TIN TỨC

Dân văn viết báo - Phạm Xuân Nguyên

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-20 10:34:15
mail facebook google pos stwis
1181 lượt xem

PHẠM XUÂN NGUYÊN

Tôi là dân văn nên khi viết báo ở lĩnh vực văn hay ngoài văn đều dùng văn để viết sao cho bài báo có văn.

Những khi có các sự kiện, kỳ cuộc văn chương, hay khi có các nhà văn nhà thơ qua đời, các báo đều muốn có bài nhanh chóng, kịp thời,thế là họ gọi cho các chuyên gia trong nghề vì đấy là những người có thể viết nhanh, viết đúng về việc đó, người đó. Tôi cũng hay được gọi “ứng chiến” như vậy và hầu như tôi đều nhận lời.

Dân văn viết báo tôi luôn bắt đầu từ cái đầu đề trở đi. Tính tôi không ưa đặt tên bài theo công thức chung chung, nhàm chán, mà thích bài viết phải có tên gọi, đầu đề khác biệt, ấn tượng. Như hồi làm Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức các cuộc tọa đàm kỷ niệm chẵn năm sinh, năm mất của các nhà văn nhà thơ tên tuổi tôi đều nghĩ ra một tên gọi đích đáng cho cuộc đời và văn nghiệp của từng người. Ví như với Quang Dũng làm hai cuộc thì một là Khúc độc hành và một là Những mùa xanh. Với Hoàng Cầm là Mắt thời gian. Với Xuân Diệu là Người tình si. Với Hoàng Công Khanh là Ba bảy chín. Với Đoàn Phú Tứ là Màu thời gian… Tôi cũng đã từng đặt lại tên cho tác phẩm của bạn bè. Như truyện ngắn Hậu thiên đường (tên bản thảo là Trầm luân) của Nguyễn Thị Thu Huệ, hay tập tản văn Ký ức vụn (tên bản thảo là Những mảnh vụn ký ức) của Nguyễn Quang Lập, hay cuốn tự truyện Lê Vân yêu và sống (tên bản thảo Lê Vân và những người tình) của Bùi Mai Hạnh (chấp bút), tập thơ Giọt đàn bà (tên bản thảo Gửi những mùa yêu) của Nguyễn Thị Thanh Yến. Nói thế để thấy cái tên cho một sản phẩm viết là rất quan trọng, dù đó là một bài báo, một cuốn sách, hay một tọa đàm, hội thảo. Tôi xin kể mấy trường hợp đặt tên bài trong một số bài tôi viết cho báo Tuổi trẻ.


Nhà Lý luận phê bình Phạm Xuân Nguyên.

Năm 2005, khi cuốn sách Nhật ký Đặng Thùy Trâm xuất bản, báo đặt tôi viết bài. Trước đó tôi đã có bài về cuốn nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc cũng trên báo này. Bài đó và bài này đều được yêu cầu phải viết sao cho xúc động, vừa có ý hướng giáo dục thanh niên, vừa giới thiệu được cuốn sách. Để viết được thế tôi đã phải khá chật vật, đến mức kéo dài thời gian hẹn bài của tòa soạn đến một tuần. Cuối cùng bài cũng xong nhưng tôi loay hoay chuyện tên bài. Nghĩ mãi không biết nên đặt thế nào. Rồi tôi chợt nhớ ra chị Trâm là bác sĩ, bàn tay chị đã cầm dao mổ ở chiến trường, và đã có lúc mong mỏi đến tuyệt vọng muốn có được một bàn tay cầm lấy khi phải một mình trong vòng vây kẻ thù. Từ đó tôi đã nghĩ ra tên bài Bàn tay vẫy những bàn tay, khi lên báo đổi thành Bàn tay chị đang chờ bàn tay bạn (Tuổi trẻ, 29/7/2005). Sau này có một chương trình truyền hình làm về hai cuốn nhật ký của chị Trâm anh Thạc hình như có dùng lại cái tên bài ban đầu của tôi. Nhờ nghĩ ra hình tượng bàn tay nên ngay vào bài tôi đã khái quát hai cuốn nhật ký chiến trường đó là “bàn chân vào chiến trường” (Nguyễn Văn Thạc) và “bàn tay giữa chiến trường” (Đặng Thùy Trâm). Đây cũng là cái trục bài nói chuyện của tôi về hai cuốn nhật ký này cho các đơn vị quân đội từ cấp sư đoàn, quân chủng trở lên khi được thư viện quân đội mời làm diễn giả trong các sự kiện sách tổ chức trong thời gian đó.

Năm 2007 nhà thơ Vũ Cao mất. Báo đặt tôi viết bài 500 chữ tưởng nhớ ông. Tôi viết được ngay, nhưng lại vướng cái tên bài. Cuối cùng tôi đã chọn được cái tên cho bài viết ngắn của mình từ một câu thơ trong bài thơ nổi tiếng Núi Đôi của ông mà chỉ thay hai chữ. Câu thơ gốc là “Núi vẫn đôi mà anh mất em”, tôi sửa lại “Núi vẫn đôi mà thơ mất ông” (Tuổi trẻ, 4/12/2007). Bài ra được bạn bè khen cái “tít”, tôi cười: có lẽ cả bài chỉ được cái tên bài, mà đó là của nhà thơ, đâu phải của mình.

Năm 2008 tôi đến Huế xem festival. Vừa tới khách sạn đang đứng ở quầy lễ tân thì có điện thoại từ báo gọi đến. - Nhà thơ Xuân Sách mất rồi, anh biết chưa? - Chưa. - Anh đang ở đâu? - Ở Huế, đang chờ lấy phòng khách sạn. - Lấy phòng rồi anh viết ngay cho em một bài về Xuân Sách nhé, mai đăng. Thế là tôi chỉ kịp nhận phòng xong là ngồi viết luôn. Với Xuân Sách, cũng như Vũ Cao, tôi có quen biết, được nhiều dịp chuyện trò, đàm luận với hai ông nên tư liệu, sự kiện tôi sẵn có để viết được bài nhanh. Nhưng lần này bài về Xuân Sách tôi nghĩ ra cái tên bài trước rồi mới viết. Cái tên Người đi đường chúng ta (Tuổi trẻ, 6/2008) là dựa ý trên lời thơ của ông trong bài thơ được nhạc sĩ Huy Du phổ nhạc thành bài hát quen thuộc Đường chúng ta đi.

Năm 2010 tôi đang ở TP Hồ Chí Minh dự hội thảo quốc tế về văn học Việt Nam - Nhật Bản. Đang giữa cuộc thì tôi được tin nhà thơ Hữu Loan mất và lập tức có ngay những cú điện thoại các báo đặt bài. Trưa ấy tôi đành lỡ cuộc vui gặp mặt bạn bè các nơi về hội thảo để nhốt mình trong phòng khách sạn viết ngay bài về Hữu Loan. Tài liệu về nhà thơ tôi đã đọc nhiều, nhớ sẵn. Mấy năm cuối đời ông, tôi lại hay về thăm ông ở vùng quê Thanh Hóa. Những hiểu biết về đời và thơ ông đã được tôi gói gọn trong bài viết. Nhưng tên bài thế nào đây? May sao cũng lại nhà thơ đã cho tôi. Hữu Loan rất nổi tiếng với bài thơ Màu tím hoa sim. Và ông cũng rất nổi tiếng về sự cương trực khẳng khái như trong một bài thơ ông đã gọi mình là “cây gỗ vuông” không chịu bị bào mòn góc cạnh để tròn như bánh xe dễ lăn đi. Eureka! Tôi đã tìm ra cái tên cho bài viết tưởng nhớ ông: Hữu Loan - cây gỗ vuông màu tím (Tuổi trẻ, 20/3/2010).

Kể mấy chuyện trên để thấy chỉ nội đặt cái tên bài không thôi người viết báo văn nghệ đã phải tích lũy hiểu biết, tri thức về nhân vật nhiều, rộng, và sâu. Cái tên sẽ định vị cho nội dung bài viết, ít nhất đấy cũng là kinh nghiệm của tôi. Cái tên bài hay trong kiểu bài này có khi lại trở thành định danh cho nhân vật. Mấy năm qua tôi giữ mục “Đọc sách cùng bạn” cho báo điện tử Dân Việt của báo Nông thôn ngày nay. Bình thường ra thì tên mỗi bài viết chỉ cần đưa tên sách là xong. Nhưng không, tôi luôn đặt cho mỗi bài một cái tên riêng, trước khi đưa tên cuốn sách mình giới thiệu ra.

Ở trên dẫu sao vẫn là chuyện dùng văn để viết báo về văn. Nhưng ngay cả khi viết về thể thao, cụ thể là bóng đá, tôi cũng dùng văn. Vì tôi không phải viết bình luận bóng đá, không phân tích đội hình chiến thuật lối chơi, không đánh giá năng lực trình độ chuyên môn cầu thủ. Tôi viết những cảm xúc suy nghĩ của mình quanh một sự kiện, hiện tượng nào đó xảy ra trên sân cỏ hoặc trong phòng thay đồ hoặc trong cuộc sống riêng tư có ảnh hưởng xã hội của người chơi bóng.

Năm 2009 SEA Games 25 tổ chức tại Lào. Đội tuyển bóng đá nữ Việt Nam lần thứ 6 giành chức vô địch ở sân chơi này. Báo gọi điện cho tôi đặt bài viết bình luận về thành tích vang dội đó. Tôi nghĩ tới các cô gái của chúng ta không quản ngại gian lao, vất vả, cực nhọc đã mang vinh quang về cho Tổ quốc trên đấu trường thể thao khu vực. Và tôi khóc trước chiến thắng của các em trên sân cỏ. Tôi khóc cho em và cho tôi, đó là tên bài viết (Tuổi trẻ, 17/2/2009). Khóc cho em vì chiến thắng, vì sự khổ luyện và thi đấu, vì sự hân hoan của người hâm mộ cho bóng đá nữ không bằng bóng đá nam, vì phận đời con gái sau nghiệp quần đùi áo số. Khóc cho tôi vì chịu ơn các em đã mang lại niềm vui, niềm tự hào, và vì những điều tôi đã khóc cho em. Trong bài có hai lần tôi dẫn thơ. Lần đầu ở đoạn khóc cho em vì sự khổ luyện trên sân: “Khi em tập thì huân chương chưa có/ Có gì đâu cho cổ vũ reo hò/ Khi cả nước mừng vui ngôi hậu/ Mùa xuân con gái đã bên kia. Tôi mượn lời thơ của một nhà thơ ứng vào cho em, khóc mừng chiến thắng cùng em.” Bài thơ tôi mượn là của nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại viết về các cô gái ở nông trường cam, tôi giữ lại câu cuối và biến tấu ba câu trên cho hợp cảnh. Nguyên văn bài thơ Ở nông trường: Khi em đến thì mùa xuân chưa đến/ Có gì đâu cho ai biết theo về/ Giờ anh tới - nông trường cam chín/ Mùa xuân con gái đã bên kia. Lần sau ở đoạn khóc cho em vì sự thiệt hơn của bóng đá nữ và bóng đá nam: “Tôi chạnh lòng giữa lúc vui có nên chăng. Dẫu thế, em hãy đá quả bóng về phía tôi. Vì tôi hiểu: Có những kẻ đến đây/ Ngợi ca đào nở rộ/ Chân tình nhất những ai/ Đến sau mùa hoa nở. Bài dân ca Nhật Bản nói thế. Tôi sợ rồi những dòng tin cảnh ngộ em nay mai làm tôi khóc những giọt nước mắt cay đắng. Thì hãy cứ khóc vui hôm nay cho thỏa cái đích đã đạt, ước mơ đã thành.” Bài báo này của tôi đã được ban biên tập báo thưởng 100%, nhuận bút triệu hai thành hai triệu tư.

Năm 2010, ngày 21/3, trong một trận bóng trên sân Cao Lãnh, vì không đồng tình trước quyết định cho đội CS Đồng Tháp hưởng quả phạt ở những giây bù giờ, tiền đạo đội trưởng Lê Công Vinh của đội Hà Nội T&T đã có hành động đưa hai tay lên đầu “vái lạy” trọng tài chính Vũ Bảo Linh. Việc này đã khiến dư luận bất bình. Lập tức tôi được báo đặt bài viết về sự kiện đó. Ôi, nếu bình luận khô khan về đạo đức thì tôi chịu. May sao tôi nhớ đến một bài thơ của Hàn Mặc Tử có hình ảnh chắp tay lạy: Bây giờ tôi dại tôi điên / Chắp tay tôi lạy cả miền nhân gian. Thế là bài viết xuất hiện với đầu đề Chắp tay tôi lạy… (Tuổi trẻ, 25/3/2010). Tôi viết: “Cái chắp tay trên sân bóng là lúc Vinh như bị một cơn cuồng loạn của tâm trí, thể trí khiến bây giờ tôi dại tôi điên, làm một việc mà không hiểu vì sao mình làm, làm trong cơn căng thẳng của một trận đấu bóng không chỉ có đôi chân là chạy mà còn là sự tương tác của các cơ thể người và đầu óc người, giữa ranh giới hữu thức và vô thức bị đẩy đến tột điểm ở trạng thái ức chế bùng nổ và bột phát thành một cử chỉ, một biểu hiện. Cử chỉ vái lạy ở một không gian khác, trong một hoàn cảnh khác, trước một đối tượng khác đó là sự kính trọng và khâm phục, là một thái độ thiêng. Nhưng vái lạy trên sân cỏ trước trọng tài, “vái sống”, thì là thái độ tục. Một cầu thủ bình thường đã không nên và không được làm thế. Một cầu thủ tên tuổi, một ngôi sao sân cỏ như Công Vinh lại càng rất không nên và không được làm thế. […] Tôi, người viết bài này, xin chắp tay vái lạy thi sĩ họ Hàn xá tội đã cho tôi mượn hai câu thơ của chàng để nói về bóng đá và cầu thủ, trong một trường hợp mà Công Vinh và VFF đều đáng chắp tay tôi lạy khắp miền không gian.”

Sau sự kiện này hai tháng, trước tình trạng bạo lực sân cỏ có chiều hướng gia tăng, báo lại đặt tôi viết bài về hiện tượng này. Tôi đã lấy bài thơ Nhịp điệu bóng đá của nhà thơ Nguyễn Duy viết trong không khí “mùa hè España” (1982) làm khung để nói Dân bóng đá nếu biết đọc thơ… (Tuổi trẻ, 2/5/2010) vì chính con trai nhà thơ là phóng viên thể thao của một tờ báo ra sân tác nghiệp trong một trận đấu đã bị thu máy ảnh và bắt xóa ảnh trong máy. “Dân bóng đá nếu biết đọc thơ” thì “họ đã biết các nhà thơ gọi những trận đá bóng là “bài thơ sân cỏ” và tôn vinh các cầu thủ trên sân là những “nhà thơ sân cỏ”. Họ sẽ sung sướng và tự hào cả trong lẫn ngoài sân cỏ. Họ sẽ lâng lâng niềm vui mỗi khi bước ra sân cỏ, chạm chân vào bóng. Họ sẽ cảm ơn các nhà thơ đã biến một trò chơi chạy và sút thành một sự bay bổng sáng tạo”; “Dân bóng đá nếu biết đọc thơ” thì “họ đã phải biết day dứt lương tâm khi lao vào triệt hạ nhau bằng những cú đá kinh người, gây sát thương nặng nề nghiêm trọng cho các cầu thủ cũng là người chơi như mình; đã phải chùn tay khi giật máy ảnh của phóng viên đang tác nghiệp và thô bạo hèn hạ xóa những hình ảnh làm chứng cho những hành động phản thể thao, phản thơ, phản nhân tính trên sân cỏ.” Cách viết này tôi vẫn tiếp tục áp dụng khi giữ mục “Góc nhìn Phạm Xuân Nguyên” trên báo Nông thôn ngày nay mùa Euro 2012 và World Cup 2014. Giải diễn ra cả tháng, ngày nào tôi cũng có bài.

Tôi kể mấy câu chuyện của tôi dùng văn chương trong viết báo như là một kinh nghiệm cá nhân. Đây là trường hợp của tôi, một người không phải làm báo mà làm văn. Tôi cũng chỉ mới lấy thí dụ ở Tuổi trẻ, một tờ báo mà tôi cộng tác khá thường xuyên, để nói rằng phải có sự đồng cảm giữa tòa soạn và người viết thì mới có thể chấp nhận một cách viết như vậy.

Nguồn: Báo Văn nghệ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm
Nấm Dẩn, một sinh thái trong lành – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Chiều buông, rời bước ra khỏi bãi đá cổ, lòng tôi cứ bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa hoang dại, vừa tôn nghiêm của vùng cao biên giới Nấm Dẩn. Những địa danh như đèo Gió, thác Tiên, hay bãi đá cổ Nấm Chanh giờ đây không còn là những cái tên vô danh giữa đại ngàn heo hút mà đã được định danh trên bản đồ di sản nước nhà. Di tích Bãi đá cổ bản Nấm Chanh ở xã Nấm Dẩn đã được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 2008 và khu danh lam thác Tiên - đèo Gió cũng được xếp hạng thắng cảnh quốc gia vào năm 2009. Nhưng rồi lại nghĩ, bản đồ du lịch ở Nấm Dẩn đã mở ra nhưng giao thông và hạ tầng ở đây còn chưa theo kịp. Muốn nhiều người biết hơn nữa về những thắng cảnh và di sản ở Nấm Dẩn đường đi và các dịch vụ chắc chắn phải đi trước một bước để đón chân du khách. Nghĩ thế, rồi lại nhìn sang những vùng đất khác. Du lịch mở ra và bản sắc văn hoá cứ mất dần vì làn sóng thương mại hóa. Bất giác, tôi giật mình và tự hỏi: liệu một mai, khi rộn rã thanh âm của những bước chân du lịch, Nấm Dẩn có còn giữ nổi cho mình là một sinh thái trong lành nữa hay không?
Xem thêm
Chân mây 6 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Thành Tuyên trong câu chuyện thời thiếu nữ của ai. Trong rung động thời trai trẻ của ai. Hương hoa rừng ngào ngạt. Đồi núi bạt ngàn xanh mướt. Những bông hoa gạo nóng bỏng. Những dây leo lộng lẫy hoa vàng. Những viên gạch cổ rêu phong thiêng liêng. Và sông Lô hào hùng. Sông Lô dạt dào sóng nước.
Xem thêm
Chuyện về nhà thơ Hoa Níp sau 10 năm rời cõi tạm
Hoa Nip là nhà thơ trẻ từng tham gia hoạt động trong Ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn TP.HCM do nhà thơ Phan Hoàng làm trưởng ban. Dù sinh sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng mỗi khi Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức các chuyến đi thực tế, sáng tác anh đều tham gia và hoạt động rất tích cực. Trong quan hệ đồng nghiệp, anh được bạn bè yêu thương, trân quý. Trong sáng tác anh được đánh giá là một nhà văn trẻ giàu triển vọng. Nhưng cuộc đời quả vô thường, năm 2016, một tai nạn thương tâm xảy ra đã cướp đi sinh mạng của anh trong sự đau đớn và tiếc thương của gia đình và đồng nghiệp. Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Hoa Nip, Phùng Hiệu xin giới thiệu bài viết của cha anh - tác giả Trần Vinh.
Xem thêm
Cái đẹp đời thường trong tranh họa sĩ Vũ Dương - Bút ký Trần Trung Sáng
“Vẽ cuộc đời bằng cảm xúc” là chủ đề chương trình giới thiệu cuốn sách tranh của họa sĩ Vũ Dương do Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng phối hợp với Chi hội Mỹ thuật Việt Nam tại Đà Nẵng và gia đình họa sĩ Vũ Dương tổ chức trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua.
Xem thêm
Hành trình lan tỏa tình yêu biển đảo từ những lá cờ Tổ quốc mang dấu Trường Sa
Giữa mênh mông biển trời, lá cờ Tổ quốc tung bay trên các điểm đảo thuộc Quần đảo Trường Sa không chỉ khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam, mà còn nhắc nhở mỗi người dân đất Việt về trách nhiệm gìn giữ biển đảo quê hương bằng những hành động thiết thực, từ những điều giản dị nhất.
Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm