TIN TỨC

Tôi kể chuyện về một người thầy quan trọng trong đời

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-05-05 07:54:09
mail facebook google pos stwis
2131 lượt xem

TUẤN TRẦN

Để nói về cô giáo Nguyễn Thị Thúy – tôi gọi thân thương là cô Hồng Thúy (Hiệu phó trường Tiểu học Nam Cát – Nam Đàn - Nghệ An), xin được dùng đến những cặp phạm trù đối lập: cá tính và sắc sảo, kiên trì và nhẫn nhịn, thông minh và nhạy cảm dung hòa trong một hình ảnh tươi tắn, duyên dáng, rất thật tri thức theo kiểu phụ nữ thuần túy Á Đông. Tuy mỗi lúc có khác, mỗi thời có đổi thay, nhưng trong con người đó luôn mang tinh thần và cốt cách của một “người mẹ” - nữ giáo viên: Đảm đang, vén khéo và “thực chiến”. Phải vậy! cái tôi muốn chú mục là tinh thần “thực chiến” trong quá trình “rèn nghề” liên tục và trọn đời nơi cô.


Cô giáo Nguyễn Thị Thúy.

Với tôi, cô là một, là riêng là duy nhất “không chỉ” trong khuôn khổ cảm hứng trồng người. Từ thưở “hàn vi” nhỏ nhoi nơi quê nghèo đất khó cho đến khi lớn lên và ly hương bởi phận sự tìm danh chốn quê người đất khách. Người giáo viên hồi lớp bốn, năm của mười lăm năm về trước luôn lưu cất một ấn tượng nội tâm vô cùng đặc biệt ảnh hưởng tích cực đến hành vi vị nhân và lối ứng xử rất mực trân trọng với nghề nghiệp trong tôi. Mỗi khi gặp phải công việc và trên đường đời có nhiều trắc trở, hình dung tư thái “bản lĩnh - tận hiến” của cô về trong kí ức sẵn sàng gợi nhắc/ đánh thức niềm tin và sự yêu cầu phải từ tốn bền bỉ, nỗ lực khôn kham đối với công cuộc khoa giáo lớn lao mà tôi đương theo đuổi.

Sinh ra, lớn lên, học thành nghề và phụng sự cho nền giáo dục nước nhà trên chính mảnh đất quê cha: Nam cát, Nam Đàn - một miền “đất cỗi cỏ cằn” nhưng đã khởi sự và thịnh thế về thành tích khoa bảng. Xuất thân trong một gia đình giáo chức, Bố là một người thầy – nhà quản lý giáo dục uy tín của vùng đất này. Chính vì vậy, trong tâm thức cô Hồng Thúy thưở thiếu thời đã sớm “thai nghén” hình bóng của một nhà giáo mẫu mực và thực sự đã mẫu mực trên nhiều phương diện.

Cô tôi là người giáo viên mà nhìn ở lát cắt ảnh mặt thể hiện ra khá nghiêm khắc – chuyên nghiệp, có thể nói là rất lý trí trong ứng xử các tình huống sư phạm cũng như nhân sinh. Đám học trò chúng tôi rất nể sợ, bởi “quả tim lý tưởng” trong cô – luôn đề cao sự tuân thủ, tính kỉ luật và trách nhiệm trước hết. Đó là bài học lớn cho chúng tôi về lẽ sống: Hãy thực hiện nghĩa vụ trước rồi mới được quyền đòi lợi ích, có như vậy mới tạo ra sự phát triển bền vững. Ở một khía cạnh nào đó, hình bóng thầy Đồ xưa khắc phạt, hình bóng của người cha điển phạm phần nào được truyền thừa linh động biến ứng trong con người cô. Tất nhiên, sau tất cả, ngày trở lại, trong tôi, trước mặt tôi hoàn toàn là một con người đã khác: Ấm áp, nhẹ nhàng và miệng luôn mở lời đánh thức hi vọng…

Người giáo viên sinh năm 1973 đó cũng là một người phụ nữ tài hoa. Từ làm thơ, vẽ tranh báo tường, ca hát đến biểu diễn văn nghệ cô đều tư duy để thể hiện và phát triển. Giáo dục toàn diện là điều mà nhà giáo Hồng Thúy đặt mục tiêu và hướng tới. Chính vì vậy sự chỉn chu, cầu toàn từng “đường ăn ý ở” trong “giáo pháp” là điều thường trực luôn luôn nơi cô. Với các hoạt động văn - thể - mỹ trong nhà trường hay nơi địa phương cô Hồng Thúy đã trở thành “cánh én dẫn đầu” phong trào. Tôi nhớ về mỗi mùa lễ hội, cứ độ tuần lễ trước Hiến chương Nhà giáo hay ngày Quốc tế phụ nữ… là tư gia nhà cô trở thành nơi cho các học sinh đến tập luyện ngày đêm - bất chấp sự lụy phiền tới việc sinh hoạt riêng tư. Để làm được điều đó, không chỉ cần đảm đang, vén khéo mọi bề cho trọn vẹn “công - dung” mà cần cả sự “hi sinh” niềm riêng vì sự thể chung. Những ngày sắp thi tuyển giỏi hoặc các kì thi năng khiếu cũng là dịp mà cô trò miệt mài nắn chỉnh từng “nét chữ nết người” sau mỗi buổi lên lớp. Các dịp hội thao cô trò luôn khẩn trương cho tinh thần thể dục hăng hái và bất diệt… Trong tương quan kết nối gia đình và nhà trường thời bấy giờ thật nhân văn và sâu sắc để những cám dỗ lợi ích thiển cận không thể nào xâm phạm hoen úa thanh danh giá trị đức hạnh vĩnh tồn của người giáo viên nhân dân. Chúng tôi trong xóm cùng xã đều được đến tìm kiếm chữ nghĩa không chỉ ở nơi học đường, những người giáo viên tận tụy như cô Thúy luôn sẵn lòng thắp đuốc tri thức ở thư phòng nhà riêng để cho sự “cầu toàn” hết mình lên trên tất cả, đặc biệt những lúc cận thời diễn ra những ngày hội thi đua…

Tôi còn nhớ hình ảnh cô giáo múa sen thật điêu luyện giữa trung tâm và vây quanh là những “vũ công” giáo viên khác trong một dịp giao lưu văn nghệ liên ngành - hình ảnh, dáng nét đó thật có thể trở nên thi mỹ. Dĩ nhiên, cô giáo của tôi xem văn - thể chỉ là sở đoản nhưng rất cần thiết cho sự phát triển mọi mặt trong quá trình hình thành cốt cách và cảm nhận cuộc sống của một cá thể. Còn vấn đề trọng tâm của chuyên môn mà cô đã dành trọn đời nghiên cứu, thực hành và cống hiến để bao thế hệ được tiếp truyền chính là “Phát huy năng lực toán học và chuyên sâu môn tiếng việt”…

Cô Hồng Thúy là một nhà giáo dục, mà, như mẹ tôi dùng từ “rất trau nghề”. “Chải chuốt” chuyên môn đến từng bài văn, ý thơ, con chữ lẫn tỉ mẫn tìm tòi thể nghiệm dạng/ cách những bài toán phát triển và đột phá tư duy cho phong phú và hiệu quả tuyệt vời những trang giáo án của mình… Chúng tôi “đã phải” thử thách có khi “khó” hơn ít nhiều so với chương trình vì những đề bài số/ hình học sơ cấp tiểu học do cô tuyển lựa. Tất nhiên, cô luôn cân nhắc và phân hóa các đối tượng học sinh theo định hướng từ sở/ bộ. Chúng tôi thuộc thành phần chất lượng mũi nhọn nên luôn được áp dụng “cương dục” bằng các khối lượng kiến thức có “trọng lượng” hơn. Giáo dục hiện đại có thể “hồ nghi” về vai trò của những “nan đề” trong phát triển con người, nhưng đối với góc nhìn, thông qua trải nghiệm thực tế những năm tiểu học dưới sự định hướng từ cô giáo Hồng Thúy, với tôi: Sự tồn tại của những điều “nhức khó” hối giục ta phải “chinh phục” cũng là cách để đốt cháy/ khai phá năng lực tiềm tàng đương ngủ say trong mỗi người. Cái mà chúng tôi được học ở đây là sự kiên trì, bền bỉ để tư duy và sáng tạo. Hãy đối diện/ đương đầu với sự toàn cầu hóa và các vấn đề phức tạp của cuộc sống như cách mà ta từng miệt mài tìm ra lời giải đầy thách đố trong toán khó – Yếu nghĩa giáo dục của cô là thế.

Đối với sự học, với kiến thức không có điều chi là “vô dụng” hoặc ít có nghĩa. Mỗi người sẽ có một lối/ cách giải quyết “bế tắc” linh hoạt và hiệu quả từ trí thông minh/ độ tinh nhạy nhờ vào việc hôm nay “cặm cụi đẽo tạc” những “nan đề” trong toán học nói riêng và khoa học nói chung. Tôi là đứa yếu thế so với đội tuyển học sinh giỏi về môn toán, chính vì vậy cô đã “đòi hỏi” ở tôi không ngừng. Và đó cũng chính là cơ hội được hiểu nhiều hơn và thụ đắc tần số rung động về sự tâm huyết của một người thầy cao cả trong những ngày “chủ nhật” đến nhà cô phụ đạo thêm... Tất nhiên cô “không hề/ màng” được tính công. Thực tế, ngày đó giáo dục từ làng – sau lũy tre có những điều chân quý mà bối cảnh bây giờ khó có thể tìm lại. Cô tâm sự: “Ngày xưa cô có sửa phạt, có gắt gao thì hôm nay các trò trở lại ai nấy mới đều vững tâm và kiên quyết. Còn thời nay, trong cô vẫn có nhiều sự “thắc mắc” bởi tư duy cải tiến trong định hướng giáo dục nước nhà. Nhưng có phải thế này chăng, như một nhà hiền triết đã nói: Có ý chí sẽ có con đường…”

Cô giáo tôi là một người “quyết liệt”, như tôi đã kể: “tinh thần thực chiến”. Với cô ít khi “dĩ hòa vi quý”. Hãy sống với niềm tin bất khuất vào sự thật, thẳng thắn như khoa học và không ngại lên tiếng khẳng khái trước công luận để đấu tranh cho sự công bằng. Ngay trong chính lớp học, cô luôn nêu cao tinh thần kỉ luật, sự khắc phạt và yêu cầu thể hiện trách nhiệm cao của học trò trong học tập và báo cáo kết quả học tập bên cạnh những khích lệ, cổ động, ca ngợi...: “Đừng lý do to hơn mục đích”; “Đừng thờ ơ trí tuệ”; “Đừng đình trễ việc học tập”; “Ngày hôm qua đã rồi, ngày mai chưa tới ta chỉ có riêng hôm nay, tại lớp học này để sống trọn vẹn và thật ý nghĩa…” – Lời cô có “ánh thép” vẫn vang vọng trong tôi. Triết lý giáo dục của cô là “tôn trọng các tình huống đối thoại tri thức” – nghiêng hẳn về chính nghĩa và lẽ công bằng. Bài xích sự cẩu thả, lười biếng (từng cái nhãn vỡ của trò cũng phải thể hiện cái nghiêm ngắn, cẩn thận và chấm phá đôi chút “thẩm mỹ” từ bút dạ cho đáng đẹp và đáng trân trọng khi bắt đầu mở trang sách “có lề” dẫu “đã cũ”…). Tôi tin tưởng son sắt vào tinh thần “đối mặt với sự thật” nơi con người cô, luôn góp ý thành thực, cởi mở và không ngần ngại, cả nể như cô từng khí khái: “Cây ngay bóng tròn…” – đám bạn và tôi ghé tai nghe trộm trong một cuộc họp sư phạm năm ấy trùng ngày chúng tôi phải đến trường trực tuần.

Thật nhiều bài học làm người, làm nghề ý nghĩa, nhưng có lẽ bài học lớn nhất mà tôi nhận được nơi con người đó, chăng là “hãy làm bất cứ một nghề gì chân chính bằng cách mình sẽ/ tiên quyết phải trở nên giỏi nhất và hãy đào tạo ra những người giỏi hơn mình trong nghề nghiệp đó”… Là nỗ lực hết mình và giúp đỡ người khác thật chân thành – Ý cô tôi là vậy.

Lần trở về này, tôi đến thăm cô một chiều thứ bảy, trời quê hương cao và rộng lắm, những đám mây giao mùa thở ra không khí mát lạnh, nhuốm đọng, vuốt dịu tịch dương ửng hồng. Đang dở tay chăm sóc, tưới bón mấy cây phong lan ngoài vườn, cô cười cái cười trìu mến đón tiếp tôi ngồi. Bảo tôi chờ hơi lâu vì cô cần tươm tất, chỉn chu chút ít để đón người học trò từng thương quý mà đã lâu mới được dịp hạnh ngộ. Cô tôi vẫn vậy! ngọt ngào và ân cần với những học sinh ngày trở lại (nghiêng về tâm thái nghiêm khắc cương nghị với những học sinh tuổi hoa niên đương cắp sách tới trường). Cô trò chuyện bằng một giọng nói truyền cảm pha chút ngôn ngữ đẹp lạ như cách trò chuyện với một “nhà văn” – Nhà Văn, học trò Tuấn Trần. Tôi luôn sẵn lòng để ngồi thật lâu với cô và tâm thế hân hoan miệt mài nghe kể chuyện cuộc sống và rèn nghề. Trong cái ôn tồn, nhẹ nhàng quen cũ, dường như có cái mới lạ hơn. Cô tâm sự với tôi trên tư cách đang trò chuyện cùng một người trưởng thành - người đã không còn trong trẻo, ngây thơ như trang tuổi hồng mực tím và vì thế không còn dễ dàng bị tổn thương bởi sự đời đắng đót, gai góc và có phần “thời sự” của đời sống và giáo dục hôm nay… Có cảm giác, cô đang nói chuyện với một người trong nghề.

Dịp này tôi trở về thăm, cô đã ở trên một cương vị khác – “xếp nhỏ” (hiệu phó). Tôi có hỏi cô rằng có suy nghĩ về việc thăng tiến nữa chăng! Cô trả lời: “Cô dừng lại ở đó, vì cô thuộc về chuyên môn và muốn sâu sát hơn với vấn đề chuyên môn trong bối cảnh cuộc cải cách mạnh mẽ của giáo dục nước nhà”. Tôi nghĩ rằng chức vị hiện tại cô đảm nhận cũng để phục vụ cho mục đích dạy học của cô, ở một tâm thế khác - hướng dẫn, đồng hành với đội ngũ sư phạm nhà trường để tiếp cận và phát huy mạnh mẽ về mặt kiến thức, kĩ năng, bắt kịp đổi mới… Bởi với cô Hồng Thúy: “Một người giáo viên, một mặt phải có trình độ văn hóa và mặt khác phải trung thực như một tấm gương”.

Khi học trò đánh tiếng chuông đòi nghĩa lý, nhất định chúng phải tìm được lẽ công bằng; giáo dục luôn cần tận tâm, ân cần và thương yêu nhưng khắc phạt cũng là một phần của việc rèn người. Sau tất cả thăng giáng đời - nghề, cô tôi là một người như đã kể trên: “Đối với giáo dục dẫu phụ cấp bèo bọt chừng nào đi nữa tôi vẫn làm” - Quả không “ngoa ngôn” vì ngày đó thế hệ tôi và trước đó chị gái tôi đã từng rèn luyện tinh thần thép trong học tập ngoài giờ lên lớp ở căn nhà gác nơi góc xóm “ngày qua tháng lại” đi hết tuổi học trò chữ to mà chẳng báo đáp được điều chi... Mảnh đất Nam Cát, sự nghiệp giáo dục tiểu học nói riêng nơi xã nhà, nếu cất lời về niềm tự hào thì không thể không nhắc tới đầu tiên về con người đã hi sinh âm thầm chịu nhiều thua thiệt đó – Cô giáo Nguyễn Thị Thúy.

Từ cảm hứng bởi con người đã hết mình vì sự nghiệp trồng người trăm năm – Cô dạy rằng trồng người là trăm năm, lâu lắm, không thể nào gặt hái “ăn ngay”. Tôi đã trở nên kiên trì hơn, bình tĩnh hơn, và nghiệm sinh sâu sắc, thấm lắng “bản chất” của nghề nghiệp mình: “Phấn là vôi mà vôi thì bạc”. Nhưng cái bạc đó nằm ngoài bạc tình, bạc nghĩa. Sự chân tín tận hiến cho nghề nghiệp đã cho cô tôi có được ngày hôm nay - nhận được niềm tôn kính lớn lao của cả một vùng đất giàu chữ nghĩa. Bao thế hệ học sinh đã lớn lên, đi ra, thành tài và lập nghiệp dưới bàn tay dìu nâng của những cô giáo sau lũy tre làng thanh bình, yên ả.

Và có lẽ, bây giờ, tôi chỉ muốn/ biết nói: “CẢM ƠN!”. Cảm ơn cô giáo Hồng Thúy, vì tất cả, tình nghĩa, tri âm và sự thấu hiểu. Cảm ơn đã đến với thông điệp ngàn năm trang trọng và diễm lệ: “Giáo dục bắt nguồn từ tình thương, chỉ có tình thương mới cảm hóa được con người”.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm
Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị
Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Xem thêm
Tết này các anh đã về mái nhà chung
Sau gần 60 năm thân phận còn chìm trong bóng tối lịch sử vì những đặc thù khốc liệt của chiến trường đô thị, 49 chiến sĩ Biệt động Sài Gòn quả cảm năm xưa nay đã chính thức được công nhận là Liệt sĩ.
Xem thêm
Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời
65 bài thơ ứng với 65 mùa xuân đời người, mang dáng dấp của một sự sắp đặt có chủ ý giữa nghệ thuật và đời sống. Tập thơ “Đồng vọng” của Ngô Hoài Chung vì thế vừa là một ấn phẩm kỉ niệm, vừa là một hành trình tinh thần được chưng cất cẩn trọng từ những trải nghiệm dày dặn của một đời người.
Xem thêm
Thèm sách - Bút ký của nhà thơ Thanh Thảo
Những gì mỗi quyển sách đem lại cho ta, chính ta cũng không biết hết, nhớ hết. Nhưng chắc chắn là có. Và cái có ấy, cái được ấy, sẽ còn lại trong ta cho đến cuối cuộc đời.
Xem thêm
Xuân tha hương..
Bao năm sống nơi xứ người, tóc đã thay màu, đôi chân mòn mõi theo từng bước đường lập nghiệp, trái tim kẻ tha hương vẫn quay quắt hướng về mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Giữa nhịp sống ồn ã của trời Tây, nhiều lúc tôi thấy lòng mình chùng xuống, như ai đó vừa gọi khẽ tên mình từ bờ sông tuổi thơ xa lắc.
Xem thêm
Vó ngựa vùng quê - Bút ký Nguyễn Sự
Cù lao Thới Sơn, phường Thới Sơn (tỉnh Đồng Tháp) được khai thác du lịch từ năm 1988. Do đặc thù vùng sông nước, miệt vườn cho nên doanh nghiệp đã liên kết hộ nhà vườn để đầu tư khai thác du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng với nhiều sản phẩm đặc trưng. Đặc biệt, du khách đến đây được đi xe ngựa len lỏi vào các tuyến đường nông thôn, vườn cây ăn trái.
Xem thêm
Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch
Mùa đông về bất chợt, từng làn gió bấc mang theo hơi lạnh luồn vào các hang cùng ngõ hẻm của từng xóm phố. Bầu trời hôm nay phủ kín một màu xám bạc, những chiếc lá vàng cuối cùng còn sót lại trên cành cây đang đung đưa lần cuối trước khi rơi xuống đất, để chờ một mùa mới hồi sinh.
Xem thêm
Những người yêu rùa biển
Bài đăng Văn nghệ TPHCM số Xuân Bính Ngọ 2026
Xem thêm
Nhớ quê trong gió bấc mưa phùn - Tạp bút Nguyễn Gia Long
Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Bắc nước ta, nơi có những tháng mùa đông đi qua đầy khắc nghiệt, với mưa phùn, gió bấc và cái lạnh tái tê như muốn cắt da thịt, nên tuổi thơ tôi có biết bao nhiêu những kỷ niệm với mùa đông và miền quê thân thương ấy. Đó là những buổi ra đồng nhổ mạ, cấy lúa cùng mẹ vào dịp cuối năm, mặc dù thời tiết lạnh căm căm. Đó là những buổi chiều lùa trâu ra đồng chăn thả, kệ cho những cơn gió hun hút tràn về. Hay như những hôm trời u ám với gió bấc, mưa phùn giăng đầy trời vậy mà mẹ vẫn bắt mấy anh chị em chúng tôi ra đồng để kiếm rau mang về nấu cám cho lợn ăn. Rồi nữa, có không ít những chiều đông rét mướt, tôi vẫn cùng những đứa trẻ cùng trang lứa trong xóm ra đồng be bờ tát mương, bắt cua, cá, tôm, ốc…, mang về cải thiện cho bữa cơm sinh hoạt gia đình thêm phần tươm tất.
Xem thêm
Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn
Bài đăng Tạp chí Sông Lam Online
Xem thêm
Ao làng tháng Chạp trong ký ức tuổi thơ tôi - Tản văn Nguyễn Thúy Uyên
Nơi tôi sinh ra là một làng quê ven thành phố và dẫu nơi đây đã, đang trong đà đô thị hoá mạnh mẽ nhưng vẫn còn sót lại một số ao, hồ. Với người dân quê tôi nói riêng cũng như hết thảy những làng quê Việt Nam nói chung, thì có lẽ hình ảnh cái ao làng luôn gần gũi, rất thân thương, bởi lẽ những cái ao là nơi cung cấp nước tưới cho cây cối trong vườn nhà; ao là nơi thoát nước trong những ngày mưa triền miên; và ao cũng là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cá, tôm, cua, ốc… cho con người, cũng như làm nơi thả bèo dùng cho việc chăn nuôi gia cầm gia súc.... Đối với trẻ thơ chúng tôi ngày thơ bé, thì ao làng còn là nơi tắm mát “giải nhiệt”, vui chơi đùa nghịch trong những buổi trưa hè oi ả, nóng bức…
Xem thêm