đời. Một câu thơ làm ấm lòng ai đó, một trang văn thức tỉnh một tâm hồn, một bài báo lay động một nhận thức – đó mới là “danh” chân chính.

Nguyễn Công Trứ dạy ta rằng, làm quan hay làm thơ, đều cần khí phách. Và khí phách ấy – đôi khi – nằm trong sự lặng im không đầu hàng, trong sự tự tại giữa vòng danh lợi, trong nụ cười khi đối diện với nghịch cảnh.

Trước bàn thờ ông, chúng tôi cúi đầu tri ân một kẻ sĩ đã đi hết một đời trọn vẹn – dẫu thăng trầm, vẫn giữ được cái “tôi” đậm đà cốt cách. Có lẽ, đó là điều người viết hôm nay cần học: sống một đời không uổng – không cúi đầu trước những hào nhoáng giả trá, không ngại khó trong hành trình đi tìm chữ thật, chữ đẹp.
 

Thay lời kết

Chúng tôi đã tạm xa những miền đất thiêng trong chuyến đi cuối tháng Tư nhiều kỷ niệm, nhưng bóng dáng của Nguyễn Thiếp, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ và Chủ tịch Hồ Chí Minh thì vẫn như đang bước song song bên cạnh. Mỗi người một thời đại, một hoàn cảnh, nhưng đều có chung một điều: sống trọn vẹn với niềm tin, bằng tình yêu nước thương dân và để lại dấu ấn bằng tư cách kẻ sĩ.

Tôi trở về với trang viết, như vừa bước ra khỏi một cuộc đối thoại trầm sâu. Và tôi biết rằng, hành trình cầm bút phía trước sẽ không còn là việc "viết cho hay", mà là viết để giữ lửa, để trả ơn, để tiếp nối. Bởi trong lòng tôi – và tôi tin cả trong lòng những người bạn văn của mình – đã thấp thoáng ánh mắt các bậc tiền nhân, đang nhìn về phía chúng ta.
 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm
Nấm Dẩn, một sinh thái trong lành – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Chiều buông, rời bước ra khỏi bãi đá cổ, lòng tôi cứ bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa hoang dại, vừa tôn nghiêm của vùng cao biên giới Nấm Dẩn. Những địa danh như đèo Gió, thác Tiên, hay bãi đá cổ Nấm Chanh giờ đây không còn là những cái tên vô danh giữa đại ngàn heo hút mà đã được định danh trên bản đồ di sản nước nhà. Di tích Bãi đá cổ bản Nấm Chanh ở xã Nấm Dẩn đã được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 2008 và khu danh lam thác Tiên - đèo Gió cũng được xếp hạng thắng cảnh quốc gia vào năm 2009. Nhưng rồi lại nghĩ, bản đồ du lịch ở Nấm Dẩn đã mở ra nhưng giao thông và hạ tầng ở đây còn chưa theo kịp. Muốn nhiều người biết hơn nữa về những thắng cảnh và di sản ở Nấm Dẩn đường đi và các dịch vụ chắc chắn phải đi trước một bước để đón chân du khách. Nghĩ thế, rồi lại nhìn sang những vùng đất khác. Du lịch mở ra và bản sắc văn hoá cứ mất dần vì làn sóng thương mại hóa. Bất giác, tôi giật mình và tự hỏi: liệu một mai, khi rộn rã thanh âm của những bước chân du lịch, Nấm Dẩn có còn giữ nổi cho mình là một sinh thái trong lành nữa hay không?
Xem thêm
Chân mây 6 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Thành Tuyên trong câu chuyện thời thiếu nữ của ai. Trong rung động thời trai trẻ của ai. Hương hoa rừng ngào ngạt. Đồi núi bạt ngàn xanh mướt. Những bông hoa gạo nóng bỏng. Những dây leo lộng lẫy hoa vàng. Những viên gạch cổ rêu phong thiêng liêng. Và sông Lô hào hùng. Sông Lô dạt dào sóng nước.
Xem thêm
Chuyện về nhà thơ Hoa Níp sau 10 năm rời cõi tạm
Hoa Nip là nhà thơ trẻ từng tham gia hoạt động trong Ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn TP.HCM do nhà thơ Phan Hoàng làm trưởng ban. Dù sinh sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng mỗi khi Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức các chuyến đi thực tế, sáng tác anh đều tham gia và hoạt động rất tích cực. Trong quan hệ đồng nghiệp, anh được bạn bè yêu thương, trân quý. Trong sáng tác anh được đánh giá là một nhà văn trẻ giàu triển vọng. Nhưng cuộc đời quả vô thường, năm 2016, một tai nạn thương tâm xảy ra đã cướp đi sinh mạng của anh trong sự đau đớn và tiếc thương của gia đình và đồng nghiệp. Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Hoa Nip, Phùng Hiệu xin giới thiệu bài viết của cha anh - tác giả Trần Vinh.
Xem thêm
Cái đẹp đời thường trong tranh họa sĩ Vũ Dương - Bút ký Trần Trung Sáng
“Vẽ cuộc đời bằng cảm xúc” là chủ đề chương trình giới thiệu cuốn sách tranh của họa sĩ Vũ Dương do Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng phối hợp với Chi hội Mỹ thuật Việt Nam tại Đà Nẵng và gia đình họa sĩ Vũ Dương tổ chức trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua.
Xem thêm
Hành trình lan tỏa tình yêu biển đảo từ những lá cờ Tổ quốc mang dấu Trường Sa
Giữa mênh mông biển trời, lá cờ Tổ quốc tung bay trên các điểm đảo thuộc Quần đảo Trường Sa không chỉ khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam, mà còn nhắc nhở mỗi người dân đất Việt về trách nhiệm gìn giữ biển đảo quê hương bằng những hành động thiết thực, từ những điều giản dị nhất.
Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm