TIN TỨC

Trở lại cánh đồng thơ của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-07-11 08:26:47
mail facebook google pos stwis
646 lượt xem

Lê Công Minh

Nhà thơ Y Phương ở miền non nước Cao Bằng đã từng tâm niệm: “Thơ cũng giống như tình yêu. Không có sự run rẩy thì không có thơ“. Quả thực, thơ ca thực sự là kết tinh, là ngọc đọng, là phiến Kỳ nam trong rừng trầm hương, là hạt minh châu trong biển hạt trai, là tinh hoa trong vườn phương thảo.

Nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh

 Quá trình sáng tạo của nhà thơ là sự kết tinh của hồn thơ, sự hòa quyện giữa cảm xúc mãnh liệt và tư tưởng nhân văn cao đẹp cất lên từ hiện thực cuộc đời. Và đó cũng chính là lí do vì sao hai áng thơ “Cánh đồng mẹ tôi” và “Chất vấn cánh đồng” dưới ngòi bút của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả nhiều ấn tượng đẹp.

Thơ ông thể hiện những rung động mãnh liệt, tinh tế, và ấn tượng trong tâm hồn con người trước cuộc sống. Thi ảnh trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh là đời sống tinh thần và tình cảm riêng tư được chắt lọc từ tâm hồn nhà thơ. Hay nói như nhà văn Nguyễn Đình Thi: “Hình ảnh thơ là nơi tư tưởng, cảm xúc của nhà thơ tình tự, quấn quýt như hồn với xác”. Bên cạnh đó, thơ còn là mảnh đất màu mỡ để tác giả gieo trồng những cảm xúc chân thực từ cái tôi cá nhân của chính mình. Những ý tứ trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh đều nén chặt cảm xúc của nhà thơ, dẫn lối người đọc đến thế giới tâm hồn của nhân vật trữ tình trong thơ. Đọc bài “Cánh đồng mẹ tôi” và “Chất vấn cánh đồng,” hai bài thơ của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, tôi chợt nhớ đến một phát biểu về thơ của Tố Hữu: “Thơ là một điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu” bởi dù được sáng tác ở hai thời điểm khác nhau nhưng đều cho thấy những rung cảm đầu đời với những kỉ niệm về quê hương, gắn bó với đồng quê đến tận bây giờ qua hai bài thơ của ông.

Ông Nguyễn Vũ Quỳnh thuộc thế hệ thanh niên dấn thân yêu đời từ con nhà nông cầm súng ra trận trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Rời chiến trận trở lại giảng đường đi tới cánh đồng văn chương bởi vậy thơ ông thường mang đậm chất đồng quê. Trước hết bàn về tác phẩm “Cánh đồng mẹ tôi”, người đọc dễ dàng nhận ra xuyên suốt bài thơ là những kỉ niệm tuổi thơ của chính tác giả, những điều giản dị nhưng lại hình thành nên cốt cách, con người ông qua hình ảnh làng quê xưa. Từ những lúc hạn hán khiến cho mùa màng bị ảnh hưởng, sông không có nước, cánh cò cáy cua cũng gầy, thiếu sức sống. Hay là những kỉ niệm về con đường quê xưa cũ nơi luôn gắn bó với tác giả khi còn nhỏ chân lấm bùn, miệng hát những câu hò trong veo. Cái trong veo đó theo nghĩa đẹp từ cuộc sống giản dị đến không khí trong lành mà câu hò cũng trong veo.

 Đó là:

“Trên bàn đám cưới hoa dong

Con sông trở dạ đục trong đôi bờ

Đường quê cái thuở dại khờ

Bùn nâu chân đất câu hò trong veo”

                           (Cánh đồng Mẹ tôi)

Khác so với thời đại bây giờ, khi đám cười cô dâu trên tay hoa hồng, lay-zơn. Xưa kia chỉ có hoa dong đặt ở trên bàn nhưng mà vẫn hạnh phúc như ai. Con người ta có đủ cơm ăn áo mặc có đa dạng sự lựa chọn trong mỗi bữa ăn, vào mỗi dịp đặc biệt hai món ăn truyền thống “bánh chưng, bánh xèo” cũng trở nên phát ngấy. Nhưng phải sống trong tâm hồn nhà thơ mới hiểu được hoàn cảnh sống thiếu thốn, khó khăn thời ấy khi bánh chưng, bánh xèo là điều xa xỉ với những xóm nghèo đồng quê, căn nhà bé nhỏ chỉ giản dị với “một góc vại dưa”. Khi đọc đến khổ thơ thứ tư có lẽ nơi ấy tràn ngập sự luyến tiếc xen lẫn chút mừng vui của tác giả khi chị gái đi lấy chồng, vui vì cuộc đời chị đã có niềm vui hạnh phúc:

“Bầu trời thiêu cháy cỏ hoang

Vẫn vang vọng tiếng dô khoan bến Sòng

Cái ngày chị đi lấy chồng

Hoa chuối thắm đỏ bờ sông cầu vồng”.

                         (Cánh đồng Mẹ tôi)

Có phần khác biệt với những khổ thơ phía trên, khổ thơ cuối chỉ có vỏn vẹn hai câu nhưng là hai câu kết chất chứa ý tứ niềm vui hy vọng được mùa ở cái đất quê nghèo:

“Cái ngày cây lúa trổ bông

Lời ru gặt giữa cánh đồng mẹ tôi”

                         (Cánh đồng Mẹ tôi)

Có lẽ cái thời điểm cây lúa trổ bông, đến mùa thu hoạch cũng là lúc chủ thể trữ tình lại cảm nhận được những lời ru của mẹ, lời ru ấy gắn liền, đi theo ông trong suốt hành trình dài của cuộc đời. Một lời ru tha thiết, trìu mến, ủ chín yêu thương.

Cũng là một tác phẩm mang chất đồng quê khác của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh đó là bài “Chất vấn cánh đồng”. Vẫn là những hình ảnh đồng quê gắn liền trong hành trình trưởng thành của tác giả như lúa, khoai, những đứa trẻ với mong ước lớn lên trở thành những con người đem theo hoài bão, ước mơ, lí tưởng cao đẹp, “như hương hoa cải”. Ông đặt tên cho bài thơ “Chất vấn cánh đồng” và xem như Cánh đồng cũng là một chủ thể để chất vấn. Ông chất vấn gì đây?

“Bên kia cánh đồng làng. Khoai

Bên này cánh đồng làng. Lúa

Lớn lên chúng mình như hương hoa cải

Bay xa để lại quê nhà

Người trẻ bây giờ đi xa

Mấy ai hiểu muối trắng trên vai áo Cha

Mồ hôi ướt đầm sau lưng áo Mẹ

Để có cánh đồng bên con suối, bờ sông

Để có cánh cò khiêng nắng mênh mông

Để có dẻo thơm hạt gạo trắng ngần

Để góp phần đánh tháng ngoại xâm”

                      (Chất vấn cánh đồng)

Tình mẫu tử, phụ tử thường mang tính biểu tượng nhưng trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh lại mang tính nhân văn sâu sắc. Qua cách ông sử dụng tinh tế nghệ thuật điệp ngữ kết hợp điệp cấu trúc câu, đã gieo vào lòng người nhiều suy tư về những vất vả của người làm cha mẹ, những con người tần tảo, giàu đức hi sinh suy cho cùng tất cả điều ấy cũng là vì con cháu. Sang tới khổ thơ thứ ba, nơi tràn ngập nỗi niềm băn khoăn, trăn trở của chính tác giả, thời ấy ông còn trẻ, vô tư hồn nhiên chưa hiểu hết được cái vất vả của cha mẹ. Điều ấy được thể hiện tinh tế qua câu thơ so sánh “Vô tư như mây trời đỏng đảnh đáy sông” và nghệ thuật điệp ngữ “Chưa biết lẽ đời, chưa hiểu hết nhà nông”, “mây trời đỏng đảnh”. Hiểu được hoàn cảnh của người thi sĩ, người đọc chắc hẳn lí giải được sự luyến tiếc xen lẫn chút bâng khuâng khi làng quê giờ đây không còn mang tiếng quê như trước nữa, những hình ảnh quen thuộc gắn bó với tác giả thời ấu thơ giờ đây cũng chẳng thắng nổi cái dòng chảy vô tận của thời gian, những hình ảnh được tác giả bộc lộ, chất vấn xuyên suốt khổ thơ cuối của tác phẩm bằng khổ thơ lục bát chất chứa cảm xúc mất mát cái vô tư của thời tuổi trẻ và nhất là quê mất cả dòng sông xưa và đó cũng là tại sao?

“Đâu rồi bông trắng như mây

Để cho con cháu về đây thuở nào

Lạnh về ngọn gió hanh hao

Con sông không chảy ồn ào quê xưa

Làng không còn tiếng võng đưa

Trẻ không còn tắm dưới mưa tồng ngồng

Chia xa rũ rượi cánh đồng

Chiều qua quê mất cả dòng sông xưa”

                              (Chất vấn cánh đồng)

Cũng bàn về thơ, Pau Tốp Ski nhà thơ nổi tiếng người Nga cho rằng: “Phải sống trong hồn nhà thơ mới hiểu được triết lí thơ của tác giả”. Khi ta sống trong hồn nhà thơ, ta sẽ nhận ra những nét tương đồng và khác biệt trong hai tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh. Ta dễ dàng nhận thấy cả hai bài thơ giống như một câu chuyện về cánh đồng của tác giả, giản dị và chân thành. Lời thơ nhẹ nhàng, tự nhiên, ngôn từ không một chút gọt giũa công phu nhưng lại đẹp, mang chất lắng sâu của đồng quê và tính triết lí sâu sắc. Còn sự khác biệt nằm ở chỗ hai tác phẩm được sáng tác vào hai thời điểm khác nhau, khi tác giả còn trẻ và khi ông trưởng thành. Đặc biệt hơn ở tác phẩm thứ hai “Chất vấn cánh đồng”, lời thơ như những lời giãi bày trong tâm hồn tác giả về những cái mất mát ở đồng quê và cảm thương cho sự vất vả của cha mẹ qua cách ông sử dụng thể thơ tự do và kết bằng khổ thơ lục bát đượm buồn của thời thế hôm nay. Ngược lại bài thơ “Cánh đồng mẹ tôi” lại theo thể thơ lục bát, tác phẩm này có phần ngắn hơn về mặt dung lượng nhưng lại đầy ắp những kỉ niệm khó quên thời xa xưa của chủ thể trữ tình. Chính sự khác biệt trong thời điểm sáng tác, thể thơ đã khắc sâu thêm vẻ đẹp của mỗi tác phẩm.

Nếu “Cánh đồng mẹ tôi” hay ở những bút pháp nghệ thuật tài hoa, ngôn từ được minh họa những đẹp một cách dịu dàng thì “Chất vấn cánh đồng” để lại những triết lí sâu sắc, mất mát về đồng quê thời công nghiệp hóa về nơi ông sinh ra và lớn lên. Hai tác phẩm thơ với những nét tình tứ nối tiếp hình ảnh đẹp để đến cuối cùng người đọc nhận ra cái đẹp, cái hay đôi khi lại nằm ngay trong những điều giản dị, bình thường, đôi khi ở những điều bình dị, thân quen tưởng chừng không thể nào thành thơ mà trở thành thơ thật, bởi cảm xúc sáng tạo lay động từ trái tim thi sĩ.

Không phải ngẫu nhiên mà cha đẻ của thi ca Hy Lạp: Hô-Me-Rơ đã nói: “Một mũi tên và một ngòi bút có thể đâm xuyên qua trái tim của con người”. Bởi lẽ nếu mũi tên làm trái tim rỉ máu, thì ngòi bút lại làm cho trái tim ta rộng mở. Và chắc chắn, trái tim của ta sẽ rộng lớn hơn khi thấm vào trong đó là câu chữ của người cầm bút Nguyễn Vũ Quỳnh cùng hai áng thơ với vẻ đẹp của đồng quê “Cánh đồng mẹ tôi” và “Chất vấn cánh đồng” hấp dẫn làm rung động xao xuyến con tim người đọc. Xin chúc ông sức khỏe, có thêm nhiều tác phẩm thơ hay nữa.

Hà Nội ngày 20/11/2024

L.C.M

* Tác giả Lê Công Minh – học sinh lớp 12, Trường Trần Nhân Tông, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm