TIN TỨC

Dân văn viết báo - Phạm Xuân Nguyên

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-20 10:34:15
mail facebook google pos stwis
958 lượt xem

PHẠM XUÂN NGUYÊN

Tôi là dân văn nên khi viết báo ở lĩnh vực văn hay ngoài văn đều dùng văn để viết sao cho bài báo có văn.

Những khi có các sự kiện, kỳ cuộc văn chương, hay khi có các nhà văn nhà thơ qua đời, các báo đều muốn có bài nhanh chóng, kịp thời,thế là họ gọi cho các chuyên gia trong nghề vì đấy là những người có thể viết nhanh, viết đúng về việc đó, người đó. Tôi cũng hay được gọi “ứng chiến” như vậy và hầu như tôi đều nhận lời.

Dân văn viết báo tôi luôn bắt đầu từ cái đầu đề trở đi. Tính tôi không ưa đặt tên bài theo công thức chung chung, nhàm chán, mà thích bài viết phải có tên gọi, đầu đề khác biệt, ấn tượng. Như hồi làm Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức các cuộc tọa đàm kỷ niệm chẵn năm sinh, năm mất của các nhà văn nhà thơ tên tuổi tôi đều nghĩ ra một tên gọi đích đáng cho cuộc đời và văn nghiệp của từng người. Ví như với Quang Dũng làm hai cuộc thì một là Khúc độc hành và một là Những mùa xanh. Với Hoàng Cầm là Mắt thời gian. Với Xuân Diệu là Người tình si. Với Hoàng Công Khanh là Ba bảy chín. Với Đoàn Phú Tứ là Màu thời gian… Tôi cũng đã từng đặt lại tên cho tác phẩm của bạn bè. Như truyện ngắn Hậu thiên đường (tên bản thảo là Trầm luân) của Nguyễn Thị Thu Huệ, hay tập tản văn Ký ức vụn (tên bản thảo là Những mảnh vụn ký ức) của Nguyễn Quang Lập, hay cuốn tự truyện Lê Vân yêu và sống (tên bản thảo Lê Vân và những người tình) của Bùi Mai Hạnh (chấp bút), tập thơ Giọt đàn bà (tên bản thảo Gửi những mùa yêu) của Nguyễn Thị Thanh Yến. Nói thế để thấy cái tên cho một sản phẩm viết là rất quan trọng, dù đó là một bài báo, một cuốn sách, hay một tọa đàm, hội thảo. Tôi xin kể mấy trường hợp đặt tên bài trong một số bài tôi viết cho báo Tuổi trẻ.


Nhà Lý luận phê bình Phạm Xuân Nguyên.

Năm 2005, khi cuốn sách Nhật ký Đặng Thùy Trâm xuất bản, báo đặt tôi viết bài. Trước đó tôi đã có bài về cuốn nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc cũng trên báo này. Bài đó và bài này đều được yêu cầu phải viết sao cho xúc động, vừa có ý hướng giáo dục thanh niên, vừa giới thiệu được cuốn sách. Để viết được thế tôi đã phải khá chật vật, đến mức kéo dài thời gian hẹn bài của tòa soạn đến một tuần. Cuối cùng bài cũng xong nhưng tôi loay hoay chuyện tên bài. Nghĩ mãi không biết nên đặt thế nào. Rồi tôi chợt nhớ ra chị Trâm là bác sĩ, bàn tay chị đã cầm dao mổ ở chiến trường, và đã có lúc mong mỏi đến tuyệt vọng muốn có được một bàn tay cầm lấy khi phải một mình trong vòng vây kẻ thù. Từ đó tôi đã nghĩ ra tên bài Bàn tay vẫy những bàn tay, khi lên báo đổi thành Bàn tay chị đang chờ bàn tay bạn (Tuổi trẻ, 29/7/2005). Sau này có một chương trình truyền hình làm về hai cuốn nhật ký của chị Trâm anh Thạc hình như có dùng lại cái tên bài ban đầu của tôi. Nhờ nghĩ ra hình tượng bàn tay nên ngay vào bài tôi đã khái quát hai cuốn nhật ký chiến trường đó là “bàn chân vào chiến trường” (Nguyễn Văn Thạc) và “bàn tay giữa chiến trường” (Đặng Thùy Trâm). Đây cũng là cái trục bài nói chuyện của tôi về hai cuốn nhật ký này cho các đơn vị quân đội từ cấp sư đoàn, quân chủng trở lên khi được thư viện quân đội mời làm diễn giả trong các sự kiện sách tổ chức trong thời gian đó.

Năm 2007 nhà thơ Vũ Cao mất. Báo đặt tôi viết bài 500 chữ tưởng nhớ ông. Tôi viết được ngay, nhưng lại vướng cái tên bài. Cuối cùng tôi đã chọn được cái tên cho bài viết ngắn của mình từ một câu thơ trong bài thơ nổi tiếng Núi Đôi của ông mà chỉ thay hai chữ. Câu thơ gốc là “Núi vẫn đôi mà anh mất em”, tôi sửa lại “Núi vẫn đôi mà thơ mất ông” (Tuổi trẻ, 4/12/2007). Bài ra được bạn bè khen cái “tít”, tôi cười: có lẽ cả bài chỉ được cái tên bài, mà đó là của nhà thơ, đâu phải của mình.

Năm 2008 tôi đến Huế xem festival. Vừa tới khách sạn đang đứng ở quầy lễ tân thì có điện thoại từ báo gọi đến. - Nhà thơ Xuân Sách mất rồi, anh biết chưa? - Chưa. - Anh đang ở đâu? - Ở Huế, đang chờ lấy phòng khách sạn. - Lấy phòng rồi anh viết ngay cho em một bài về Xuân Sách nhé, mai đăng. Thế là tôi chỉ kịp nhận phòng xong là ngồi viết luôn. Với Xuân Sách, cũng như Vũ Cao, tôi có quen biết, được nhiều dịp chuyện trò, đàm luận với hai ông nên tư liệu, sự kiện tôi sẵn có để viết được bài nhanh. Nhưng lần này bài về Xuân Sách tôi nghĩ ra cái tên bài trước rồi mới viết. Cái tên Người đi đường chúng ta (Tuổi trẻ, 6/2008) là dựa ý trên lời thơ của ông trong bài thơ được nhạc sĩ Huy Du phổ nhạc thành bài hát quen thuộc Đường chúng ta đi.

Năm 2010 tôi đang ở TP Hồ Chí Minh dự hội thảo quốc tế về văn học Việt Nam - Nhật Bản. Đang giữa cuộc thì tôi được tin nhà thơ Hữu Loan mất và lập tức có ngay những cú điện thoại các báo đặt bài. Trưa ấy tôi đành lỡ cuộc vui gặp mặt bạn bè các nơi về hội thảo để nhốt mình trong phòng khách sạn viết ngay bài về Hữu Loan. Tài liệu về nhà thơ tôi đã đọc nhiều, nhớ sẵn. Mấy năm cuối đời ông, tôi lại hay về thăm ông ở vùng quê Thanh Hóa. Những hiểu biết về đời và thơ ông đã được tôi gói gọn trong bài viết. Nhưng tên bài thế nào đây? May sao cũng lại nhà thơ đã cho tôi. Hữu Loan rất nổi tiếng với bài thơ Màu tím hoa sim. Và ông cũng rất nổi tiếng về sự cương trực khẳng khái như trong một bài thơ ông đã gọi mình là “cây gỗ vuông” không chịu bị bào mòn góc cạnh để tròn như bánh xe dễ lăn đi. Eureka! Tôi đã tìm ra cái tên cho bài viết tưởng nhớ ông: Hữu Loan - cây gỗ vuông màu tím (Tuổi trẻ, 20/3/2010).

Kể mấy chuyện trên để thấy chỉ nội đặt cái tên bài không thôi người viết báo văn nghệ đã phải tích lũy hiểu biết, tri thức về nhân vật nhiều, rộng, và sâu. Cái tên sẽ định vị cho nội dung bài viết, ít nhất đấy cũng là kinh nghiệm của tôi. Cái tên bài hay trong kiểu bài này có khi lại trở thành định danh cho nhân vật. Mấy năm qua tôi giữ mục “Đọc sách cùng bạn” cho báo điện tử Dân Việt của báo Nông thôn ngày nay. Bình thường ra thì tên mỗi bài viết chỉ cần đưa tên sách là xong. Nhưng không, tôi luôn đặt cho mỗi bài một cái tên riêng, trước khi đưa tên cuốn sách mình giới thiệu ra.

Ở trên dẫu sao vẫn là chuyện dùng văn để viết báo về văn. Nhưng ngay cả khi viết về thể thao, cụ thể là bóng đá, tôi cũng dùng văn. Vì tôi không phải viết bình luận bóng đá, không phân tích đội hình chiến thuật lối chơi, không đánh giá năng lực trình độ chuyên môn cầu thủ. Tôi viết những cảm xúc suy nghĩ của mình quanh một sự kiện, hiện tượng nào đó xảy ra trên sân cỏ hoặc trong phòng thay đồ hoặc trong cuộc sống riêng tư có ảnh hưởng xã hội của người chơi bóng.

Năm 2009 SEA Games 25 tổ chức tại Lào. Đội tuyển bóng đá nữ Việt Nam lần thứ 6 giành chức vô địch ở sân chơi này. Báo gọi điện cho tôi đặt bài viết bình luận về thành tích vang dội đó. Tôi nghĩ tới các cô gái của chúng ta không quản ngại gian lao, vất vả, cực nhọc đã mang vinh quang về cho Tổ quốc trên đấu trường thể thao khu vực. Và tôi khóc trước chiến thắng của các em trên sân cỏ. Tôi khóc cho em và cho tôi, đó là tên bài viết (Tuổi trẻ, 17/2/2009). Khóc cho em vì chiến thắng, vì sự khổ luyện và thi đấu, vì sự hân hoan của người hâm mộ cho bóng đá nữ không bằng bóng đá nam, vì phận đời con gái sau nghiệp quần đùi áo số. Khóc cho tôi vì chịu ơn các em đã mang lại niềm vui, niềm tự hào, và vì những điều tôi đã khóc cho em. Trong bài có hai lần tôi dẫn thơ. Lần đầu ở đoạn khóc cho em vì sự khổ luyện trên sân: “Khi em tập thì huân chương chưa có/ Có gì đâu cho cổ vũ reo hò/ Khi cả nước mừng vui ngôi hậu/ Mùa xuân con gái đã bên kia. Tôi mượn lời thơ của một nhà thơ ứng vào cho em, khóc mừng chiến thắng cùng em.” Bài thơ tôi mượn là của nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại viết về các cô gái ở nông trường cam, tôi giữ lại câu cuối và biến tấu ba câu trên cho hợp cảnh. Nguyên văn bài thơ Ở nông trường: Khi em đến thì mùa xuân chưa đến/ Có gì đâu cho ai biết theo về/ Giờ anh tới - nông trường cam chín/ Mùa xuân con gái đã bên kia. Lần sau ở đoạn khóc cho em vì sự thiệt hơn của bóng đá nữ và bóng đá nam: “Tôi chạnh lòng giữa lúc vui có nên chăng. Dẫu thế, em hãy đá quả bóng về phía tôi. Vì tôi hiểu: Có những kẻ đến đây/ Ngợi ca đào nở rộ/ Chân tình nhất những ai/ Đến sau mùa hoa nở. Bài dân ca Nhật Bản nói thế. Tôi sợ rồi những dòng tin cảnh ngộ em nay mai làm tôi khóc những giọt nước mắt cay đắng. Thì hãy cứ khóc vui hôm nay cho thỏa cái đích đã đạt, ước mơ đã thành.” Bài báo này của tôi đã được ban biên tập báo thưởng 100%, nhuận bút triệu hai thành hai triệu tư.

Năm 2010, ngày 21/3, trong một trận bóng trên sân Cao Lãnh, vì không đồng tình trước quyết định cho đội CS Đồng Tháp hưởng quả phạt ở những giây bù giờ, tiền đạo đội trưởng Lê Công Vinh của đội Hà Nội T&T đã có hành động đưa hai tay lên đầu “vái lạy” trọng tài chính Vũ Bảo Linh. Việc này đã khiến dư luận bất bình. Lập tức tôi được báo đặt bài viết về sự kiện đó. Ôi, nếu bình luận khô khan về đạo đức thì tôi chịu. May sao tôi nhớ đến một bài thơ của Hàn Mặc Tử có hình ảnh chắp tay lạy: Bây giờ tôi dại tôi điên / Chắp tay tôi lạy cả miền nhân gian. Thế là bài viết xuất hiện với đầu đề Chắp tay tôi lạy… (Tuổi trẻ, 25/3/2010). Tôi viết: “Cái chắp tay trên sân bóng là lúc Vinh như bị một cơn cuồng loạn của tâm trí, thể trí khiến bây giờ tôi dại tôi điên, làm một việc mà không hiểu vì sao mình làm, làm trong cơn căng thẳng của một trận đấu bóng không chỉ có đôi chân là chạy mà còn là sự tương tác của các cơ thể người và đầu óc người, giữa ranh giới hữu thức và vô thức bị đẩy đến tột điểm ở trạng thái ức chế bùng nổ và bột phát thành một cử chỉ, một biểu hiện. Cử chỉ vái lạy ở một không gian khác, trong một hoàn cảnh khác, trước một đối tượng khác đó là sự kính trọng và khâm phục, là một thái độ thiêng. Nhưng vái lạy trên sân cỏ trước trọng tài, “vái sống”, thì là thái độ tục. Một cầu thủ bình thường đã không nên và không được làm thế. Một cầu thủ tên tuổi, một ngôi sao sân cỏ như Công Vinh lại càng rất không nên và không được làm thế. […] Tôi, người viết bài này, xin chắp tay vái lạy thi sĩ họ Hàn xá tội đã cho tôi mượn hai câu thơ của chàng để nói về bóng đá và cầu thủ, trong một trường hợp mà Công Vinh và VFF đều đáng chắp tay tôi lạy khắp miền không gian.”

Sau sự kiện này hai tháng, trước tình trạng bạo lực sân cỏ có chiều hướng gia tăng, báo lại đặt tôi viết bài về hiện tượng này. Tôi đã lấy bài thơ Nhịp điệu bóng đá của nhà thơ Nguyễn Duy viết trong không khí “mùa hè España” (1982) làm khung để nói Dân bóng đá nếu biết đọc thơ… (Tuổi trẻ, 2/5/2010) vì chính con trai nhà thơ là phóng viên thể thao của một tờ báo ra sân tác nghiệp trong một trận đấu đã bị thu máy ảnh và bắt xóa ảnh trong máy. “Dân bóng đá nếu biết đọc thơ” thì “họ đã biết các nhà thơ gọi những trận đá bóng là “bài thơ sân cỏ” và tôn vinh các cầu thủ trên sân là những “nhà thơ sân cỏ”. Họ sẽ sung sướng và tự hào cả trong lẫn ngoài sân cỏ. Họ sẽ lâng lâng niềm vui mỗi khi bước ra sân cỏ, chạm chân vào bóng. Họ sẽ cảm ơn các nhà thơ đã biến một trò chơi chạy và sút thành một sự bay bổng sáng tạo”; “Dân bóng đá nếu biết đọc thơ” thì “họ đã phải biết day dứt lương tâm khi lao vào triệt hạ nhau bằng những cú đá kinh người, gây sát thương nặng nề nghiêm trọng cho các cầu thủ cũng là người chơi như mình; đã phải chùn tay khi giật máy ảnh của phóng viên đang tác nghiệp và thô bạo hèn hạ xóa những hình ảnh làm chứng cho những hành động phản thể thao, phản thơ, phản nhân tính trên sân cỏ.” Cách viết này tôi vẫn tiếp tục áp dụng khi giữ mục “Góc nhìn Phạm Xuân Nguyên” trên báo Nông thôn ngày nay mùa Euro 2012 và World Cup 2014. Giải diễn ra cả tháng, ngày nào tôi cũng có bài.

Tôi kể mấy câu chuyện của tôi dùng văn chương trong viết báo như là một kinh nghiệm cá nhân. Đây là trường hợp của tôi, một người không phải làm báo mà làm văn. Tôi cũng chỉ mới lấy thí dụ ở Tuổi trẻ, một tờ báo mà tôi cộng tác khá thường xuyên, để nói rằng phải có sự đồng cảm giữa tòa soạn và người viết thì mới có thể chấp nhận một cách viết như vậy.

Nguồn: Báo Văn nghệ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm