TIN TỨC

Dân văn viết báo - Phạm Xuân Nguyên

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-20 10:34:15
mail facebook google pos stwis
1652 lượt xem

PHẠM XUÂN NGUYÊN

Tôi là dân văn nên khi viết báo ở lĩnh vực văn hay ngoài văn đều dùng văn để viết sao cho bài báo có văn.

Những khi có các sự kiện, kỳ cuộc văn chương, hay khi có các nhà văn nhà thơ qua đời, các báo đều muốn có bài nhanh chóng, kịp thời,thế là họ gọi cho các chuyên gia trong nghề vì đấy là những người có thể viết nhanh, viết đúng về việc đó, người đó. Tôi cũng hay được gọi “ứng chiến” như vậy và hầu như tôi đều nhận lời.

Dân văn viết báo tôi luôn bắt đầu từ cái đầu đề trở đi. Tính tôi không ưa đặt tên bài theo công thức chung chung, nhàm chán, mà thích bài viết phải có tên gọi, đầu đề khác biệt, ấn tượng. Như hồi làm Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức các cuộc tọa đàm kỷ niệm chẵn năm sinh, năm mất của các nhà văn nhà thơ tên tuổi tôi đều nghĩ ra một tên gọi đích đáng cho cuộc đời và văn nghiệp của từng người. Ví như với Quang Dũng làm hai cuộc thì một là Khúc độc hành và một là Những mùa xanh. Với Hoàng Cầm là Mắt thời gian. Với Xuân Diệu là Người tình si. Với Hoàng Công Khanh là Ba bảy chín. Với Đoàn Phú Tứ là Màu thời gian… Tôi cũng đã từng đặt lại tên cho tác phẩm của bạn bè. Như truyện ngắn Hậu thiên đường (tên bản thảo là Trầm luân) của Nguyễn Thị Thu Huệ, hay tập tản văn Ký ức vụn (tên bản thảo là Những mảnh vụn ký ức) của Nguyễn Quang Lập, hay cuốn tự truyện Lê Vân yêu và sống (tên bản thảo Lê Vân và những người tình) của Bùi Mai Hạnh (chấp bút), tập thơ Giọt đàn bà (tên bản thảo Gửi những mùa yêu) của Nguyễn Thị Thanh Yến. Nói thế để thấy cái tên cho một sản phẩm viết là rất quan trọng, dù đó là một bài báo, một cuốn sách, hay một tọa đàm, hội thảo. Tôi xin kể mấy trường hợp đặt tên bài trong một số bài tôi viết cho báo Tuổi trẻ.


Nhà Lý luận phê bình Phạm Xuân Nguyên.

Năm 2005, khi cuốn sách Nhật ký Đặng Thùy Trâm xuất bản, báo đặt tôi viết bài. Trước đó tôi đã có bài về cuốn nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc cũng trên báo này. Bài đó và bài này đều được yêu cầu phải viết sao cho xúc động, vừa có ý hướng giáo dục thanh niên, vừa giới thiệu được cuốn sách. Để viết được thế tôi đã phải khá chật vật, đến mức kéo dài thời gian hẹn bài của tòa soạn đến một tuần. Cuối cùng bài cũng xong nhưng tôi loay hoay chuyện tên bài. Nghĩ mãi không biết nên đặt thế nào. Rồi tôi chợt nhớ ra chị Trâm là bác sĩ, bàn tay chị đã cầm dao mổ ở chiến trường, và đã có lúc mong mỏi đến tuyệt vọng muốn có được một bàn tay cầm lấy khi phải một mình trong vòng vây kẻ thù. Từ đó tôi đã nghĩ ra tên bài Bàn tay vẫy những bàn tay, khi lên báo đổi thành Bàn tay chị đang chờ bàn tay bạn (Tuổi trẻ, 29/7/2005). Sau này có một chương trình truyền hình làm về hai cuốn nhật ký của chị Trâm anh Thạc hình như có dùng lại cái tên bài ban đầu của tôi. Nhờ nghĩ ra hình tượng bàn tay nên ngay vào bài tôi đã khái quát hai cuốn nhật ký chiến trường đó là “bàn chân vào chiến trường” (Nguyễn Văn Thạc) và “bàn tay giữa chiến trường” (Đặng Thùy Trâm). Đây cũng là cái trục bài nói chuyện của tôi về hai cuốn nhật ký này cho các đơn vị quân đội từ cấp sư đoàn, quân chủng trở lên khi được thư viện quân đội mời làm diễn giả trong các sự kiện sách tổ chức trong thời gian đó.

Năm 2007 nhà thơ Vũ Cao mất. Báo đặt tôi viết bài 500 chữ tưởng nhớ ông. Tôi viết được ngay, nhưng lại vướng cái tên bài. Cuối cùng tôi đã chọn được cái tên cho bài viết ngắn của mình từ một câu thơ trong bài thơ nổi tiếng Núi Đôi của ông mà chỉ thay hai chữ. Câu thơ gốc là “Núi vẫn đôi mà anh mất em”, tôi sửa lại “Núi vẫn đôi mà thơ mất ông” (Tuổi trẻ, 4/12/2007). Bài ra được bạn bè khen cái “tít”, tôi cười: có lẽ cả bài chỉ được cái tên bài, mà đó là của nhà thơ, đâu phải của mình.

Năm 2008 tôi đến Huế xem festival. Vừa tới khách sạn đang đứng ở quầy lễ tân thì có điện thoại từ báo gọi đến. - Nhà thơ Xuân Sách mất rồi, anh biết chưa? - Chưa. - Anh đang ở đâu? - Ở Huế, đang chờ lấy phòng khách sạn. - Lấy phòng rồi anh viết ngay cho em một bài về Xuân Sách nhé, mai đăng. Thế là tôi chỉ kịp nhận phòng xong là ngồi viết luôn. Với Xuân Sách, cũng như Vũ Cao, tôi có quen biết, được nhiều dịp chuyện trò, đàm luận với hai ông nên tư liệu, sự kiện tôi sẵn có để viết được bài nhanh. Nhưng lần này bài về Xuân Sách tôi nghĩ ra cái tên bài trước rồi mới viết. Cái tên Người đi đường chúng ta (Tuổi trẻ, 6/2008) là dựa ý trên lời thơ của ông trong bài thơ được nhạc sĩ Huy Du phổ nhạc thành bài hát quen thuộc Đường chúng ta đi.

Năm 2010 tôi đang ở TP Hồ Chí Minh dự hội thảo quốc tế về văn học Việt Nam - Nhật Bản. Đang giữa cuộc thì tôi được tin nhà thơ Hữu Loan mất và lập tức có ngay những cú điện thoại các báo đặt bài. Trưa ấy tôi đành lỡ cuộc vui gặp mặt bạn bè các nơi về hội thảo để nhốt mình trong phòng khách sạn viết ngay bài về Hữu Loan. Tài liệu về nhà thơ tôi đã đọc nhiều, nhớ sẵn. Mấy năm cuối đời ông, tôi lại hay về thăm ông ở vùng quê Thanh Hóa. Những hiểu biết về đời và thơ ông đã được tôi gói gọn trong bài viết. Nhưng tên bài thế nào đây? May sao cũng lại nhà thơ đã cho tôi. Hữu Loan rất nổi tiếng với bài thơ Màu tím hoa sim. Và ông cũng rất nổi tiếng về sự cương trực khẳng khái như trong một bài thơ ông đã gọi mình là “cây gỗ vuông” không chịu bị bào mòn góc cạnh để tròn như bánh xe dễ lăn đi. Eureka! Tôi đã tìm ra cái tên cho bài viết tưởng nhớ ông: Hữu Loan - cây gỗ vuông màu tím (Tuổi trẻ, 20/3/2010).

Kể mấy chuyện trên để thấy chỉ nội đặt cái tên bài không thôi người viết báo văn nghệ đã phải tích lũy hiểu biết, tri thức về nhân vật nhiều, rộng, và sâu. Cái tên sẽ định vị cho nội dung bài viết, ít nhất đấy cũng là kinh nghiệm của tôi. Cái tên bài hay trong kiểu bài này có khi lại trở thành định danh cho nhân vật. Mấy năm qua tôi giữ mục “Đọc sách cùng bạn” cho báo điện tử Dân Việt của báo Nông thôn ngày nay. Bình thường ra thì tên mỗi bài viết chỉ cần đưa tên sách là xong. Nhưng không, tôi luôn đặt cho mỗi bài một cái tên riêng, trước khi đưa tên cuốn sách mình giới thiệu ra.

Ở trên dẫu sao vẫn là chuyện dùng văn để viết báo về văn. Nhưng ngay cả khi viết về thể thao, cụ thể là bóng đá, tôi cũng dùng văn. Vì tôi không phải viết bình luận bóng đá, không phân tích đội hình chiến thuật lối chơi, không đánh giá năng lực trình độ chuyên môn cầu thủ. Tôi viết những cảm xúc suy nghĩ của mình quanh một sự kiện, hiện tượng nào đó xảy ra trên sân cỏ hoặc trong phòng thay đồ hoặc trong cuộc sống riêng tư có ảnh hưởng xã hội của người chơi bóng.

Năm 2009 SEA Games 25 tổ chức tại Lào. Đội tuyển bóng đá nữ Việt Nam lần thứ 6 giành chức vô địch ở sân chơi này. Báo gọi điện cho tôi đặt bài viết bình luận về thành tích vang dội đó. Tôi nghĩ tới các cô gái của chúng ta không quản ngại gian lao, vất vả, cực nhọc đã mang vinh quang về cho Tổ quốc trên đấu trường thể thao khu vực. Và tôi khóc trước chiến thắng của các em trên sân cỏ. Tôi khóc cho em và cho tôi, đó là tên bài viết (Tuổi trẻ, 17/2/2009). Khóc cho em vì chiến thắng, vì sự khổ luyện và thi đấu, vì sự hân hoan của người hâm mộ cho bóng đá nữ không bằng bóng đá nam, vì phận đời con gái sau nghiệp quần đùi áo số. Khóc cho tôi vì chịu ơn các em đã mang lại niềm vui, niềm tự hào, và vì những điều tôi đã khóc cho em. Trong bài có hai lần tôi dẫn thơ. Lần đầu ở đoạn khóc cho em vì sự khổ luyện trên sân: “Khi em tập thì huân chương chưa có/ Có gì đâu cho cổ vũ reo hò/ Khi cả nước mừng vui ngôi hậu/ Mùa xuân con gái đã bên kia. Tôi mượn lời thơ của một nhà thơ ứng vào cho em, khóc mừng chiến thắng cùng em.” Bài thơ tôi mượn là của nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại viết về các cô gái ở nông trường cam, tôi giữ lại câu cuối và biến tấu ba câu trên cho hợp cảnh. Nguyên văn bài thơ Ở nông trường: Khi em đến thì mùa xuân chưa đến/ Có gì đâu cho ai biết theo về/ Giờ anh tới - nông trường cam chín/ Mùa xuân con gái đã bên kia. Lần sau ở đoạn khóc cho em vì sự thiệt hơn của bóng đá nữ và bóng đá nam: “Tôi chạnh lòng giữa lúc vui có nên chăng. Dẫu thế, em hãy đá quả bóng về phía tôi. Vì tôi hiểu: Có những kẻ đến đây/ Ngợi ca đào nở rộ/ Chân tình nhất những ai/ Đến sau mùa hoa nở. Bài dân ca Nhật Bản nói thế. Tôi sợ rồi những dòng tin cảnh ngộ em nay mai làm tôi khóc những giọt nước mắt cay đắng. Thì hãy cứ khóc vui hôm nay cho thỏa cái đích đã đạt, ước mơ đã thành.” Bài báo này của tôi đã được ban biên tập báo thưởng 100%, nhuận bút triệu hai thành hai triệu tư.

Năm 2010, ngày 21/3, trong một trận bóng trên sân Cao Lãnh, vì không đồng tình trước quyết định cho đội CS Đồng Tháp hưởng quả phạt ở những giây bù giờ, tiền đạo đội trưởng Lê Công Vinh của đội Hà Nội T&T đã có hành động đưa hai tay lên đầu “vái lạy” trọng tài chính Vũ Bảo Linh. Việc này đã khiến dư luận bất bình. Lập tức tôi được báo đặt bài viết về sự kiện đó. Ôi, nếu bình luận khô khan về đạo đức thì tôi chịu. May sao tôi nhớ đến một bài thơ của Hàn Mặc Tử có hình ảnh chắp tay lạy: Bây giờ tôi dại tôi điên / Chắp tay tôi lạy cả miền nhân gian. Thế là bài viết xuất hiện với đầu đề Chắp tay tôi lạy… (Tuổi trẻ, 25/3/2010). Tôi viết: “Cái chắp tay trên sân bóng là lúc Vinh như bị một cơn cuồng loạn của tâm trí, thể trí khiến bây giờ tôi dại tôi điên, làm một việc mà không hiểu vì sao mình làm, làm trong cơn căng thẳng của một trận đấu bóng không chỉ có đôi chân là chạy mà còn là sự tương tác của các cơ thể người và đầu óc người, giữa ranh giới hữu thức và vô thức bị đẩy đến tột điểm ở trạng thái ức chế bùng nổ và bột phát thành một cử chỉ, một biểu hiện. Cử chỉ vái lạy ở một không gian khác, trong một hoàn cảnh khác, trước một đối tượng khác đó là sự kính trọng và khâm phục, là một thái độ thiêng. Nhưng vái lạy trên sân cỏ trước trọng tài, “vái sống”, thì là thái độ tục. Một cầu thủ bình thường đã không nên và không được làm thế. Một cầu thủ tên tuổi, một ngôi sao sân cỏ như Công Vinh lại càng rất không nên và không được làm thế. […] Tôi, người viết bài này, xin chắp tay vái lạy thi sĩ họ Hàn xá tội đã cho tôi mượn hai câu thơ của chàng để nói về bóng đá và cầu thủ, trong một trường hợp mà Công Vinh và VFF đều đáng chắp tay tôi lạy khắp miền không gian.”

Sau sự kiện này hai tháng, trước tình trạng bạo lực sân cỏ có chiều hướng gia tăng, báo lại đặt tôi viết bài về hiện tượng này. Tôi đã lấy bài thơ Nhịp điệu bóng đá của nhà thơ Nguyễn Duy viết trong không khí “mùa hè España” (1982) làm khung để nói Dân bóng đá nếu biết đọc thơ… (Tuổi trẻ, 2/5/2010) vì chính con trai nhà thơ là phóng viên thể thao của một tờ báo ra sân tác nghiệp trong một trận đấu đã bị thu máy ảnh và bắt xóa ảnh trong máy. “Dân bóng đá nếu biết đọc thơ” thì “họ đã biết các nhà thơ gọi những trận đá bóng là “bài thơ sân cỏ” và tôn vinh các cầu thủ trên sân là những “nhà thơ sân cỏ”. Họ sẽ sung sướng và tự hào cả trong lẫn ngoài sân cỏ. Họ sẽ lâng lâng niềm vui mỗi khi bước ra sân cỏ, chạm chân vào bóng. Họ sẽ cảm ơn các nhà thơ đã biến một trò chơi chạy và sút thành một sự bay bổng sáng tạo”; “Dân bóng đá nếu biết đọc thơ” thì “họ đã phải biết day dứt lương tâm khi lao vào triệt hạ nhau bằng những cú đá kinh người, gây sát thương nặng nề nghiêm trọng cho các cầu thủ cũng là người chơi như mình; đã phải chùn tay khi giật máy ảnh của phóng viên đang tác nghiệp và thô bạo hèn hạ xóa những hình ảnh làm chứng cho những hành động phản thể thao, phản thơ, phản nhân tính trên sân cỏ.” Cách viết này tôi vẫn tiếp tục áp dụng khi giữ mục “Góc nhìn Phạm Xuân Nguyên” trên báo Nông thôn ngày nay mùa Euro 2012 và World Cup 2014. Giải diễn ra cả tháng, ngày nào tôi cũng có bài.

Tôi kể mấy câu chuyện của tôi dùng văn chương trong viết báo như là một kinh nghiệm cá nhân. Đây là trường hợp của tôi, một người không phải làm báo mà làm văn. Tôi cũng chỉ mới lấy thí dụ ở Tuổi trẻ, một tờ báo mà tôi cộng tác khá thường xuyên, để nói rằng phải có sự đồng cảm giữa tòa soạn và người viết thì mới có thể chấp nhận một cách viết như vậy.

Nguồn: Báo Văn nghệ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hà Nội và nỗi niềm hoa sữa – Tản văn Đào Thị Thu Hiền
Nhớ đến những mùa hoa Hà Nội, những người yêu mảnh đất này không thể không nhắc đến mùa hoa sữa. Đó là một mùa hoa nhưng cũng có thể gọi về cả mùa thơ, mùa nhạc khiến cho đất trời thủ đô khoảnh khắc cuối thu chầm chậm sang đông bỗng trở nên rạo rực, thao thức, nồng nàn với những vấn vương bởi cái hương thơm ngọt ngào, đằm sâu, quyến rũ đang dịu dàng gửi vào trong gió. Mùi hương ấy làm cho bao bước chân qua không khỏi ngập ngừng như thể đang bị níu lại. Có lẽ vì thế mà loài hoa này, từ lâu, đã được xem là tình yêu và nỗi nhớ của người Hà Nội.
Xem thêm
Kiến nghị lấy ngày 27/7 làm ngày Quốc giỗ
Tôi quan niệm rằng sự hy sinh của những người con đất Việt không bị giới hạn bởi một thời đại, một cuộc chiến tranh hay một thế hệ. Tất cả những người đã hy sinh vì độc lập, tự do và sự trường tồn của đất nước đều xứng đáng được các thế hệ hôm nay và mai sau tưởng nhớ. Bởi vậy, khi bàn về Ngày Quốc giỗ, cần phân biệt rõ giữa việc lựa chọn một ngày tưởng niệm chung và việc bảo đảm sự tri ân đối với từng đối tượng, từng giai đoạn lịch sử. Hai việc này không nhất thiết loại trừ nhau.
Xem thêm
Những người đi qua Trường Sơn – 55 năm một lời hẹn
Bài đăng Đặc san của Hội Nhà báo TPHCM chào mừng Đại hội Hội Nhà báo TPHCM
Xem thêm
Về bến Lộc An
Bài đăng báo Cựu chiến binh Việt Nam
Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm