TIN TỨC

Thấy gì qua một chùm thơ Tết?

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-05-15 10:38:40
mail facebook google pos stwis
1858 lượt xem

CHÙM THƠ TẾT CỦA NGUYÊN HÙNG

LÊ THANH HUỆ

Số xuân, các báo và tạp chí đặt bài cho các nhà thơ nổi tiếng để dùng thi ca tô vẽ cho trang báo, nhằm cân bằng với nội dung đã chuẩn bị từ lâu do đó ít đi tính thời sự…

Năm nay, Người Lao động Xuân Giáp Thìn 2024; Tạp chí Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Xuân Giáp Thìn 2024; Tạp chí Shipping Times Xuân 2024… đăng một số bài thơ của tác giả Nguyên Hùng; khi gộp lại, ta có dòng thời gian được tác giả nén lại tạo hiệu ứng, cống hiến cho độc giả một mùa xuân mang sắc mầu siêu thực, quá khứ, hiện tại hòa vào nhau vẫn giữ được miền sinh thái đậm tình người Việt Nam…

***

NGỌT NGÀO THÁNG HAI
 

Tháng hai đầy ắp màu xuân

dâng tràn bầu mật tình nhân ngọt ngào

vườn xuân rạng rỡ mai đào

em ngồi em đứng xôn xao lá cành

 

Tháng hai tâm sáng lòng thành

ta đi cầu phúc cầu lành cầu may

cầu em xinh đẹp mỗi ngày

mãi là gió sớm nắng mai dịu dàng

 

Tháng hai dắt díu về làng

hương hoa thưa mẹ, khói nhang ngậm ngùi

cầu xin lòng mẹ luôn vui

để con mãi được bên người con thương.


Bài đăng Người Lao động Xuân Giáp Thìn 2024

Khởi đầu bài thơ là thiên nhiên giao hòa: “Tháng hai đầy ắp màu xuân”. Trong đó có mùa của tình yêu “dâng tràn bầu mật tình nhân ngọt ngào” có “mai đào” làm rạng rỡ vườn xuân và có nhân vật em: “em ngồi, em đứng” đều tạo ra hiệu ứng “xôn xao lá cành”. Nếu đối chiếu với từ “Màu xuân”, thì có vẽ đây như là màu thời gian của quá khứ nên nhuốm mầu hư ảo được tạo ra trong tâm tưởng con người trong hiện tại…

Đi tiếp mạch nguồn của quá khứ là tháng hai của tâm linh: “Tháng hai tâm sáng lòng thành”.

Lập luận: Tết âm lịch vào tháng giêng, là lúc người Việt về quê đón tết. Tuy nhiên các lễ hội tâm linh tháng nào cũng có... Vậy tháng hai là từ đại diện, khi vào tâm trí người đọc sẽ thành tháng 3, tháng tư... ứng với hoàn cảnh câu thơ vận vào theo nghĩa "tâm sáng lòng thành". Theo quy luật về mối liên hệ giữa tư duy những lúc con người có suy nghĩ, cảm nhận trong sáng sẽ đúng đắn hơn do đó mang lại sự hòa hợp với thiên nhiên, con người xung quanh. Từ đó, được hồi đáp để có sự thanh thản yên bình chứ bản thân tâm sáng mà có người đập thẳng vào mặt mình thì lòng nổi loạn. Đó là khám phá của nhà khoa học về mối liên hệ tư duy với tình cảm: tâm sáng – lòng (mới) thành (tâm). Quy luật đó được thi sỹ diễn giải bằng ngôn từ dân giả...

Tháng hai có nhiều lễ hội để “đi cầu phúc cầu lành cầu may”. Nhưng khi đặt cuối khổ thơ, lại có “em” trong đi cầu: “cầu em xinh đẹp mỗi ngày / mãi là gió sớm nắng mai dịu dàng”.

Em vừa là gió sớm, em cũng là nắng mai trong khung cảnh tâm linh như là hình bóng không thay đổi và bay trong không gian của nhớ thương thuộc miền ký ức. Khổ thơ cuối bắt đầu từ bóng dáng người mẹ đã mất đang ở giữa quê hương:

“Tháng hai dắt díu về làng/ Hương hoa thưa mẹnhưng “khói nhang ngậm ngùi” có cho riêng mẹ không?!...

Thường thì người Việt Nam cầu mẹ ngậm cười nơi suối vàng “cầu xin lòng mẹ luôn vui” và đáng lẽ cầu mẹ phù hộ cho con cháu; nhưng câu kết của bài thơ lại cầu khác thông lệ: “để con mãi được bên người con thương”. Vậy thì em ở đây đang ở bên mẹ và hầu hạ mẹ nơi suối vàng nên mới có việc cầu xin mẹ như thế.

Thoảng trong màu sắc của mùa xuân, không khí tâm linh tỏa ra muôn nơi và nén hương thắp ở nghĩa địa quê nhà là hình bóng người vợ hiền đã đi xa, lung linh, ảo diệu và tâm nguyện của người lớn tuổi muốn đoàn tụ nơi cỏi vĩnh hằng, lời thì thầm nhắn gửi của lòng thủy chung…

Chúng ta rưng rưng khi con chữ của bài thơ khép lại mùa xuân thực để bắt đầu một mùa xuân ảo của vĩnh hằng, nơi mọi người sẽ được gặp lại nhau sau hàng chục năm xa cách; vẫn không nguôi nhớ, không nhạt thương; dù đi giữa cuộc đời ồn ào bon chen, không còn có chỗ an toàn trong âm dương cách biệt…

Nó cũng giống như giả sử chúng ta đi trước nhà thơ và ai đó tập hợp, chắt lọc lại các lời bình của tất cả chúng ta trên mạng internet về các bài thơ của Nhà thơ Nguyên Hùng, nó sẽ là làn sương khói đưa con chữ về với chúng ta ở miền quên lãng và phần thực sẽ còn lại ở trên đời “như gió sớm, nắng mai” tạo thành hai đường thẳng song song gặp nhau ở đường chân trời siêu thực, chân trời có tên uống nước nhớ nguồn, nhớ tổ tiên, mẹ cha, người thân đã mất, sự thủy chung vô bến bờ…
 

QUA CẦU MỸ THUẬN
 

Đất xưa dậy sóng Rạch Gầm

Người xưa có Nguyễn Hữu Huân dẫn đầu

Người nay nối những nhịp cầu

Đất không thể hóa con tàu ngủ yên!

 

Dưới chân sóng sánh sông Tiền

Nhớ ngày rồng rắn đợi phiên qua phà

Tìm người, người vẫn vời xa

Qua cầu Mỹ Thuận, sóng va lòng mình!
 

Đọc 2 câu kết:

"Tìm người, người vẫn vời xa

Qua cầu Mỹ Thuận, sóng va lòng mình!"

Sau đó đọc ngược lại 2 câu thơ đầu khổ cuối:

“Dưới chân sóng sánh sông Tiền

Nhớ ngày rồng rắn đợi phiên qua phà”.

Ta chú ý khoảng cách (không gian) hai bờ sông Tiền Giang ở vị trí cầu Mỹ Thuận và bến phà năm xưa (ở gần đó) vẫn không thay đổi. Tuy nhiên để đạt vận tốc cao hơn cho phương tiện giao thông, con đường phải uốn lượn hình sinh theo phương đứng nên dài hơn con đường của chuyến phà.

Bến phà không dùng vẫn còn được bảo vệ phòng khi thiên tai địch họa làm hỏng cầu. Chỉ là thời gian ngắn lại khi qua sông và theo đó nó uốn cong cây cầu lên cao phía bầu trời để ngắn lại hành trình về mặt thời gian, nhưng theo con đường phải đi qua lại dài hơn. Kết quả là có thêm sự chia xa lòng người khi so sánh họ phải qua sông bằng phà; bên nhau râm ran chuyện trò cùng những người bán hàng rông.

Đó không chỉ là tâm trạng của nhà thơ, mà cũng là cảnh báo về quy luật muôn thưỡ: được cái này, sẽ phải mất cái kia, hay còn gọi là quy luật đánh đổi. Bài thơ còn chỉ ra cho đến nay, loài người chưa khắc phục được mặt trái của phát triển.
 

KHI XA EM

Anh về quê tiễn đưa năm

Để em ở lại xa xăm cuối trời

Bay qua ngàn dặm rối bời

Cõng theo chút nắng, đánh rơi lúc nào

Chỉ còn nỗi nhớ cồn cào

Ngấm vào đêm thức, lặn vào ngày mơ

Hóa thành tiếng pháo giao thừa

Hòa cùng tiếng sóng vỗ bờ gọi em.
 

Bài thơ có 2 chiều thời gian cùng tồn tại với nhau trong tâm tưởng tác giả.

Bắt đầu là câu thơ tả thực về quê ăn tết: “Anh về quê tiễn đưa năm”. Và do không đi cùng vợ nên “Để em ở lại xa xăm cuối trời”. Có vẻ như là nơi ở của vợ rất xa quê nên chuyến đi “Bay qua ngàn dặm” trong tâm “rối bời”. Tuy nhiên “Cõng theo chút nắng, đánh rơi lúc nào” là việc không thể làm được khi di chuyển trong không gian thực, thời gian thực bằng bất cứ phương tiện nào. “Chỉ còn nỗi nhớ cồn cào” nhưng nỗi nhớ đó không theo tâm trạng bình thường; nỗi nhớ theo quy luật: “Ngấm vào đêm thức, lặn vào ngày mơ”.

Theo tính ngưỡng dân gian, đêm của cỏi âm là ngày của chúng ta, do đó “đêm thức”. Và đêm của họ lại là “ngày mơ”. “Hóa thành tiếng pháo giao thừa”… Đọc đến đây, chúng ta biết chuyến đi của quá khứ xa xăm, khi tết đến còn được phép đốt pháo. “Hòa cùng tiếng sóng vỗ bờ gọi em”. Vậy “gọi em” ở đây là gọi em ở cỏi âm.

Chuyến du hành của nhà thơ Nguyên Hùng đi về quá khứ và rơi vào cỏi âm nơi người vợ, những người thân vẫn ngày đêm nghe tiếng sóng vỗ bờ ru giấc ngủ ngàn thu. Đây là bài thơ có phần nổi là người chồng về quê và mang theo nỗi nhớ vợ mênh mang. Phần siêu thực, sẽ do độc giả cảm nhận và vẽ ra cho mình. Bởi lẽ câu thơ hay không bao giờ đơn nghĩa, bài thơ hay không chỉ có một chủ đề... Câu từ sẽ làm nên cảm nhận và tình cảm của độc giả với khung cảnh, âm thanh, hành động được độc giả vẽ ra cảm nhận riêng có trong tâm khảm nơi bài thơ lưu trú vào...
 

XIN LÀM MỘT BÓNG CÂY
 

 Xuân đã tới kìa, én liệng bay

Đất trời lãng đãng gió mây say

Người về với biển hồn xanh biếc

Em đến bên ta má đỏ hây

Nỗi nhớ xô bờ bao chất chứa

Niềm thương dâng sóng bấy đong đầy

Đan tay dang rộng nên vòm lá

Xin tặng cuộc đời một bóng cây.

 

Bài thơ có nhiều câu thơ siêu thực đan xen thực tế mùa xuân đã về:

Xuân đã tới kìa, én liệng bay

Đất trời lãng đãng gió mây say”.

Trong bầu không khí xuân, tác giả hồi tưởng:

Người về với biển hồn xanh biếc”

Cớ sự vì đâu biển nỗi sóng: “Nỗi nhớ xô bờ bao chất chứa”? Có vẽ khi hồi tưởng quá khứ, tác giả không quên mang hạnh phúc hiện tại gắn vào quá khứ buồn: “Em đến bên ta má đỏ hây”. Do đó mà tình cảm trở nên bất định trong dòng thời gian thực: “Niềm thương dâng sóng bấy đong đầy”.

Cách xữ lý tốt nhất là 3 con người, một đại diện cho quá khứ, một cho hiện tại và một (là tác giả bài thơ) tự đưa mình vào vị trí đứng chông chênh giữa 2 mãng thời gian chạy song song nhưng chắc chắn không gặp nhau hoặc như định lý các đường thẳng song song, sẽ gặp nhau ở vô cùng. Nhưng tác giả cho rằng tất cả hãy vì cuộc sống hiện tại và tương lai nên cùng nhau:

“Đan tay dang rộng nên vòm lá

Xin tặng cuộc đời một bóng cây”.

Đến đây, độc giả cảm nhận được cây thời gian mọc ở bờ tâm tưởng được sóng biển nâng niu do đó tất cả luôn hiện hữu trong thơ Nguyên Hùng.
 

ƯỚC GÌ NÍU LẠI NGÀY QUA

(Họa “Cánh chim xa”)
 

Nửa đời neo đậu bến sông xa

Thuyền phủ xanh rêu, lởm chởm hà (*)

Tết đến càng thương mành lưới mẹ

Xuân về thêm nhớ cánh buồm cha

Mong đền ơn mẹ, chiều đang nhạt

Muốn đáp nghĩa cha, nắng đã tà

Tóc bạc trắng đầu còn trẻ dại

Ước gì níu lại tháng ngày qua!

 

Đọc lại bài thơ: “Cánh chim xa” của Hồ Hoàng Tạo, cho thấy chẳng có sự liên quan giữa 2 bài thơ cùng viết về xuân xa xứ ở cách xa nhau về thời gian sinh 2 bài thơ, khác nhau về bút pháp.

Hãy so sánh câu kết thơ Nguyên Hùng: “Ước gì níu lại tháng ngày qua!” cho thấy thời gian của cả cuộc đời dồn nén lại. Dồn nén đến mức “Thuyền phủ xanh rêu, lởm chởm hà” - con hà là sinh vật sống bám vào vỏ thuyền, không bao giờ chuyển động nên gần như hóa đá, như cuộc sống ngưng đọng lại do kết quả thời gian bị níu giữ, nén chặt đến mức mọi thứ đang sống đang hoạt động trở nên bất động. Từ đó, lòng yêu thương biết ơn cha mẹ mới có điều kiện nâng lên gần như đạt mức sẽ chia (như cách thường thấy trong hiện tại với các mạng xã hội) cho 2 lớp người xa cách về thời gian, không cùng sống trong một không gian, vào thời điểm người con đã bạc đầu.

Và câu kết thơ Hồ Hoàng Tạo “Ta còn biền biệt cánh chim xa” là câu thơ tả thực; đủ thấy tuy cũng là bài thơ hay nhưng không phải là nền để bài thơ Nguyên Hùng làm điểm tựa, gọi là họa lại.

Độc giả hãy làm phép toán đơn thuần như sau:

Bài thơ “Cánh chim xa” gọi là A.

Bài thơ: “Ước gì níu lại ngày qua” gọi là B.

Nếu dùng công cụ toán học phổ thông để so sánh chất lượng, thi pháp… ta có một kết quả trong 3 trường hợp sau:

A > B.

A = B.

A < B.

Vì mỗi bài thơ sinh ra ở một thời và hay một kiểu, có đóng góp cho thi ca theo cách khác nhau nên không ứng với một trong 3 mệnh đề trên.

Lối tư duy trắng và đen, mang tai họa khi áp dụng vào thi ca; tuy nhiên, cách làm trên lại đúng với các bài thơ không phải là thơ. Với các bài thơ đúng niêm luật và hay, thường có hơn một trường hợp ứng với nó.

Do đó khi ghép 2 bài thơ vào cạnh nhau cho thấy bài thơ họa thường chỉ gần giống nhau về vần điệu âm hưởng nhưng có sự khác biệt về nội dung, thi pháp.

Bài thơ làm rõ quy luật: theo thời gian, tuổi người con tiệm cận với tuổi mẹ cha, sự đồng cảm tăng lên và lúc đó nghĩ suy gần lại bất kể trình độ học vấn và thời đại họ trưởng thành, sinh sống khác nhau. Từ đó tình yêu cha mẹ lớn dần lên, làm nảy sinh cảm giác mình đã làm chưa đủ cho mẹ cha để trả hiếu nghĩa trong khi cha mẹ không còn. Cuối cùng là cảm thức về thời gian cho thấy mình cũng đang dần đi ngược về phía mẹ cha và mong gặp lại sau điểm đến cuối cùng.
 


Đoàn VNS Thành phố Hồ Chí Minh trong chuyến về nguồn đến Côn Đảo, 9-11 tháng 9 năm 2024.


CHUNG MỘT LỜI HỨA
 

Một chuyến về nguồn chan đầy cảm xúc

Bởi tình thân không phân biệt trẻ già

Trăm con tim ngập tràn hạnh phúc

Khi bên nhau hòa nhịp hát ca.

 

Đến Côn Sơn ta thêm yêu Tổ quốc

Càng thấm ơn thiêng bao thế hệ cha anh

Không tiếc máu xương giữ gìn hồn Nước

Để giang sơn liền một dải yên bình.

 

Nơi nghĩa trang Hàng Dương bạt ngàn bia mộ

Nén nhang thơm không đủ tỏa hương trầm

Cúi đầu xin anh linh tiền nhân lượng thứ

Chuyến thăm này chưa đủ để tri ân…

 

Ta nắm tay nhau bên tượng đài bất tử

Dưới tán lê-ki-ma, chị Sáu chợt mỉm cười

Trăm lòng thành chung một lời thầm hứa:

“Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi!”

 (Tạp chí Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Xuân Giáp Thìn 2024).
 

Khổ đầu của bài thơ tả thực hành trình về nguồn của các thế hệ văn nghệ sỹ Sài Gòn. Không khí của đoàn:

“Trăm con tim ngập tràn hạnh phúc

Khi bên nhau hòa nhịp hát ca”.

 Khổ thơ thứ hai tả thực đoàn “Đến Côn Sơn” là đảo lớn nhất trong quần đảo Côn Đảo, cũng là tên cũ của quần đảo nơi có địa ngục trần gian giam giữ các chiến sỹ cách mạng và đa số họ đã thành liệt sỹ.

Hai khổ thơ cuối cùng là tâm điểm nghĩa trang Hàng Dương. Sau hai khổ thơ tả thực, lại tiếp câu thơ tả thực thứ 9: “Nơi nghĩa trang Hàng Dương bạt ngàn bia mộ”. Do đó, dù có thắp bao nhiêu nhang cũng không đủ cho phần mộ thấy được và những mảnh xương cốt bị bão cát, các dòng nước mưa cuốn mất rồi.

Nén nhang thơm không đủ tỏa hương trầm”.

Người đi viếng nghĩa trang Hàng Dương rất đông và không phải tất cả mọi người cùng đến thắp hương với mục đích như nhau. Đa số thắp hương để tỏ lòng biết ơn các liệt sỹ. Có người thắp cho người thân có mộ.

Cho đến hiện nay, chưa có một đại dự án tìm kiếm tất cả các mảnh xương và xét nghiệm ADN tạo thành kho dữ liệu khổng lồ phục vụ việc truy tìm đa số liệt sỹ và trả lại tên cho họ. Theo năm tháng ADN trong xương cốt sẽ bị biến chất khiến tất cả trở về với tự nhiên, không còn khả năng xác định danh tính các liệt sỹ. Nó đòi hỏi sự đóng góp của toàn dân dưới sự tổ chức của Nhà nước ta. Do đó, đa số đến thắp hương cho mộ gió của người thân của mình.

Có một số ít người đến bên mộ chị Võ Thị Sáu, thắp hương để cầu khấn linh hồn chị phù hộ cho công cuộc làm ăn thành công, hoặc được bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn. Vài người thắp hương theo mọi người và họ chẳng mảy may nghĩ gì.

Nó là một xã hội thu hẹp của xã hội lớn trải qua nhiều năm tháng, thăng trầm. Và trong đó, có những lời cầu xin rất thực tế về những ước muốn nhỏ nhoi khiến các liệt sỹ mệt mỏi đau lòng.

Nhưng mọi thứ sáng lên khi có một thi sỹ, một nhà khoa học đến thắp hương và bằng sự hồn nhiên thay mặt tất cả mọi người: “Trăm lòng thành, chung một lời thầm hứa:” Hứa gì?!. Câu thơ kết lại lời hứa rõ ràng: “Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi”.

Đó là dự cảm tuyệt vời của thi sỹ và là nhà khoa học về người Việt luôn đoàn kết sát cánh cùng nhau; sẳn sàng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh khi ngoại xâm tiến vào bờ cỏi, xâm lược giang sơn. Để Tổ quốc còn, chúng ta còn, con cháu còn và tương lai tươi sáng. Đó chính là thắp nén tâm nhang mà các liệt sỹ rất mong chờ.

***

Thơ của Nguyên Hùng chỉnh về vần điệu, đẹp về hình ảnh, sống động âm thanh và chan chứa tình cảm quê hương của người con xa xứ, tình yêu thiên nhiên, cuộc đời nên có hàng chục ca khúc dùng làm ca từ.

Nhưng do Nguyên Hùng là tiến sỹ khoa học kỹ thuật nên thơ ông có mạch ngầm của khoa học thấm vào trong và nếu chịu khó liên tưởng, so sánh, suy nghĩ những gì con chữ gợi ra, chúng ta thấy một thế giới hòa hợp giữa văn chương và khoa học như là một thực thể sống, là cống hiến rất riêng của nhà thơ mang học hàm tiến sỹ khoa học.

Thơ Nguyên Hùng có nhiều bài mang hình hài siêu thực đã sáng tạo ra một cỏi tâm linh nhuốm nỗi buồn đẹp lung linh chỉ có ở quê hương nơi những con người bình dị đi vào cỏi hư vô để trở thành bất tử nên chỉ có thể dùng cảm nhận để đọc, nhận biết./.

Ghi chú: Hà hay hà biển là một loại động vật chân khớp đặc biệt (do chân đã tiêu biến), có họ hàng với cua và tôm hùm. Hà chỉ sống ở vùng nước mặn, thường là vùng nước nông và thủy triều. Hà là loài sống bám trên các vách đá, vỏ tầu gỗ, sắt, bê tông bến cảng… không di chuyển trong suốt cuộc đời.


Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm