TIN TỨC

Vai trò của chúa Trịnh với thương cảng Phố Hiến

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-07-13 21:30:04
mail facebook google pos stwis
157 lượt xem

Suốt chiều dài lịch sử dân tộc Việt Nam, địa danh Phố Hiến vừa thân thương vừa thân thuộc trong trí nhớ mọi người. Phố Hiến từng là một thương cảng lớn sầm uất và quan trọng bậc nhất của xứ Đàng ngoài (miền Bắc Việt Nam).

Đại tá - nhà văn Phùng Văn Khai

Phố Hiến rất quan trọng với các thương đoàn từ khắp nơi trong khu vực và thế giới tới giao thương với Việt Nam. Một thương cảng lừng danh khác là Hội An, theo các nhà nghiên cứu cũng ra đời sau Phố Hiến. Trong hệ thống các đô thị cổ Việt Nam, Phố Hiến luôn đứng ở top đầu, đối sánh và bổ sung, nâng tầm cho Thăng Long - Kẻ Chợ. Trong các bộ sử sách của Việt Nam và về Việt Nam, các học giả trong và ngoài nước đều đánh giá cao Phố Hiến. Có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà sử học đến từ Trung Quốc, Hà Lan, Nhật Bản, Anh, Pháp, Mỹ, Australia... viết về Phố Hiến đã tạo những dấu ấn sâu sắc mang tầm vóc quốc tế. Giới nghiên cứu văn hoá lịch sử trong nước cũng ghi nhận nhiều tên tuổi lớn với những công trình nghiên cứu toàn diện về Phố Hiến. Đây cũng là một niềm tự hào lớn của người Hưng Yên. Trong bài viết này, chúng tôi bước đầu thống kê và đặt ra một số vấn đề trong việc khẳng định trên tinh thần khoa học lịch sử về công lao của các chúa Trịnh với thương cảng Phố Hiến với một giai đoạn lịch sử sôi động, phức tạp, còn nhiều góc khuất nhưng cũng là một giai đoạn lịch sử không thể tách rời trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Sách Đại Nam nhất thống chí mô tả Phố Hiến: “Nơi đây phong vật phồn thịnh, nhà ngói như bát úp” đã cho thấy đặc trưng lớn nhất của Phố Hiến chính là trung tâm cảng thị lớn, ra đời từ động lực phát triển kinh tế trong nước và mang đậm chức năng của một trung tâm kinh tế lớn của đất nước. Phố Hiến còn đảm đương vai trò thực hiện các hoạt động kinh tế đối ngoại của đất nước. Nơi đây được đặt cơ quan công quyền, thay mặt triều đình đảm đương trách nhiệm như một tiềm đồn, một vòng thành bảo vệ, che chắn cho kinh đô Thăng Long. Có thể thấy rằng, vị trí, chức năng, vai trò của Phố Hiến bao trùm nhiều lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế xã hội, bởi vậy dân chúng nhiều đời luôn truyền tụng câu ca:“Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến”. Đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học về Phố Hiến. Có nhiều chương trình nghiên cứu, phân tích, lịch đại, đồng đại, so sánh, đối chiếu, đặt vấn đề nghiên cứu Phố Hiến trong tiến trình lịch sử bằng các phương pháp khoa học, sử học kết hợp với khả cứu các thư tịch, tài liệu, văn bia, sắc phong... để soi tỏ trầm tích lịch sử đến hiện đại của Phố Hiến.

Trong các đấu mốc lịch sử về Phố Hiến, vai trò của các chúa Trịnh là rất quan trọng. Mặc dù vấn đề nội chiến, loạn lạc trong thời Lê - Trịnh khiến triều đình luôn gặp khó khăn về quốc khố trong việc phục vụ chiến tranh, song các chúa Trịnh luôn tỏ ra rất sáng suốt trong việc khuyến khích các thương nhân phát triển kinh tế để đóng góp vào nền kinh tế quốc gia. Chúa Trịnh Doanh từng nhận định: “Ngày nay tài lực của nhân dân thiếu hẳn đi, chỉ còn trông chờ vào bọn phú thương chuyên chở lưu thông từ chỗ có đến chỗ không thì mới tạm đủ.”

Vai trò của các Chúa Trịnh đã khuyến khích toàn diện sự phát triển của Phố Hiến nhất là với giới thương nhân. Triều đình liên tiếp khen thưởng cho các thương nhân có công trong việc luân chuyển và mua bán các loại hàng hoá ích nước lợi dân. Giai đoạn này, triều đình Lê - Trịnh đã bắt đầu đẩy mạnh giao thương với phương Tây, sử dụng các mặt hàng từ các làng nghề trong nước đổi lấy vũ khí và tiền bổ sung quốc khố. Các Chúa Trịnh rất coi trọng quan hệ với Nhật Bản, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho thương thuyền Nhật Bản thông qua cảng thị Phố Hiến. Trong bức thư chúa Trịnh Tráng gửi cho triều đình Nhật Bản có đoạn: “Đại nguyên soái Tổng quốc chính Thanh Đô vương nước An Nam đã xây dựng lại đất nước, khôi phục trung ương, xa thư quy về một mối, lân bang giao hiếu hoà hợp, rộng ban ân trạch, tạo thành nghĩa lớn. Nay nhân vào tiết hạ, thấy các thuyền trưởng của quý quốc Nhật Bản là Giác Tàng (Suminokura) và Mạt Cát (Sueyoshi), tổng cộng 20 chiếc đến nước chúng tôi buôn bán. Chúng tôi muốn phát triển, không dừng lại ở việc buôn bán nhỏ nên thăm hỏi kĩ càng. Nghe nói quốc chủ Nhật Bản vào lúc tuổi xuân đang độ, đức tính khoan hoà, tôi muốn kết là nước anh em. Về đạo nghĩa nhân ái thì trước tiên lấy chính nghĩa làm mối giao kết ban đầu”.

Lời văn trong thư của chúa Trịnh Tráng đã cho thấy quan điểm của triều đình Lê - Trịnh là luôn muốn mở rộng bang giao với các nước bên ngoài. Đây chính là  điểm tiến bộ của triều đình Lê - Trịnh trong bối cảnh đất nước nội chiến liên miên.

Vấn đề nội thương của Phố Hiến cũng hết sức phát triển trong thời Lê - Trịnh. Các loại hàng hoá sản xuất trong nước hầu như đều có mặt ở các bến sông, bãi chợ Phố Hiến. Với vị trí địa lý đặc biệt của mình, từ thời Trần, bến chợ Xích Đằng đã có sự thông thương buôn bán với Đàng trong theo đường biển vào các vùng đất Hoan Châu (xứ Nghệ ngày nay). Từ việc giao thương buôn bán ấy, nhiều thương nhân đã đến định cư, xây dựng dịch quán, kho xưởng ở Phố Hiến. Chính đây là cầu nối quan trọng nhất để các loại hàng hoá qua lại, giao thương tới kinh thành Thăng Long. Hàng hoá từ các làng nghề trên cả nước được trao đổi, buôn bán tại 2 trung tâm lớn là Phố Hiến và Thăng Long đã cho thấy tình chất đặc biệt của Phố Hiến, nhất là vai trò cảng thị - giao thương đường thuỷ. Sách Đại Nam nhất thống chí viết: “Xích Đằng có bốn bến đò: đò Kệ Châu, đò Quan Xuyên, đò Nhân Dục và đò Phương Trà... giáp bờ sông Nhị còn có chợ Xích Đằng. Sau khi Phố Hiến mở rộng về phía Đông, Đông Bắc và lỵ sở của huyện Kim Động chuyển về Đằng Châu thì chợ Nhân Dục ở đây trở thành chợ lớn trong tỉnh”.

Vấn đề các phường hội ở Phố Hiến với những đặc trưng của nó càng cho thấy sự liên hệ mật thiết trong giao thương và sự phân phối giữa hàng hoá xuất khẩu và hàng hoá tiêu thụ nội địa chính là sự điều tiết cần thiết vào mạch máu kinh tế toàn quốc. Phố Hiến đã sớm hình thành các khu phố mang tính chất hội nhóm như: Khu phố Bắc Hoà do các thương nhân người Hoa lập nên. Khu phố Nam Hoà do các nhóm thợ gốm, thợ mộc từ phía Nam sông Hồng xây dựng các xưởng nghề thủ công sản xuất các mặt hàng tại chỗ cung cấp cho các khu vực thương nhân dấu tích vẫn còn đến hôm nay. Giới khảo cổ đã tìm thấy nhiều bằng chứng về các lò gốm, lò rèn, xưởng mộc tại khu vực quanh Văn Miếu Xích Đằng và chùa Nễ Châu.

Sự phát triển giao thương của Phố Hiến đã khuyến khích, kích cầu các làng nghề lân cận phát triển theo. Nhiều sản phẩm thủ công nổi tiếng từ các làng nghề đã góp vào sự phong phú, hình thành bộ mặt thương nghiệp Phố Hiến. Đó là làng đan thuyền Nội Lễ (Tiên Lữ); làng thuốc Nghĩa Trai (Văn Lâm); làng dệt Phong Cốc, Hương Quất, Mậu Duyệt, Triều Dương... góp phần tạo sự liên thông các mặt hàng hoá sử dụng cho thị trường nội địa và xuất khẩu.

Quan hệ buôn bán giao thương giữa Phố Hiến và các cảng thị trong nước sớm hình thành và ngày càng phát triển. Địa danh Phố Hiến được rất nhiều nơi trong nước và ngoài nước biết đến. Các sách vở biên chép trong nhiều thế kỷ đều nhận định vai trò quan trọng của Phố Hiến. Các thương nhân nước ngoài như Hà Lan, Nhật Bản, Trung Quốc..., thu mua hàng hoá, nhất là các mặt hàng thủ công, gốm sứ đi bán ở khắp nơi thu lợi nhuận rất cao đã tạo sức hút lớn và sự phát triển của các làng nghề. Với đầu óc và bản chất của mình, các thương khách Trung Quốc đã mau chóng khai thác mọi lợi thế từ Phố Hiến. Thương nhân các nước khác cũng mau chóng tìm các lợi thế để kinh doanh buôn bán ở Phố Hiến. Nhiều thương điếm được thành lập như: Thương điếm Nhật (1604); thương điếm Hà Lan (1637); thương điếm Anh (1672); thương điếm Pháp (1680)...đã càng tạo ra bộ mặt phồn thịnh và sức hút lớn, vai trò quan trọng của Phố Hiến trong nền kinh tế chính trị các nước.

Từ những thống kê trong suốt chiều dài khởi thủy và phát triển của thương cảng Phố Hiến, đều thấy rất rõ vai trò của các chúa Trịnh mang tính quyết định. Đây là một điều đặc biệt cần được nghiên cứu trên tinh thần khoa học lịch sử, nhất là tính đến ngày nay, việc khẳng định những đóng góp toàn diện của các chúa Trịnh trong thời đại Lê - Trịnh vẫn còn nhiều hạn chế, phiến diện, thiếu công bằng đối với các chúa Trịnh.

Tại sao các đời chúa Trịnh đều rất quan tâm đến thương cảng Phố Hiến? Một câu hỏi tưởng dễ trả lời song chúng ta thường đã trả lời một cách xơ cứng, máy móc mà không đi vào chiều sâu của địa chính trị, các vấn đề về quân sự quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội của đất nước thời kỳ đó. Một câu hỏi khác là tại sao, trong bối cảnh nhà Mạc tiếm quyền, đối đầu với vua Lê chúa Trịnh trên nửa thế kỷ; các chúa Nguyễn rời bỏ và dần dần đối đầu với vua Lê chúa Trịnh hàng trăm năm mà các chúa Trịnh ngoài việc phải tổ chức các hoạt động quân sự triền miên, vẫn luôn dành tâm huyết và tài lực để ổn định, phát triển mạnh mẽ các hoạt động của thương cảng Phố Hiến? Tại sao, triều đình Lê - Trịnh luôn ở thế lưỡng đầu chế trong củng cố quyền lực trung ương và các địa phương, các chúa Trịnh vẫn rất chú trọng tới giao thương với các nước lân bang, khu vực Châu Á và Châu Âu với những chính sách linh hoạt, đặc thù đã tạo ra quốc lực cho đất nước và cải thiện đời sống sung túc cho nhân dân? Những câu hỏi đó chúng ta phải có trách nhiệm trả lời một cách nghiêm túc, công bằng nhất.

Khi tiếp cận bộ sách Bài sử khác cho Việt Nam của nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường, chúng tôi đã phát hiện ra nhiều tư liệu mới, cách nhìn mới trên tinh thần khoa học lịch sử. Từ những điểm nhìn xa hơn, khách quan hơn, thậm chí là khác hơn, đã thực tế kéo gần hơn việc định vị, đánh giá công trạng và hành trạng, thành tựu, thậm chí là những khiếm khuyết hạn chế của vua Lê chúa Trịnh, từ đó có câu trả lời một cách thấu đáo hơn với những câu hỏi trên. Đó là sự cạnh tranh quyết liệt giữa nhà Mạc ở phía Bắc, các chúa Nguyễn ở phía Nam và vua Lê chúa Trịnh giữ vai trò trung ương ở giữa. Nhà Mạc và các chúa Nguyễn một mặt là các đối thủ chính trị hùng mạnh một mặt vẫn luôn bị coi là “giặc cỏ”, “ngụy triều”, “loạn đảng”… nhưng trên thực tế các thế lực này đều xác lập danh vị riêng, thiết lập bộ máy triều chính từ trung ương đến địa phương không khác gì vua Lê chúa Trịnh. Nhà Mạc thậm chí còn liên tiếp mở các khoa thi với thành tựu ghi nhận có giá trị đến ngày nay. Các chúa Nguyễn tổ chức bộ máy chính quyền mạnh mẽ, chặt chẽ, hiệu quả, tiền đề cho công cuộc mở rộng cương vực lãnh thổ về phía Nam đã đi vào sử sách. Với thực tiễn đó, các chúa Trịnh nếu không mau chóng nắm bắt những xu hướng lớn của thời đại, không dẫn dắt bách tính thị tộc thực hiện những công cuộc đổi mới mạnh mẽ kể cả về sĩ, nông, công, thương trên các vùng đất cai quản của mình và đương nhiên thương cảng Phố Hiến là một vị trí quan trọng hàng đầu để các chúa Trịnh khẳng định quyền thế của mình với thiên hạ.

Các chúa Trịnh khởi phát ở vùng đất Thanh Hóa. Đất Thanh Hóa, từ xưa đến nay vẫn luôn như một quốc gia thu nhỏ. Khi phải cạnh tranh với nhà Mạc ở phía Bắc và các chúa Nguyễn ở phía Nam, yếu tố thương cảng Phố Hiến càng đặc biệt quan trọng, nhất là vấn đề hậu cần kỹ thuật, mua sắm vũ khí, vận chuyển lương thảo, nhất là tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật với phương Tây đã trở thành vấn đề then chốt trong khẳng định quyền lực của các chúa Trịnh. Phố Hiến không chỉ có một vị trí địa lý cảng biển - đồng bằng - thành thị mà còn có yếu tố là một biên cảng ngoại giao với các nước trong khu vực và phương Tây - một sự khẳng định sức mạnh văn minh trước các đối thủ chính trị là nhà Mạc và các chúa Nguyễn nên càng trở lên đặc biệt quan trọng. Bởi vậy, vai trò của các chúa Trịnh với thương cảng Phố Hiến phải được xem xét một cách toàn diện, thấu đáo, trên tinh thần khoa học lịch sử mới có thể đưa ra không chỉ câu trả lời đúng đắn mà còn là sự khẳng định những đóng góp lớn lao của các chúa Trịnh, triều đại Lê - Trịnh trong tiến trình lịch sử.

Có thể khẳng định, trong suốt quá trình hình thành và phát triển của Phố Hiến, ở nhiều giai đoạn khác nhau đều có vai trò rất quan trọng với đời sống toàn diện của đất nước, nhất là vai trò của các chúa Trịnh trong tiến trình đó mà những trầm tích của nó vẫn còn nhiều giá trị tới hôm nay. Từ nền tảng ấy, với những đóng góp toàn diện của các Chúa Trịnh trong khoảng thời gian 249 năm giúp vua Lê điều hành triều chính, ổn định quốc gia, phát triển toàn diện đất nước, chúng ta rất cần sự ghi nhận trên tình thần khoa học lịch sử, trước mắt cần tổ chức một Hội thảo khoa học lịch sử về các danh nhân, danh thần, danh tướng họ Trịnh có công với nước để từ đó đề xuất thực hiện đặt tên phố, tên đường, tên trường; thực hiện các công trình tượng ngoài trời, phù điêu, tác phẩm nghệ thuật về những đóng góp tiêu biểu, đặc sắc của các Chúa Trịnh với đất nước.

Đối với thương cảng Phố Hiến, từ những nguồn tư liệu lịch sử đáng tin cậy, từ nguyện vọng của các nhà khoa học lịch sử, nhà nghiên cứu và sự tri ân của nhân dân với công trạng của các Chúa Trịnh, chúng ta cần tổ chức một số cuộc đi điền dã, tiếp cận tư liệu trong nước và ngoài nước một cách khách quan, khoa học, toàn diện, có chiều sâu, đặt trong bối cảnh chính trị đương thời và thời đại mới hôm nay để tiến hành cuộc Hội thảo về họ Trịnh trong tiến trình lịch sử. Điều đó không chỉ cần thiết với đời sống học thuật mà còn là nền tảng để chúng ta có những bước đi tiếp theo, có những đóng góp về văn hóa lịch sử từ những con người cụ thể, những triều đại có công trong tiến trình lịch sử dân tộc.

Chúng tôi sẽ còn trở lại với những đóng góp, vị thế và sự tác động lớn lao với lịch sử của các chúa Trịnh trong những bài viết tiếp theo.

 

Đại tá - Nhà văn Phùng Văn Khai

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ tình Nguyên Bình đắm đuối
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Các nhà thơ từ cổ chí kim không nhiều thì ít đều viết thơ tình, điều đó không có gì lạ; vì tâm hồn họ lãng mạn, mơ mộng, tôn thờ phái đẹp. Nhà thơ Nguyên Bình không nằm ngoài số đó. Anh viết văn làm thơ từ thời sinh viên, cả trước và sau năm 1975. Những bài thơ tình, anh không dám trao tay cô nữ sinh xinh đẹp xứ Huế anh yêu say đắm: Vẫn mãi “Là bài thơ còn hoài trong vở/Giữa giờ chơi mang đến lại mang về” thơ Đỗ Trung Quân.
Xem thêm
Mỹ cảm của kiểu tự sự trong suốt trong tập tản văn “Nỗi buồn trong suốt” của Nguyễn Đức Phú Thọ
Tản văn là một thể loại dễ tiếp cận với mọi mặt của đời sống thông qua những lát cắt hiện thực, nhưng trung tâm tinh thần của thể loại này lại là cái tôi tư tưởng, cảm xúc của người nghệ sĩ. Tản văn vừa đậm chất trữ tình, vừa mang bản chất tự sự. Mỗi tác phẩm là một cách diễn giải về “Thế giới như tôi thấy”, đồng thời cũng là một tấm gương phản chiếu cấu trúc nội tâm của nhà văn.
Xem thêm
Cảm nhận thơ Trần Xuân Hóa từ một góc nhìn đa cảm
Bài viết của nhà thơ CCB Trần Trí Thông
Xem thêm
Hơi thở đất quê trong miền nhớ của Huỳnh Khang
Chủ đề và nội dung trong MIỀN NHỚ xoay quanh ký ức quê hương, tình mẫu tử, nghĩa làng nghĩa xóm, thiên nhiên, tình yêu đôi lứa, nỗi buồn mất mát, cùng những triết lý đời thường.
Xem thêm
Tiếng văn từ phía “bạn nguồn”
Nguyễn Minh Sơn, Hồ Tấn Vũ và Nguyễn Thị Như Hiền là ba cây bút thuộc thế hệ 7X và 9X
Xem thêm
Về trên dặm trường thiên lý “Miền Ô châu”
Tiếp theo các cuốn tản văn Sông vẫn chảy đời sông (NXB Thanh Niên 2023), Bốn mùa thương nhớ (NXB Thanh Niên 2024), nhà văn Nguyễn Linh Giang vừa ra mắt cuốn tản văn mới: “Miền Ô Châu” (NXB Phụ Nữ Việt Nam, 2025).
Xem thêm
Thơ ca chào đón Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9
Cách mạng tháng Tám - 1945 thành công, mở ra trang sử vàng chói lọi cho dân tộc. Bác Hồ đọc “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh ra Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á được thành lập. Hai tiếng Việt Nam vang lên đầy phấn khởi, tự hào trên trường quốc tế, đã khơi nguồn, làm bừng dậy biết bao cảm hứng về thơ ca, nhạc, họa thật mới mẻ, mãnh liệt và sôi nổi, làm không khí văn nghệ đổi sắc thay da. Từ đây nền văn học của ta chỉ còn duy nhất một trào lưu là văn học cách mạng.
Xem thêm
Hồi hộp trước “phút bù giờ” của Minh Đan
Ngôn ngữ của Minh Đan đôi lúc không còn chỉ là ký tự để giải nghĩa, mà là vật liệu có tâm hồn – biết khít lại, giãn ra, để tạo hình tượng và âm thanh.
Xem thêm
Phát triển
Nội dung quyết định hình thức. Xét cả quá trình văn học lâu dài, các hình thức tác phẩm kế tiếp nhau xuất hiện, tác động vào nền văn học, góp phần tạo ra phát triển văn chương. Bài viết chỉ đề cập đến chủ đề này của cuốn sách.
Xem thêm
Vẻ đẹp tình người và nỗi niềm ưu tư trong thơ Phạm Nguyên Thạch
Một trong những cánh én đầu đàn của văn học An Giang - nhà thơ Phạm Nguyên Thạch, anh sinh năm 1948, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật An Giang và hiện là Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh An Giang. Anh sáng tác từ trước năm 1975. Từ đó đến nay, nhà thơ đã có những tác phẩm tạo tiếng vang được xuất bản: “Ngôi nhà lợp ngói âm dương” (Văn Nghệ AG, 1986); “Theo tình” (VNAG, 1994); “Gió” (NXB Trẻ, 1999); “Thị trấn đá” (VNAG, 2002); “Cỏ lá quẩn quanh” (VNAG, 2006); “Mưa ảo” (NXB Hội Nhà văn, 2019).
Xem thêm
Nghiên cứu truyện Nam Cao theo góc nhìn thi pháp
Bằng cách ghi nhận từ các bài nghiên cứu, lời giới thiệu, chắt lọc những ý kiến nho nhỏ, có khi chỉ một vài nhận xét liên quan, có thể đưa ra một cách nhìn về tình hình nghiên cứu truyện ngắn Nam Cao trên góc độ thi pháp học hiện đại.
Xem thêm
Nguyễn Thành Phong – Nhà thơ tài hoa trữ tình, quan chiêm ngoại vi và nội hàm tự sự luận cảm của thơ Việt Nam thời kỳ đổi mới
Trữ tình và tự sự là những khái niệm của thơ, ngoại diên và nội hàm là những khái niệm của logic học. Ngoại vi là một phần của ngoại diên chỉ các đối tượng có phạm vi nhất định và chỉ định. Trong thơ, nó là các địa danh, hoặc các nhân vật trữ tình, các không thời gian xác định, tạo nguồn cảm hứng. Ngoại vi nhỏ hơn ngoại diên. Nội hàm là nội dung thuộc tính bên trong cả chủ quan và khách quan của sự vật, hiện tượng. Trữ tình nói bằng cảm xúc, gắn với bộc lộ chủ thể. Tự sự kể lại, tả lại khách thể. Phàm lệ mấy câu để bài viết này đỡ cảm thấy gượng ép, mong được đồng cảm.
Xem thêm
Hãy sống như những người đã chết - Một nhan đề độc đáo
Lúc đi học, thầy cô từng bảo nhan đề là tên của tác phẩm, còn có cách gọi khác là đầu đề, là cái tít chung của một văn bản. Nhan đề (đầu đề) thường do người viết đặt ra - như người bố, người mẹ đặt tên cho đứa con của mình; nhưng cũng có khi do người khác (cán bộ biên tập) đặt hộ, hoặc đổi tên đi cho hay, cho phù hợp với chủ đề của tác phẩm.
Xem thêm
Inrasara: Tác phẩm văn chương, từ tốt & hay đến lớn
Tại tọa đàm cùng tên do Hội Nhà văn TPHCM tổ chức, nhà thơ – nhà phê bình Inrasara đã mang đến những luận điểm sắc sảo, giàu trải nghiệm, mở ra cách nhìn mới về sự cộng hưởng giữa sáng tác và tiếp nhận, để văn chương thực sự chạm tới và ở lại lâu dài trong lòng người đọc.
Xem thêm
Văn học Đổi mới, một cách nhận diện
Cho đến nay, cụm từ “Văn học Đổi mới đã được sử dụng khá rộng rãi. Từ trong nhà trường đến ngoài xã hội, từ báo chí đến các các cơ quan truyền hình, đài phát thanh, trong các bài nói chuyện hay phát biểu của các nhà sáng tác, phê bình văn học, nó được xuất hiện một cách tự nhiên giống như một thuật ngữ đã được định hình.
Xem thêm
Phù sa tâm hồn qua “Ký ức bão!” của Lương Duy Cường
Những ngày đầu tháng Tám, tôi có chuyến đi miền Trung vào đúng dịp trời như rút ruột để nắng, đến nỗi chỉ cần thêm một giọt bỏng sẽ vỡ cả thinh không. Để mấy ngày sau trở về nhà, trong giấc mơ, quờ tay, tôi vẫn chạm vào bỏng rát. Người ta nói, trước những cơn thiên tai, nắng thường đi trước để dọn đường.
Xem thêm
Đói và sự thức tỉnh mình
Đọc ĐÓI của Đỗ Thành Đồng ngay trong phút thứ 59 và chuẩn bị bước qua con số 0. Nhìn lên góc giấy, hóa ra đây là trang thứ 59 LỤC BÁT ĐỜI. Có những sự tự nhiên, ngẫm cũng hay.
Xem thêm
Tác phẩm hay –Từ tiếp nhận và sáng tác
Có những câu hỏi tưởng chừng giản dị nhưng khiến người cầm bút trăn trở cả đời: Thế nào là một tác phẩm hay?
Xem thêm
Cảm thức quê hương, từ những tản văn đậm hồn quê
Ai đó từng nói: “Trong vũ trụ có nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt phẩm nhất đó là trái tim người mẹ”. Tình yêu của mẹ đẹp đẽ, thiêng liêng và bao la chẳng có bến bờ. Có mẹ, ta như có tất cả. Khi mẹ vắng xa cuộc sống sẽ đầy nỗi buồn thương, chán chường, tiếc nuối… Thời gian có chờ đợi ai bao giờ…
Xem thêm
Ký ức bóng mùa qua hay là cảm thức thời gian trong thơ Cao Ngọc Thắng
Cao Ngọc Thắng đã thực sự ám ảnh và thao thức về thời gian, không ngừng đi tìm thời gian đã mất để phục sinh những ký ức gần và ký ức xa trên hành trình tâm linh sự sống.
Xem thêm