TIN TỨC

Vai trò của chúa Trịnh với thương cảng Phố Hiến

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-07-13 21:30:04
mail facebook google pos stwis
623 lượt xem

Suốt chiều dài lịch sử dân tộc Việt Nam, địa danh Phố Hiến vừa thân thương vừa thân thuộc trong trí nhớ mọi người. Phố Hiến từng là một thương cảng lớn sầm uất và quan trọng bậc nhất của xứ Đàng ngoài (miền Bắc Việt Nam).

Đại tá - nhà văn Phùng Văn Khai

Phố Hiến rất quan trọng với các thương đoàn từ khắp nơi trong khu vực và thế giới tới giao thương với Việt Nam. Một thương cảng lừng danh khác là Hội An, theo các nhà nghiên cứu cũng ra đời sau Phố Hiến. Trong hệ thống các đô thị cổ Việt Nam, Phố Hiến luôn đứng ở top đầu, đối sánh và bổ sung, nâng tầm cho Thăng Long - Kẻ Chợ. Trong các bộ sử sách của Việt Nam và về Việt Nam, các học giả trong và ngoài nước đều đánh giá cao Phố Hiến. Có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà sử học đến từ Trung Quốc, Hà Lan, Nhật Bản, Anh, Pháp, Mỹ, Australia... viết về Phố Hiến đã tạo những dấu ấn sâu sắc mang tầm vóc quốc tế. Giới nghiên cứu văn hoá lịch sử trong nước cũng ghi nhận nhiều tên tuổi lớn với những công trình nghiên cứu toàn diện về Phố Hiến. Đây cũng là một niềm tự hào lớn của người Hưng Yên. Trong bài viết này, chúng tôi bước đầu thống kê và đặt ra một số vấn đề trong việc khẳng định trên tinh thần khoa học lịch sử về công lao của các chúa Trịnh với thương cảng Phố Hiến với một giai đoạn lịch sử sôi động, phức tạp, còn nhiều góc khuất nhưng cũng là một giai đoạn lịch sử không thể tách rời trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Sách Đại Nam nhất thống chí mô tả Phố Hiến: “Nơi đây phong vật phồn thịnh, nhà ngói như bát úp” đã cho thấy đặc trưng lớn nhất của Phố Hiến chính là trung tâm cảng thị lớn, ra đời từ động lực phát triển kinh tế trong nước và mang đậm chức năng của một trung tâm kinh tế lớn của đất nước. Phố Hiến còn đảm đương vai trò thực hiện các hoạt động kinh tế đối ngoại của đất nước. Nơi đây được đặt cơ quan công quyền, thay mặt triều đình đảm đương trách nhiệm như một tiềm đồn, một vòng thành bảo vệ, che chắn cho kinh đô Thăng Long. Có thể thấy rằng, vị trí, chức năng, vai trò của Phố Hiến bao trùm nhiều lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế xã hội, bởi vậy dân chúng nhiều đời luôn truyền tụng câu ca:“Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến”. Đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học về Phố Hiến. Có nhiều chương trình nghiên cứu, phân tích, lịch đại, đồng đại, so sánh, đối chiếu, đặt vấn đề nghiên cứu Phố Hiến trong tiến trình lịch sử bằng các phương pháp khoa học, sử học kết hợp với khả cứu các thư tịch, tài liệu, văn bia, sắc phong... để soi tỏ trầm tích lịch sử đến hiện đại của Phố Hiến.

Trong các đấu mốc lịch sử về Phố Hiến, vai trò của các chúa Trịnh là rất quan trọng. Mặc dù vấn đề nội chiến, loạn lạc trong thời Lê - Trịnh khiến triều đình luôn gặp khó khăn về quốc khố trong việc phục vụ chiến tranh, song các chúa Trịnh luôn tỏ ra rất sáng suốt trong việc khuyến khích các thương nhân phát triển kinh tế để đóng góp vào nền kinh tế quốc gia. Chúa Trịnh Doanh từng nhận định: “Ngày nay tài lực của nhân dân thiếu hẳn đi, chỉ còn trông chờ vào bọn phú thương chuyên chở lưu thông từ chỗ có đến chỗ không thì mới tạm đủ.”

Vai trò của các Chúa Trịnh đã khuyến khích toàn diện sự phát triển của Phố Hiến nhất là với giới thương nhân. Triều đình liên tiếp khen thưởng cho các thương nhân có công trong việc luân chuyển và mua bán các loại hàng hoá ích nước lợi dân. Giai đoạn này, triều đình Lê - Trịnh đã bắt đầu đẩy mạnh giao thương với phương Tây, sử dụng các mặt hàng từ các làng nghề trong nước đổi lấy vũ khí và tiền bổ sung quốc khố. Các Chúa Trịnh rất coi trọng quan hệ với Nhật Bản, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho thương thuyền Nhật Bản thông qua cảng thị Phố Hiến. Trong bức thư chúa Trịnh Tráng gửi cho triều đình Nhật Bản có đoạn: “Đại nguyên soái Tổng quốc chính Thanh Đô vương nước An Nam đã xây dựng lại đất nước, khôi phục trung ương, xa thư quy về một mối, lân bang giao hiếu hoà hợp, rộng ban ân trạch, tạo thành nghĩa lớn. Nay nhân vào tiết hạ, thấy các thuyền trưởng của quý quốc Nhật Bản là Giác Tàng (Suminokura) và Mạt Cát (Sueyoshi), tổng cộng 20 chiếc đến nước chúng tôi buôn bán. Chúng tôi muốn phát triển, không dừng lại ở việc buôn bán nhỏ nên thăm hỏi kĩ càng. Nghe nói quốc chủ Nhật Bản vào lúc tuổi xuân đang độ, đức tính khoan hoà, tôi muốn kết là nước anh em. Về đạo nghĩa nhân ái thì trước tiên lấy chính nghĩa làm mối giao kết ban đầu”.

Lời văn trong thư của chúa Trịnh Tráng đã cho thấy quan điểm của triều đình Lê - Trịnh là luôn muốn mở rộng bang giao với các nước bên ngoài. Đây chính là  điểm tiến bộ của triều đình Lê - Trịnh trong bối cảnh đất nước nội chiến liên miên.

Vấn đề nội thương của Phố Hiến cũng hết sức phát triển trong thời Lê - Trịnh. Các loại hàng hoá sản xuất trong nước hầu như đều có mặt ở các bến sông, bãi chợ Phố Hiến. Với vị trí địa lý đặc biệt của mình, từ thời Trần, bến chợ Xích Đằng đã có sự thông thương buôn bán với Đàng trong theo đường biển vào các vùng đất Hoan Châu (xứ Nghệ ngày nay). Từ việc giao thương buôn bán ấy, nhiều thương nhân đã đến định cư, xây dựng dịch quán, kho xưởng ở Phố Hiến. Chính đây là cầu nối quan trọng nhất để các loại hàng hoá qua lại, giao thương tới kinh thành Thăng Long. Hàng hoá từ các làng nghề trên cả nước được trao đổi, buôn bán tại 2 trung tâm lớn là Phố Hiến và Thăng Long đã cho thấy tình chất đặc biệt của Phố Hiến, nhất là vai trò cảng thị - giao thương đường thuỷ. Sách Đại Nam nhất thống chí viết: “Xích Đằng có bốn bến đò: đò Kệ Châu, đò Quan Xuyên, đò Nhân Dục và đò Phương Trà... giáp bờ sông Nhị còn có chợ Xích Đằng. Sau khi Phố Hiến mở rộng về phía Đông, Đông Bắc và lỵ sở của huyện Kim Động chuyển về Đằng Châu thì chợ Nhân Dục ở đây trở thành chợ lớn trong tỉnh”.

Vấn đề các phường hội ở Phố Hiến với những đặc trưng của nó càng cho thấy sự liên hệ mật thiết trong giao thương và sự phân phối giữa hàng hoá xuất khẩu và hàng hoá tiêu thụ nội địa chính là sự điều tiết cần thiết vào mạch máu kinh tế toàn quốc. Phố Hiến đã sớm hình thành các khu phố mang tính chất hội nhóm như: Khu phố Bắc Hoà do các thương nhân người Hoa lập nên. Khu phố Nam Hoà do các nhóm thợ gốm, thợ mộc từ phía Nam sông Hồng xây dựng các xưởng nghề thủ công sản xuất các mặt hàng tại chỗ cung cấp cho các khu vực thương nhân dấu tích vẫn còn đến hôm nay. Giới khảo cổ đã tìm thấy nhiều bằng chứng về các lò gốm, lò rèn, xưởng mộc tại khu vực quanh Văn Miếu Xích Đằng và chùa Nễ Châu.

Sự phát triển giao thương của Phố Hiến đã khuyến khích, kích cầu các làng nghề lân cận phát triển theo. Nhiều sản phẩm thủ công nổi tiếng từ các làng nghề đã góp vào sự phong phú, hình thành bộ mặt thương nghiệp Phố Hiến. Đó là làng đan thuyền Nội Lễ (Tiên Lữ); làng thuốc Nghĩa Trai (Văn Lâm); làng dệt Phong Cốc, Hương Quất, Mậu Duyệt, Triều Dương... góp phần tạo sự liên thông các mặt hàng hoá sử dụng cho thị trường nội địa và xuất khẩu.

Quan hệ buôn bán giao thương giữa Phố Hiến và các cảng thị trong nước sớm hình thành và ngày càng phát triển. Địa danh Phố Hiến được rất nhiều nơi trong nước và ngoài nước biết đến. Các sách vở biên chép trong nhiều thế kỷ đều nhận định vai trò quan trọng của Phố Hiến. Các thương nhân nước ngoài như Hà Lan, Nhật Bản, Trung Quốc..., thu mua hàng hoá, nhất là các mặt hàng thủ công, gốm sứ đi bán ở khắp nơi thu lợi nhuận rất cao đã tạo sức hút lớn và sự phát triển của các làng nghề. Với đầu óc và bản chất của mình, các thương khách Trung Quốc đã mau chóng khai thác mọi lợi thế từ Phố Hiến. Thương nhân các nước khác cũng mau chóng tìm các lợi thế để kinh doanh buôn bán ở Phố Hiến. Nhiều thương điếm được thành lập như: Thương điếm Nhật (1604); thương điếm Hà Lan (1637); thương điếm Anh (1672); thương điếm Pháp (1680)...đã càng tạo ra bộ mặt phồn thịnh và sức hút lớn, vai trò quan trọng của Phố Hiến trong nền kinh tế chính trị các nước.

Từ những thống kê trong suốt chiều dài khởi thủy và phát triển của thương cảng Phố Hiến, đều thấy rất rõ vai trò của các chúa Trịnh mang tính quyết định. Đây là một điều đặc biệt cần được nghiên cứu trên tinh thần khoa học lịch sử, nhất là tính đến ngày nay, việc khẳng định những đóng góp toàn diện của các chúa Trịnh trong thời đại Lê - Trịnh vẫn còn nhiều hạn chế, phiến diện, thiếu công bằng đối với các chúa Trịnh.

Tại sao các đời chúa Trịnh đều rất quan tâm đến thương cảng Phố Hiến? Một câu hỏi tưởng dễ trả lời song chúng ta thường đã trả lời một cách xơ cứng, máy móc mà không đi vào chiều sâu của địa chính trị, các vấn đề về quân sự quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội của đất nước thời kỳ đó. Một câu hỏi khác là tại sao, trong bối cảnh nhà Mạc tiếm quyền, đối đầu với vua Lê chúa Trịnh trên nửa thế kỷ; các chúa Nguyễn rời bỏ và dần dần đối đầu với vua Lê chúa Trịnh hàng trăm năm mà các chúa Trịnh ngoài việc phải tổ chức các hoạt động quân sự triền miên, vẫn luôn dành tâm huyết và tài lực để ổn định, phát triển mạnh mẽ các hoạt động của thương cảng Phố Hiến? Tại sao, triều đình Lê - Trịnh luôn ở thế lưỡng đầu chế trong củng cố quyền lực trung ương và các địa phương, các chúa Trịnh vẫn rất chú trọng tới giao thương với các nước lân bang, khu vực Châu Á và Châu Âu với những chính sách linh hoạt, đặc thù đã tạo ra quốc lực cho đất nước và cải thiện đời sống sung túc cho nhân dân? Những câu hỏi đó chúng ta phải có trách nhiệm trả lời một cách nghiêm túc, công bằng nhất.

Khi tiếp cận bộ sách Bài sử khác cho Việt Nam của nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường, chúng tôi đã phát hiện ra nhiều tư liệu mới, cách nhìn mới trên tinh thần khoa học lịch sử. Từ những điểm nhìn xa hơn, khách quan hơn, thậm chí là khác hơn, đã thực tế kéo gần hơn việc định vị, đánh giá công trạng và hành trạng, thành tựu, thậm chí là những khiếm khuyết hạn chế của vua Lê chúa Trịnh, từ đó có câu trả lời một cách thấu đáo hơn với những câu hỏi trên. Đó là sự cạnh tranh quyết liệt giữa nhà Mạc ở phía Bắc, các chúa Nguyễn ở phía Nam và vua Lê chúa Trịnh giữ vai trò trung ương ở giữa. Nhà Mạc và các chúa Nguyễn một mặt là các đối thủ chính trị hùng mạnh một mặt vẫn luôn bị coi là “giặc cỏ”, “ngụy triều”, “loạn đảng”… nhưng trên thực tế các thế lực này đều xác lập danh vị riêng, thiết lập bộ máy triều chính từ trung ương đến địa phương không khác gì vua Lê chúa Trịnh. Nhà Mạc thậm chí còn liên tiếp mở các khoa thi với thành tựu ghi nhận có giá trị đến ngày nay. Các chúa Nguyễn tổ chức bộ máy chính quyền mạnh mẽ, chặt chẽ, hiệu quả, tiền đề cho công cuộc mở rộng cương vực lãnh thổ về phía Nam đã đi vào sử sách. Với thực tiễn đó, các chúa Trịnh nếu không mau chóng nắm bắt những xu hướng lớn của thời đại, không dẫn dắt bách tính thị tộc thực hiện những công cuộc đổi mới mạnh mẽ kể cả về sĩ, nông, công, thương trên các vùng đất cai quản của mình và đương nhiên thương cảng Phố Hiến là một vị trí quan trọng hàng đầu để các chúa Trịnh khẳng định quyền thế của mình với thiên hạ.

Các chúa Trịnh khởi phát ở vùng đất Thanh Hóa. Đất Thanh Hóa, từ xưa đến nay vẫn luôn như một quốc gia thu nhỏ. Khi phải cạnh tranh với nhà Mạc ở phía Bắc và các chúa Nguyễn ở phía Nam, yếu tố thương cảng Phố Hiến càng đặc biệt quan trọng, nhất là vấn đề hậu cần kỹ thuật, mua sắm vũ khí, vận chuyển lương thảo, nhất là tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật với phương Tây đã trở thành vấn đề then chốt trong khẳng định quyền lực của các chúa Trịnh. Phố Hiến không chỉ có một vị trí địa lý cảng biển - đồng bằng - thành thị mà còn có yếu tố là một biên cảng ngoại giao với các nước trong khu vực và phương Tây - một sự khẳng định sức mạnh văn minh trước các đối thủ chính trị là nhà Mạc và các chúa Nguyễn nên càng trở lên đặc biệt quan trọng. Bởi vậy, vai trò của các chúa Trịnh với thương cảng Phố Hiến phải được xem xét một cách toàn diện, thấu đáo, trên tinh thần khoa học lịch sử mới có thể đưa ra không chỉ câu trả lời đúng đắn mà còn là sự khẳng định những đóng góp lớn lao của các chúa Trịnh, triều đại Lê - Trịnh trong tiến trình lịch sử.

Có thể khẳng định, trong suốt quá trình hình thành và phát triển của Phố Hiến, ở nhiều giai đoạn khác nhau đều có vai trò rất quan trọng với đời sống toàn diện của đất nước, nhất là vai trò của các chúa Trịnh trong tiến trình đó mà những trầm tích của nó vẫn còn nhiều giá trị tới hôm nay. Từ nền tảng ấy, với những đóng góp toàn diện của các Chúa Trịnh trong khoảng thời gian 249 năm giúp vua Lê điều hành triều chính, ổn định quốc gia, phát triển toàn diện đất nước, chúng ta rất cần sự ghi nhận trên tình thần khoa học lịch sử, trước mắt cần tổ chức một Hội thảo khoa học lịch sử về các danh nhân, danh thần, danh tướng họ Trịnh có công với nước để từ đó đề xuất thực hiện đặt tên phố, tên đường, tên trường; thực hiện các công trình tượng ngoài trời, phù điêu, tác phẩm nghệ thuật về những đóng góp tiêu biểu, đặc sắc của các Chúa Trịnh với đất nước.

Đối với thương cảng Phố Hiến, từ những nguồn tư liệu lịch sử đáng tin cậy, từ nguyện vọng của các nhà khoa học lịch sử, nhà nghiên cứu và sự tri ân của nhân dân với công trạng của các Chúa Trịnh, chúng ta cần tổ chức một số cuộc đi điền dã, tiếp cận tư liệu trong nước và ngoài nước một cách khách quan, khoa học, toàn diện, có chiều sâu, đặt trong bối cảnh chính trị đương thời và thời đại mới hôm nay để tiến hành cuộc Hội thảo về họ Trịnh trong tiến trình lịch sử. Điều đó không chỉ cần thiết với đời sống học thuật mà còn là nền tảng để chúng ta có những bước đi tiếp theo, có những đóng góp về văn hóa lịch sử từ những con người cụ thể, những triều đại có công trong tiến trình lịch sử dân tộc.

Chúng tôi sẽ còn trở lại với những đóng góp, vị thế và sự tác động lớn lao với lịch sử của các chúa Trịnh trong những bài viết tiếp theo.

 

Đại tá - Nhà văn Phùng Văn Khai

Bài viết liên quan

Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm